Tai nạn lao động trong thi công xây dựng ở Hà Nội thực trạng và giải pháp giảm thiểu
Kết quả điều tra an toàn lao động tại các công trường XD vừa và nhỏ của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (LĐ-TBXH) cho thấy 84% người lao động trên các công trình là lao động nông nhàn. Trong đó, trên 90% chưa qua huấn luyện an toàn lao động (ATLĐ) (hanoinet ngày 6 - 12 - 2007). Mỗi năm, cả nước xảy ra hàng ngàn vụ tai nạn lao động (TNLĐ), làm khoảng 500 người chết. Con số này đang tăng lên hàng năm với nhiều vụ đặc biệt nghiêm trọng. Theo thống kê của Cục ATLĐ (Bộ LĐ - TBXH), trong 6 tháng đầu năm 2007 đã có 2992 vụ TNLĐ, làm 3057 người bị tai nạn, trong đó có 457 người bị thương nặng và 224 người chết, tăng 42% về số vụ và 39% về số người bị tai nạn so với cùng kỳ 2006. Tuy nhiên các báo cáo và con số thống kê chỉ chiếm một phần sự thật. Con số thực tế vượt xa hàng chục lần. Chỉ riêng 2 bệnh viện Việt Đức và Xanh – Pôn, mỗi ngày tiếp nhận 5 - 7 ca cấp cứu người bị TNLĐ, phần lớn là công nhân xây dựng. 6 tháng đầu năm 2008, Hà Nội đứng thứ 7 trong cả nước về TNLĐ chết người, xảy ra nhiều nhất ở ngành XD, trong đó do ngã từ trên cao là chủ yếu, chiếm 61%.
Có hàng trăm lý do mà chủ thầu XD nghĩ ra để che dấu bất cẩn, vi phạm quy trình của họ trong quá trình thi công công trình. Khi tai nạn xảy ra, nhà thầu thương lượng với gia đình nạn nhân, và vụ việc được giải quyết “ổn thoả” giữa đôi bên. Đối với LĐ nhập cư ngoài tỉnh, LĐ thời vụ có trình độ thấp, thiếu hiểu biết về Luật LĐ và ATLĐ, nhà thầu thường ít quan tâm hơn. Do vậy, nếu để xảy ra TNLĐ thì chỉ có người LĐ và gia đình họ là chịu thiệt.
Người Việt Nam vốn thông minh, tháo vát, có lẽ nhờ thế mà trong XD, người ta nghĩ ra vô vàn giải pháp thi công… không giống ai, để giản tiện thao tác, để rút ngắn quy trình thi công và đương nhiên, để tiết kiệm chi phí. Trong XD dân dụng ở thành thị hiện nay, những ngôi nhà ngày càng nâng cao, ngõ ngách bị lấn chiếm, không gian thi công ngày càng thu hẹp, trong khi phương pháp và trang bị thi công lại cực kỳ thô sơ và tuỳ tiện. Đây là nguyên nhân căn bản trực tiếp gây ra tai nạn LĐ. Tại các công trình lớn do các Cty XD có uy tín đảm nhiệm, tình hình cũng không khá hơn là bao. Việc trang bị bảo hộ và công tác đảm bảo an toàn lao động của các công ty này cũng khá ẩu thả, chủ yếu làm lấy lệ, qua mắt được sự kiểm tra của bên A là xong. Thực chất, trên 80% lao động của các công ty lớn cũng là các tốp thợ tự do được thuê khoán theo thời vụ. Trong các bản hợp đồng nhân công đều ghi một điều về khoản an toàn lao động, trong đó nêu rõ: bên B - đúng ra là “B phẩy”, trưởng các tốp thợ này - phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về các tai nạn lao động nếu có xảy ra.
Tình huống tai nạn hàng ngày tại các công trình đang thi công là vô cùng đa dạng. Chỉ có thể tổng kết chúng trong một số nhóm nguyên nhân chính như sau:
1. Nguy cơ lớn nhất gây ra tai nạn lao động đến từ sự tuỳ tiện, cẩu thả trong gia cố sàn thao tác nói riêng và hệ thống chống đỡ nói chung
Hậu quả trực tiếp và rõ rệt nhất của tình trạng này là sập giàn giáo khi đang thi công: đây là nguyên nhân chính dẫn đến hàng loạt vụ tai nạn ở nhiều nơi. Theo thống kê của Bộ LĐ - BTXH, tai nạn ngã từ trên cao chiếm tới 61% tổng số vụ tai nạn trong ngành xây dựng 6 tháng đầu năm 2008.
Hệ thống giàn giáo được các chủ thầu tư nhân bắc theo kinh nghiệm, không có các điều kiện an toàn tối thiểu. Đặc biệt là giàn giáo để trát tường ngoài nhà, khi không mượn được mặt bằng từ đất hàng xóm thì hệ thống chống đỡ của giàn giáo chỉ đơn giản là… treo gá tạm bợ vào các lỗ tường. Gỗ làm giàn giáo là cốt pha và cây chống có cường độ thấp (như keo, bạch đàn) có khi đã mục ải mà không được kiểm tra cẩn thận. Vụ sập giàn giáo tháng 2 năm 2008 tại căn nhà 6 tầng số 102 ngõ 389 Nguyễn Phong Sắc là thí dụ điển hình. Giàn giáo gỗ bị gãy, kéo theo tấm tường và bê tông đổ sập xuống nhà bên cạnh, trong khi thợ không có bất kỳ một thiết bị bảo hộ cá nhân nào: không mũ bảo hiểm, không dây an tòan, không có rào đỡ và lưới bảo vệ… Ngoài ra, tai nạn với giàn giáo còn xuất phát từ vô vàn lý do khác: thợ bị trượt ngã do mưa, nước làm trơn sàn thao tác, do bất cẩn đứng vào mép cốt pha; gỗ cốt pha bị mục ải; thiếu cây chống, sàn bị bập bênh…
Ngay cả các công trường thi công do các nhà thầu có uy tín đảm nhiệm cũng không thiếu những sự cẩu thả, tắc trách tương tự như trên. Trước mỗi giai đoạn thi công: rải thép, đổ bê tông trần mái, trát tường ở tầng cao… đều có cán bộ an tòan của bên A kiểm tra hiện trường. Tuy nhiên, đa số các cuộc kiểm tra này đều không thể và không đủ giúp người thợ tránh được những tai nạn xảy ra sau đó. Để tiết kiệm chi phí, để đẩy nhanh tiến độ, cùng với thói quen cẩu thả cố hữu, hầu hết các nhà thầu đều gia cố hệ thống an toàn và trang bị bảo hiểm cho thợ một cách qua quýt làm vì, miễn sao qua mặt được tổ kiểm tra là xong.
Tại công trường XD Bắc Linh Đàm, chúng tôi đã chứng kiến một vụ ngã giáo – giàn giáo bị gãy do khung giáo rỉ mọt đã lâu ngày. Hai thợ rơi xuống từ tầng 3, kéo theo cả tấm lưới bảo vệ được chăng sơ sài bên ngoài. May mắn là họ “hạ cánh” xuống đống cát lớn, chỉ bị thương nhẹ.
2. Nguy cơ thứ hailà sự không tuân thủ quy trình, quy phạm thi công. Như đã nói ở trên, tuyệt đại đa số thợ xây dựng là dân nông thôn, vừa rỗi tay cày, tay cuốc là chuyển sang cầm bay để xây dựng. Các chủ thầu thi công tự do, đa số cũng từ đội ngũ này mà lên. Họ không qua một lớp huấn luyện căn bản nào, không có kiến thức tối thiểu về an toàn lao động. Tất cả đều dựa vào kinh nghiệm thực tế để hành nghề. Đương nhiên, “kinh nghiệm chủ nghĩa” dù có dày dặn đến đâu cũng không đủ làm chuẩn mực cho mọi tình huống, nhất là khi đối mặt với sự đổi mới về vật liệu, sản phẩm và công nghệ thi công.
Có hàng loạt vụ TNLĐ do người sử dụng lao động vi phạm quy trình thi công hoặc các quy định về an toàn lao động; không huấn luyện đầy đủ cho người LĐ (theo thống kê có 47% tổng số vụ TNLĐ chết người xuất phát từ nguyên nhân này). Do người LĐ không chấp hành đúng các quy định an toàn (chiếm 35,5% tổng số vụ TNLĐ chết người).
Những thí dụ điển hình:
![]() |
- Vụ sập vách ngăn thang máy tại 521 Kim Mã, Ngọc Khánh, Ba Đình, Hà Nội làm 2 công nhân thiệt mạng, một người bị thương; do làm sai quy trình thao tác. Công nhân không sử dụng thiết bị bảo hộ cá nhân.
- Các vụ sập nhà đang thi công: nhà 4 tầng 129 H Nguyễn Kiệm, Gò Vấp - TP HCM; nhà ông Cù Ngọc Lệ ở Tân An - Long An; Trung tâm triển lãm Văn hóa - Nghệ thuật VN số 2 Hoa Lư, quận HBT, Hà Nội. Nguyên nhân xảy ra do làm sai quy trình, hoặc dỡ cốt pha khi bê tông chưa đủ ngày đạt mác…
Ngoài ra, những vụ tai nạn do công nhân thiếu kỹ năng thao tác, không thông thạo quy trình vận hành xảy ra hàng ngày hàng giờ khắp mọi nơi. 6 tháng đầu năm 2008, riêng Bệnh viện Việt Đức Hà Nội đã tiếp nhận hàng chục ca tai nạn bởi nhóm lý do trên, thí dụ: bị máy ép nghiền nát chân do dùng chân dẫm đất làm gạch vào máy quá đà; bị cụt ngón tay do sử dụng máy cắt – mài quy trình dẫn đến đá cắt bị vỡ; bị vỡ đầu, gãy xương do đứt tuột dây tời kéo vật liệu; người đi đường bị thương do tường đổ hoặc do thợ xây ném vật liệu từ trên cao xuống; nhiều vụ bị điện giật chết hoặc bị thương do cẩu thả trong quá trình vận hành máy, hở dây nối, bốc vác thép chạm ổ điện…
3. Nguy cơ thứ ba:Một vấn đề phổ biến, luôn được nhắc đến nhưng chưa bao giờ được coi trọng đúng mức - cả từ hai phía: chủ sử dụng LĐ và người LĐ (và vì thế chưa bao giờ được cải thiện) - đó là việc coi nhẹ trang thiết bị bảo hộ cá nhân cho người lao động: mũ bảo hộ, găng tay, kính che mắt, ủng, khẩu trang, đai an tòan… Tưởng chừng nhỏ nhặt, nhưng chính những thứ đó, nếu được trang bị đầy đủ và đúng, có thể giảm được xấp xỉ 50% số vụ tai nạn. Đối với đa số những chủ thầu XD, dường như đây là một khoản xa xỉ hoặc vô ích và họ luôn né tránh khoản chi này.
Còn với người LĐ, dù có trang bị thì nhìn chung họ vẫn không muốn sử dụng, để cho nhẹ người, để chống nóng, để đỡ vướng víu và đơn giản là để… tiện.
Nếu có con số thống kê chính xác thiệt hại vật chất, sức khỏe và tinh thần trong các trường hợp tai nạn xảy ra do thiếu trang bị bảo hộ cá nhân, chắc chắn người ta sẽ thấy rõ: so với chúng, chi phí trang bị các phương tiện này chẳng thấm vào đâu. “Chưa thấy quan tài chưa đổ lệ” - khi đã dính các tai nạn và bệnh nghề nghiệp như: chấn thương sọ não, mù mắt, gãy xương, bại liệt, viêm phổi mãn… chủ sử dụng lao động và người bị nạn nhận ra vấn đề thì đã quá muộn. Gánh nặng hậu quả mà người bị nạn và gia đình họ phải hứng chịu là rất lớn và lâu dài.
Giải pháp? Không có một “cây đũa thần” nào giải cứu thực trạng trên ngay lập tức. Đây là công việc cần phải được thực hiện một cách bền bỉ và dứt khoát, của toàn xã hội, mà chìa khóa của vấn đề trước hết là các chế tài của nhà nước.
Hàng năm, Bộ LĐ - TBXH và các cơ quan chuyên ngành đều có tổng kết đánh giá tình hình tai nạn lao động, đề ra các bệnh pháp khắc phục. chưa có gì thực sự mới mẻ. Những gì đã nói và làm, năm sau tương tự năm trước, và tai nạn lao động nói chung và trong ngành xây dựng nói riêng vẫn cứ tiếp tục đà “tăng trưởng” không gì cản nổi của nó, với số vụ tăng cao và mức độ ngày càng lớn hơn. Vậy thì mấu chốt của vấn đề nằm ở đâu? Ngoài những biện pháp đã nêu trong báo cáo gần đây nhất của Bộ, chúng tôi thấy cần thực hiện thêm các biện pháp sau:
- Thứ nhất,phải quy chuẩn hóa công việc thầu xây dựng, kể cả chủ thầu tư nhân nhỏ, và thực hiện cấp giấy phép thầu xây dựng cho những đủ trình độ quản lý thi công, trong đó có cả kiến thức an toàn lao động. Bước tiếp theo là tăng cường số lượng và cải tiến lề lối làm việc của thanh tra an toàn lao động. Có thể ghép chức năng thanh tra an toàn lao động vào công việc của các đội quy tắc phường và thanh tra xây dựng quận.
- Thứ hai,cần định kỳ đào tạo, huấn luyện miễn phí các kiến thức căn bản về an toàn - bảo hộ lao động, pháp luật lao động và vấn đề bảo hiểm tai nạn cho công nhân xây dựng, đặc biệt là số lượng khổng lồ thợ xây dựng tự do bán chuyên nghiệp. Thợ XD “nông dân” có mặt ở khắp mọi nơi, chia tốp nhỏ, không thể kiểm soát nổi lịch trình lao động của họ. Muốn tập trung huấn luyện, phải có chế tài bắt buộc đối với chủ thầu quản lý thợ.
- Thứ ba,có cơ chế kiểm tra xử lý tiêu chuẩn an tòan đối với trang thiết bị, dụng cụ xây dựng và bảo hộ lao động bán trên thị trường. Việc này cần được coi trọng tương tự như kiểm tra an toàn vệ sinh thực phẩm vậy. Có thể kể ra đây những thí dụ về sản phẩm không đủ điều kiện đảm bảo an toàn đang có mặt trên thị trường:
- Máy hàn 2, 3 pha không có vỏ che chắn cách điện.
- Các loại đá cắt, mài của Trung Quốc không đủ cường độ cơ lý, thường xuyên bị vỡ khi sử dụng.
- Các loại mũ bảo hộ, kính hàn, kính che mắt, dây đai, dây tời… không có xuất xứ, không đủ tiêu chuẩn vệ sinh an toàn đang được bán tràn lan trên thị trường.
Trong chương trình quốc gia về bảo hộ, an toàn, vệ sinh lao động đến năm 2010, phần đầu tiên đã dự báo tình hình tai nạn lao động: nếu không triển khai tích cực các biện pháp phòng ngừa thì đến năm 2010, số vụ tai nạn lao động ở Việt Nam có khả năng lên đến 120.000 - 130.000 vụ, thiệt hại có thể lên đến hàng nghìn tỷ đồng. Hiện tại là 5000 - 6000 vụ mỗi năm. Theo cảnh báo của Liên Hợp Quốc, thiệt hại về TNLĐ và bệnh nghề nghiệp bình quân làm mất 4% GDP.
Nền kinh tế Việt Nam đang có tốc độ tăng trưởng cao. Lĩnh vực xây dựng phát triển mạnh cả về quy mô lẫn chất lượng. Tuy nhiên, việc thực hiện và kiểm soát an tòan lao động nói chung còn rất yếu kém. Tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp cũng theo đó mà ngày càng tăng, có nguy cơ trở thành vấn nạn lớn. Nếu chúng ta không chú trọng đúng mức, không có các biện pháp khẩn cấp ngăn ngừa tình trạng này thì không thể nói đến phồn vinh và an sinh xã hội.









