Sự truyền dạy các tri thức văn hoá dân gian qua lễ hội
Những năm gần đây, vấn đề tri thức dân gian (hay trí tuệ bản địa) được thế giới rất quan tâm.Có thể nói, ở Việt Nam việc giáo dục tri thức bản địa chưa được chính thức đưa vào chương trình giáo dục phổ thông như ở Thái Lan và một vài nước khác trong khu vực, song trong hiện tại cũng như quá khứ, việc này được cha ông ta tiến hành khá thường xuyên trong đời sống hàng ngày, thông qua ca dao, tục ngữ, chữa bệnh dân gian, các nghi lễ vòng đời, các sinh hoạt dòng họ... và đặc biệt là trong các hội làng của người Việt.
Ở nước ta, gần như làng nào cũng có hội. Bằng vào việc tham gia các lễ hội ấy, người dân có thể thuộc lòng lịch sử của địa phương mình hay của đất nước. Lấy thí dụ một số lễ hội nổi tiếng như:
- Hội đền Hùng ở Phú Thọ: vùng đất tổ của người Việt thờ các Vua Hùng, tương truyền là các vị tổ đầu tiên của lịch sử 4000 năm dựng nước và giữ nước của dân Việt.
- Hội đền Phù Đổng: Ở Gia Lâm và Sóc Sơn thờ Thánh Gióng.
- Hội đền An Dương Vương: Ở Cổ Loa, thờ Thục Phán An Dương Vương người đã xây dựng Loa thành nổi tiếng trong lịch sử.
- Hội đền Hai Bà Trưng: Ở Mê Linh - Vĩnh Phúc, ở Đồng Nhân - Hà Nội, ở Hát Môn - Hà Tây... thờ hai vị nữ anh hùng có công đánh giặc Hán ( đầu Công nguyên).
- Hội đền Phùng Hưng: Ở Triều Khúc - Hà Nội, ở Đường Lâm - Hà Tây thờ Bố Cái đại vương Phùng Hưng thế kỷ thứ 7.
- Hội đền Đinh – Lê: Thờ Đinh Tiên Hoàng và Lê Hoàn, hai vị vua đầu tiên của thời kỳ độc lập tự chủ, thế kỷ thứ 10.
- Hội đền Đô: Thờ các vua nhà Lý. Vào thế kỷ 11 - 12 tại làng Đình Bảng, Bắc Ninh.
- Hội đền Kiếp Bạc: Thờ Trần Hưng Đạo, một vị tướng lừng danh thời Trần.
- Hội đền Thiên Trường: Ở Nam Định thờ các vị vua Trần thế kỷ 13 - 14.
- Lễ hội Lam Kinh: Ở Thanh Hoá thờ Lê Lợi, vị vua đời Lê sơ thế kỷ 15 đã có công đánh đuổi quân xâm lược nhà Minh.
- Các lễ hội ở Huế: Liên quan đến nhà Nguyễn, triều đại quân chủ cuối cùng ở Việt Nam .
- Lễ hội Yên Thế: Ở Bắc Giang thờ vị anh hùng chống Pháp là Hoàng Hoa Thám...
Bên cạnh những lễ hội thờ các vị vua của mỗi triều đại còn có những lễ hội thờ các vị tướng, các vị quan có công với dân với nước ở những thời đó.
Bằng cách tham dự vào các lễ hội này, và qua nội dung, cách tổ chức của các lễ hội truyền thống, người dân bình thường sẽ hiểu được một cách đầy đủ về diễn trình lịch sử của dân.
Trước hết, mỗi lễ hội đều có những di tích riêng của nó. Đó là nơi thờ, là nơi ghi dấu ấn quá khứ của thần. Hàng năm dân làng tập trung tại di tích để mở lễ hội. Những ngày thường, nơi đây cũng là chỗ qua lại của người dân mỗi khi họ có việc cần thiết, như sinh con, làm nhà, đi làm ăn xa, ốm đau, bệnh tật... để cầu xin sự che chở, phù hộ của thần linh.
Những di tích này được người dân coi là chốn thiêng liêng và thường gắn với một sự kiện nào đó cuả vị thần được thờ. Có thể đó là nơi ngài được sinh ra, nơi nghỉ chân trên đường đánh giặc, địa điểm xuất quân, khao quân, là căn cứ, là chiến trận, chỗ đóng đô hoặc nơi tử trận vv và vv....
Kèm theo mỗi vị thần thường có từ một đến nhiều truyền thuyết và những di tích thờ liên quan. Chính những truyền thuyết ấy là những chi tiết trong “kịch bản” của các lễ hội truyền thống. Trong lễ hội, người ta tái hiện lại các sự kiện đó dưới nhiều hình thức, nhiều biểu trưng khác nhau. Ví dụ: Đám rước có thể biểu hiện cho một trận ra quân đánh giặc, một cuộc khải hoàn chiến thắng hay nhắc nhở đến một sự kiện nào đó của vị thần. Một điệu múa cờ tượng trưng cho cuộc chiến đấu gay go, ác liệt. Một trận đấu vật nhằm nhắc lại một sự kiện tuyển chọn tướng tài. Trò cờ lau tập trận nhắc lại sự tích của người anh hùng Đinh Bộ Lĩnh từ thuở thiếu thời v.v...
Nội dung của ngày hội còn có các cuộc tế lễ, mà nghi thức của nó là sự bày tỏ tình cảm, lòng kính trọng, sự biết ơn cũng như ước vọng cầu mong sự giúp đỡ của các vị thần, được coi là những vị đã giúp dân làng trong quá khứ và đang tiếp tục phù trợ họ trong hiện tại. Người ta dâng lên bàn thờ thần những của ngon vật lạ do tự tay họ làm ra: những hoa quả đẹp nhất, ngon nhất, những món ăn, quà bánh, rượu thịt... như vừa để tạ ơn vừa để xin sự che chở. Tế lễ là nghi lễ hết sức quan trọng, vì được coi là sự giao tiếp của người với thần. Do vậy, mọi người đều phải hết sức kính cẩn, trang trọng. Kèm theo lễ còn có nhạc, có chiêng, trống làm cho cuộc tế vừa nghiêm trang vừa cuốn hút. Mặt khác, để bảo đảm sự trang trọng ấy, những người tế cần phải được lựa chọn, phải tập luyện cẩn thận. Cũng tương tự như vậy đối với những người tham gia rước. Đám rước đòi hỏi sự tham gia của nhiều người, song luôn được tổ chức rất chặt chẽ, người nào làm việc gì, ở vị trí nào đều có sự lựa chọn, phân công tỉ mỉ.
Những trò diễn, trò đua tài và cả trò chơi cũng vậy. Bên cạnh sự hấp dẫn của sự thi đua giật giải là những quy định nghiêm ngặt của luật lệ, phong tục và cả thứ bậc nữa, nhất là những trò diễn, trò “chơi” mang tính chất phong tục. Ngoài ra, những trò chơi, văn nghệ hay những cuộc đua tài có tính chất giải trí thì làng nào cũng có và rất phong phú, tuỳ theo điều kiện địa lý, phong tục tập quán của từng nơi.
![]() |
| Lễ hội gò Đống Đa. |
Đó là nội dung tóm tắt của những gì diễn ra đối với một lễ hội ở làng Việt trong quá khứ mà còn tồn tại đến tận ngày nay. Vậy ý nghĩa giáo dục lịch sử và đạo đức (ít ra là như vậy) thể hiện ở đâu trong các lễ hội ấy?
Thứ nhất, năm này qua năm khác, người đi dự hội sẽ được nghe kể về lai lịch của vị thần, lịch sử của di tích và những sự tích xung quanh, ví như đền Hạ, đền Trung, đền Thượng ở hội Đền Hùng, cột đá thề (ở Đền Hùng), Núi Sóc (Đền Gióng), Sòi Bia, đống Đàm (hội đền Phù Đổng), hang Trâu, núi Kiếm (hội đền Đinh - Ninh Bình) v.v... Mỗi đám rước, trò diễn lại có những sự tích riêng về nó. Bằng cách này, lịch sử dân tộc in lại trong đầu mỗi người đi hội thành một hệ thống các sự kiện, các thời kỳ lịch sử của đất nước với những nhân chứng, những sự kiện cụ thể. Dần dần, người này kể cho người kia và tự họ nhớ rất rành rọt truyền thống lịch sử của đất nước từ triều đại này qua triều đại khác. Việc “học” đó diễn ra một cách tự nhiên, dễ hiểu, dễ nhớ mà lại rất sâu sắc. Bởi vì lịch sử ở đây được kể bằng những hình ảnh cụ thể với những địa điểm, chứng tích và những biểu tượng nhuốm màu tâm linh nên nó vừa linh thiêng lại vừa thú vị, dễ ăn sâu vào trái tim khối óc mỗi người.
Thứ hai, bằng việc tế lễ trước bàn thờ Thánh, người ta biết mình đang tỏ lòng biết ơn và kính trọng người đã có công trong quá khứ; tới nay, khi đã thành thần, những vị đó vẫn như đang tồn tại bên đời sống của dân làng, vỗ về, an ủi, che chở họ trong cuộc sống hàng ngày ở tất cả mọi phương diện. Điều này, một mặt phù hợp với đạo lý uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây. Mặt khác, đó là một hiện tượng nảy sinh từ tục thờ cúng tổ tiên, biết ơn những người đã gây dựng cơ nghiệp cho ngày hôm nay của người Việt. Khi đứng trước bàn thờ thắp nén hương dâng lên thần linh, người ta đã ý thức được rằng, muốn đền đáp công ơn của người đi trước thì tự mỗi người phải biết noi gương mà sống tốt hơn, đẹp hơn. Nếu không thì sự trừng phạt không phải chỉ cho bản thân anh ta, mà cho cả gia đình, dòng họ và cộng đồng.
Thứ ba, với việc cùng nhau tham gia vào lễ hội, từ việc nhỏ nhất đến việc lớn nhất, ai cũng ý thức được việc mình làm, vị trí của mình ở đâu. Do vậy, ai cũng tự nhủ phải làm cho tốt để có một lễ hội hoàn thiện đối với các vị thần. Từ chỗ không gây ra những sai sót, họ sẽ được che chở, điều này làm người ta yên lòng hơn, phấn chấn hơn. Ý thức ấy cũng là một cách giáo dục tính tự giác, tính kỷ luật của con người qua lễ hội. Từ đó, lúc đất nước nguy nan, mỗi mắt xích ấy sẽ kết thành một khối thống nhất để chống lại bất cứ một kẻ thù nào khi chúng xâm lược.
Cũng trong quá trình cùng nhau tham gia vào những công việc lễ hội, mọi người từ chỗ hiểu được mà nhận ra trách nhiệm của mình rồi lại truyền cho người khác được hiểu và làm như mình. Nếu không làm được như vâỵ là có tội, là bất kính, là vô ơn đối với những người đã vì cuộc sống hôm nay. Như vậy lịch sử dân tộc, đạo đức, lối sống của con người được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác một cách tự nhiên, tự nguyện, không gò ép, khiên cưỡng... Bằng cách đó, nó thấm sâu vào máu thịt, vào ý thức của mỗi người.
Cuối cùng, việc cùng nhau tham gia lễ hội là dịp thắt chặt tình đoàn kết cộng đồng trước vị thần được thờ. Mối dây liên kết này được gắn bó chặt chẽ bằng các nghi lễ tôn giáo nên nó là sự tập hợp sức mạnh đã nhuốm màu tâm linh, nó củng cố ý thức cộng đồng, nhắc nhở đạo lý làm người của mỗi thành viên, tạo sự tồn tại bền chặt cho cộng đồng ấy.
Ngày nay, xu thế toàn cầu hoá và nền kinh tế thị trường đang tác động mạnh mẽ vào làng Việt, nhưng lễ hội truyền thống vẫn không ngừng phát triển. Cuộc “va đập” này vẫn không làm giảm đi những phương pháp giáo dục lịch sử và đạo đức theo cách truyền thống.
Sự củng cố, khôi phục lễ hội trong những năm gần đây như một sự đáp lại cái xô bồ, ồ ạt của lối sống phương Tây đang tràn vào các làng Việt và càng ngày những giá trị của truyền thống càng tỏ rõ bản lĩnh của nó. Ở góc độ khác, lễ hội còn đóng vai trò làm cân bằng đời sống căng thẳng hiện tại với nhiều áp lực do cuộc vật lộn hàng ngày của con người. Nó góp phần an ủi, điều chỉnh cho con người trước rất nhiều bất trắc của cuộc sống hiện đại như xu thế đô thị hoá gây nên ô nhiễm môi trường, dịch bệnh với quy mô lớn, tai nạn giao thông, những bất trắc trong làm ăn kinh tế, tệ nạn xã hội vv và vv... Đi dự lễ hội, ngoài việc tạo được sự thanh thản, qua thực hành những tín ngưỡng, con người có thể bình tĩnh hơn, an tâm, kiềm chế hơn trước những công việc và những sự cám dỗ của vật chất...
Trước thần thánh phần nào con người sẽ giảm lòng tham, tính ích kỷ, làm ăn bất chính... và biết sợ hãi, lo sợ bị quả báo, sợ bị trừng phạt... Bằng cách này, lễ hội truyền thống đóng góp vào việc điều chỉnh tâm hồn cho con người để có ích cho cả cộng đồng và xã hội. Từ đây, nhiều việc công ích được thực hiện như tiền tự nguyện đóng góp của khách dự hội (mà không ít trong số đó là sự sám hối) sẽ giúp các làng tu bổ lại các di tích, đóng góp vào các công việc từ thiện, xã hội và góp phần giữ gìn, khôi phục những giá trị văn hoá.
Tóm lại, dù trải qua biết bao thăng trầm thì lễ hội truyền thống Việt Nam vẫn giữ một vai trò đáng kể trong đời sống văn hoá của dân tộc.









