Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 20/05/2011 18:33 (GMT+7)

Sự thống nhất chính sách tài chính 1945 - 1975

1/ Bạc Đông Dương: người thương, kẻ ghét…

- Mùa đông năm ấy, quân đội Trung Hoa kéo sang Bắc Việt để giải giáp quân đội Nhật ở trên vĩ tuyến 16, đã đem theo tiền giấy Quan kim in hình Thống chế Tưởng Giới Thạch, rồi tự ấn định 1 quan kim ăn 1,5 piastre, tung ra mua hàng hóa ở các vùng họ đi qua, vật giá từ đó cao vọt lên. Tại những tỉnh lớn như Hà Nội có nạn đầu cơ mua bán các thứ tiền ấy làm tình hình tiền tệ trở nên rối loạn… cũng may, mùa hạ năm 1946, quân Tưởng bắt đầu rút về nước thì nạn quan kim cũng giảm dần: 1 quan kim chỉ còn ăn khoảng 3 hào Đông Dương, rồi mất hẳn!

- Ở Nam Việt, cuối năm 1945, theo dấu chân đồng minh Anh - Mỹ, quân Pháp tái chiếm Sài Gòn đã tung ra tờ 100 đ độc lư mới in lại tại Pháp bằng hình thức giấy mỏng hơn trước. Ngày 25 - 12 - 1945, chính phủ Pháp tự ấn định lại giá 1 piastre ăn 17 franc Pháp, 7 piastre ăn 1 dollar Mỹ: đồng thời cho phát hành các loại tiền giấy mới in ở Anh và Mỹ (dùng lại chữ “Banque de l’Indochine”) gồm “Giấy một đồng vàng, Giấy năm chục đồng vàng, Một trăm đồng vàng”… chất liệu tốt như dollar xanh, có loại serie “une piastre” có hàng chữ “American Bank Note Company” (công ty tiền giấy Hoa Kỳ)… Các loại tiền cũ của Ngân hàng Đông Dương trước đây vẫn sử dụng lại, làm các đại phú hào lại một phen đầu cơ tích trữ…

2/ Bạc Cụ Hồ: kẻ nhét, người thu…

- Trước tình hình sử dụng tiền tệ trên đất nước bị rối loạn như vậy, ngày 31 - 1 - 1946, Hồ Chủ tịch ký sắc lệnh số 18. SL cho phép Bộ Tài chính phát hành “Giấy bạc Việt Nam” ở Nam Trung bộ từ vĩ tuyến 16 trở xuống. Các loại tiền này in trên giấy nổi bằng vỏ cây xay do Sở ấn loát Tài chính Trung bộ cùng ủy ban Tổng phát hành Giấy bạc Việt Nam in ấn. Nơi chọn phát hành đầu tiên là các tỉnh Nam Trung bộ vì ở đây không có quân đội nước ngoài chiếm đóng, chính quyền cách mạng hoàn toàn làm chủ và phong trào cách mạng của quần chúng rất mạnh. Tiền tài chính này dần lan ra Hà Nội nên ngày 13 - 8 - 1946 có sắc lệnh số 154.SL cho phép phát hành Giấy bạc Việt Nam tại Bắc Trung bộ trên vĩ tuyến 16, lưu hành song song với tiền giấy Ngân hàng Đông Dương cũ với tỷ giá 1: 1.

- Ngày 23 - 9 - 1945, phản đối quân Pháp trở lại Việt Nam nên toàn dân Nam bộ kháng chiến, vì chưa có tiền riêng để sử dụng, ủy ban Hành chánh Cách mạng, các tỉnh ở miền Nam như Biên Hòa, Long Xuyên, Châu Đốc, Tiền Giang, Bến Tre, Chợ Lớn, Long Phước, Rạch Giá, Hà Tiên… đã dùng tiền giấy của Ngân hàng Đông Dương, nhưng đóng dấu đỏ thị thực của vùng cách mạng quản lý để sử dụng. Những tờ giấy bạc có đóng dấu cách mạng này rất có giá trị lịch sử!

- Tuy nhiên, người Pháp vẫn xem vấn đề tiền tệ thuộc chủ quyền của mình nên ngày 17 - 11 - 1945, Cao ủy Pháp là Đô đốc Bá tước D’Ăngenlieux tuyên bố hủy bỏ giấy 500 đồng vàng (rồng xanh - rồng vàng) cho rằng được in thời chính phủ thân Nhật nên không còn giá trị sử dụng. Sự giao thiệp về vấn đề tiền giữa hai chính phủ Pháp - Việt trở nên gay go có lúc đổ máu như đầu năm 1946, người Pháp đã bắn vào dân Hà Nội biểu tình phản đối sự hủy bỏ giấy 500 đồng.

- Từ đó, chính phủ Việt Nam thì phản đối việc Pháp cho phát hành thêm tiền mới, còn chính phủ Pháp thì tuyên bố không chịu trách nhiệm gì về tiền do Việt Nam in ra! Khắp Việt Nam và cả ở Lào cùng Cambodia nguyên vị tiền tệ Pháp - Việt chưa được thỏa thuận nhưng ở Hội nghị Đà Lạt và Hội nghị Fontainebleau (từ ngày 6 - 7 đến ngày 13 - 9 - 1946) hai chính phủ đã thỏa thuận nguyên tắc là giá trị đồng bạc Đông Dương so vói đồng franc sẽ do hai bên ký kết! Đến đầu tháng 12 - 1946, trong một cuộc họp riêng ở Hà Nội, trao đổi ý kiến giữa hai chính phủ đều cho rằng vấn đề tiền tệ có thể dung hòa được nếu các vấn đề khác giải quyết xong…

- Nhưng ngày 19 - 12 - 1946, tiếng súng bùng nổ… Bác Hồ kêu gọi Toàn quốc kháng chiến… Trong vùng Pháp kiểm soát, cấm lưu hành tiền giấy Hồ Chí Minh…

Bạc Đông Dương: kẻ thương người ghét,

Bạc Cụ Hồ: người nhét kẻ thu,

Ra tay ta chống quân thù,

Dù cho bây có đút hết,

Bạc chiến khu lại… chở về!

3/ Từ “Giấy bạc Việt Nam”…

Như đã nói ở trên, năm 1946 Hồ Chủ tịch đã ra sắc lệnh phát hành tiền tài chính thường có hàng chữ “Giấy bạc Việt Nam”, quốc hiệu nước “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa” và chân dung Bác (thường có hàng chữ “Chủ tịch Hồ Chí Minh”) mang những hình ảnh chống giặc dốt, chống giặc đói, chống ngoại xâm, liên minh công - nông - binh… Trên tờ giấy bạc, ngoài chữ Việt và chữ Hán, thỉnh thoảng còn có thêm chữ Miên - Lào với chữ ký của Bộ trưởng Bộ Tài chính Lê Văn Hiến hoặc Phạm Văn Đồng và chữ ký của Giám đốc Ngân khố Trung ương cùng hàng chữ “Theo sắc lệnh của Chính phru Việt Nam, kẻ nào làm giả hoặc có hành động phá hoại tờ giấy bạc của Chính phủ, sẽ bị trừng trị theo quân pháp”.

- Tiền giấy gồm các loại 20 xu, 50 xu, 1 đồng, 5 đồng, 10 đồng, 20 đồng, 50 đồng và 100 đồng. Riêng tiền 5 đ, 20 đ và 100 đ, có nhiều loại khác nhau do in ở các vùng Bắc bộ, Trung bộ và Nam bộ. Ở Hà Nội, do Pháp kiểm soát chặt, nên tháng 3 - 1946, nhà máy in tiền giấy Hồ Chí Minh loại 100 đồng con trâu xanh, chuyển đến đồn điền Chi Nê thuộc xã Cố Nghĩa, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình. Giấy bạc Việt Nam tuy kỹ thuật in thô sơ, chất liệu xấu nhưng vẫn được nhân dân hoan nghênh đón tiếp, đem tiền Ngân hàng Đông Dương đến đổi với tỉ giá 1:1, nhiều tờ giấy đã rách nát nhưng dân chúng vẫn truyền nhau “còn cái râu, Cụ Hồ là tiêu!”.

- Về tiền đúc thì có 20 xu, 5 hào, 1 đồng và 2 đồng: xưởng dập tiền đồng được thành lập tại Văn Thánh (Huế) còn ở Hà Nội thì cơ sở dập tiền nhôm dưới nhà bát giác của Bảo tàng Lịch sử (Bác Cổ). Ngoại trừ các loại tiền thông dụng, Bộ Tài chính còn đúc cả tiền vàng mệnh giá 20 đ.

- Sau ngày toàn quốc kháng chiến, tiền tài chính đã lưu hành rộng khắp các miền đất nước nên ngày 15 - 5 - 1947 có sắc lệnh số 48.SL cho phép phát hành trên toàn cõi Việt Nam những giấy bạc 1 đồng, 5 đồng, 10 đồng, 50 đồng, 100 đồng, 200 đồng và 500 đồng. Tuy nhiên, chiến sự khắp nơi làm việc liên hệ giữa các địa phương và trung ương gặp nhiều trở ngại nên…

- Ở Trung bộ (Liên khu 5) theo sắc lệnh số 231, ngày 18 - 7 - 1947 cho phép phát hành các loại tín phiếu ghi quốc hiệu “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa” và hình ảnh Bác Hồ nhưng có hai chữ ký: Phạm Văn Đồng ký “Đại diện Chính phủ Trung ương” và một chữ ký của “Đại diện ủy ban Hành chính Trung bộ” gồm các loại 1 đồng, 5 đồng, 20 đồng, 50 đồng, 100 đồng, 500 đồng và 1000 đồng với hình thức tương tự “Giấy bạc Việt Nam” nhưng được thay bằng chữ “Tín phiếu”.

- Ở Nam bộ, ngày 01 - 11 - 1947, có sắc lệnh số 102. SL cho phép phát hành các loại tín phiếu, ta thấy các loại “Tín phiếu, Phiếu tiếp tế, Phiếu đổi chác….” Của riêng từng tỉnh và chỉ lưu hành trong tỉnh đó như ở Thủ Dầu Một, Biên Hòa, Cần Thơ, Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre, Sóc Trăng, Hà Tiên… với 2 chữ ký là của “Chủ tịch ủy ban Kháng chiến Hành chánh tỉnh” và “Trưởng ty Ngân khố”. In hình Bác Hồ và các cảnh sinh hoạt, tuy kỹ thuật in thô sơ nhưng đầy ý nghĩa vì thường có hàng chữ cổ động (có thể in cùng lần với tín phiếu hoặc cũng có thể in đè lên thêm khi phát hành) như “Toàn dân đoàn kết chống ngoại xâm - Tích cực chuẩn bị phản công - Thi đua lập chiến công - Thi đua ái quốc - Một nước Việt Nam độc lập, một chính phủ Hồ Chí Minh…”.

- Đến ngày 21 - 3 - 1948, chính phủ ra sắc lệnh số 147.SL cho phép phát hành tại Nam bộ và lưu hành trên toàn quốc Giấy bạc Việt Nam, rồi ngày 14 - 4 - 1948, đình chỉ lưu hành tiền đồng thời phong kiến; vào ngày 30 - 4 - 1948 thì Hồ Chủ tịch ký sắc lệnh tuyên bố các loại tiền giấy bạc của Ngân hàng Đông Dương đều không có giá trị trong vùng cách mạng.

- Cuối năm 1948, chiến sự càng căng thẳng, lại do Hoa kiều ở Chợ Lớn làm giả Giấy bạc Việt Nam của trung ương nên ủy ban kháng chiến hành chính Nam bộ quyết định ấn loát tại chỗ và phát hành giấy bạc Nam bộ. Loại giấy này chất liệu khá tốt, cũng có ghi quốc hiệu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, chân dung Bác Hồ, hàng chữ “Giấy bạc Việt Nam” và hàng chữ “Theo sắc lệnh của Chính phủ Việt Nam…”. Riêng về Đại diện Bộ trưởng Bộ Tài chính thì do Chủ tịch ủy ban kháng chiến Hành chính Nam bộ tức ông Phạm Văn Bạch ký, còn Đại diện Bộ trưởng Bộ Tài chính thì do Giám đốc Ngân khố Nam bộ tức ông Trần Học Hải ký. Trên tiền giấy cũng có cả chữ Hán, Miên, Lào, bao gồm các loại 1 đ, 5 đ, 10 đ, 20 đ, 50 đ, 100 đ; ta thấy giấy 50 đ có đến 3 loại, còn tiền 100 đ thì có đến 4 loại, như vậy tuy chiến tranh nhưng tiền tệ được in ra cũng rất phong phú… có một số loại cho biết chỉ lưu hành hạn hẹp trong một số tỉnh nên có thêm hàng chữ “Chỉ lưu hành trong tỉnh Long - Châu - Sa” (Long Xuyên - Châu Đốc - Sa Đéc) hoặc “Chỉ lưu hành trog tỉnh Mỹ Tho”… nhưng điều lưu ý là tất cả “Giấy bạc Việt Nam” đều có chân dung Bác Hồ nên dân gian gọi là Bạc giấy Cụ Hồ và đều có chữ ký hoặc đại diện Bộ trưởng Bộ Tài chính nên cũng gọi là Tiền Tài chính…

- Sau khi ở miền Bắc đã thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam vào năm 1951 thì ngày 21 - 9 - 1953, Nghị định số 39-NĐ-53 của ủy bang kháng chiến Hành chánh Nam bộ cho thành lập Ngân hàng Nhân dân Nam bộ do ông Trần Học Hải làm giám đốc còn phó giám đốc là ông Trần Dương, cán bộ của Trung ương do anh Cả - tức Nguyễn Lương Bằng - cử vào Nam từ năm 1951. Đầu năm 1953, Nam bộ chủ trương in giấy bạc 200 đ và 500 đ, đến giữa năm thì in xong loại 200 đ chưa kịp phát hành thì Hiệp định Genève được ký kết, loại 500 đ còn trên bản vẽ.. Hai loại giấy tiền này catalog tiền giấy quốc tế cũng như sách 100 năm tiền giấy Việt Nam đều không nhắc đến và không có hình.

4/ Đến tiền của Ngân hàng Quốc gia và Ngân hàng Nhà nước

Sau thắng lợi Chiến dịch Biên giới 1950, ngày 6 - 5 - 1951, Hồ Chủ tịch ký sắc lệnh số 15.SL cho thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam có nhiệm vụ: “Phát hành giấy bạc ngân hàng, điều hòa lưu thông tiền tệ - Quản lý ngân quỹ quốc gia, quản lý kim dụng bằng các thể lệ hành chính - Đấu tranh tiền tệ với địch”. Sau khi khánh thành ngân hàng, Bác nói: “Thành lập được Ngân hàng quốc gia và phát hành giấy bạc Ngân hàng là thắng lợi của ta về kinh tế”.

- Ngày 12 - 5 - 1951, có sắc lệnh số 19.SL cho phép Ngân hàng Quốc gia Việt Nam phát hành 2 loại giấy bạc 20 đ và 50 đ, đồng thời thêm sắc lệnh 20.SL ấn định giá trị 1 đồng do Ngân hàng Quốc gia Việt Nam phát hành ăn 10 đồng tiền do Bộ Tài chính in trước đây. Việc đổi tiền mới bắt đầu tiến hành từ ngày 1 - 6 - 1951.

- Ngày 25 - 5 - 1951, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định 97.TTg quy định những chi tiết tổ chức Ngân hàng Quốc gia Việt Nam, sau đó đến 20 - 7 - 1951 thì có thêm Nghị định 107.TTg cho thành lập Kho bạc Nhà nước đặt trong Ngân hàng Quốc gia Việt Nam trực thuộc Bộ Tài chính; và đến ngày 12 - 9 - 1951 thì thành lập Ngân hàng Liên khu 5.

- Ngày 20 - 9 - 1951, có sắc lệnh số 51.SL cho phát hành tiền giấy 100 đ.

- Ngày 25 - 5 - 1952, sắc lệnh số 92.SL quy định việc phát hành các loại giấy bạc của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam. Một năm sau, tức ngày 20 - 5 - 1953 thì có sắc lệnh số 162.SL quy định lấy đồng bạc của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam làm đơn vị, do đó cùng ngày, Hội đồng Chính phủ ra Nghị định số 269.TTg đình chỉ lưu hành các loại tiền tài chính 100 đ, 200 đ và 500 đ.

- Tóm lại, giai đoạn này, năm 1951 Ngân hàng Quốc gia Việt Nam có in loại 10 đ màu đà không hiểu lý do gì mà không phát hành, 20 đ 2 loại in giống nhau nhưng 2 màu xanh lục và đỏ tía, 50 đ 2 loại: màu lục và màu nâu; 100 đ 2 loại: xanh dương và xanh lục; 200 đ 2 loại: màu đỏ và xanh luc; 500 đ chỉ một loại màu xanh lá cây; 1000 đ chỉ một loại màu gạch và 5000 đ chỉ loại màu xanh rêu. Hệ thống tiền in tại Tiệp Khắc chỉ ghi bằng 2 thứ chữ Việt và Hán song song, mặt trước có quốc hiệu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, chân dung Bác Hồ, không có chữ ký nào mà chỉ 2 khuôn dấu tròn của Giám đốc và Phó Giám đốc Ngân hàng Quốc gia Việt Nam; mặt sau có hàng chữ Ngân hàng Quốc gia Việt Nam, năm in 1951, các hình ảnh công - nông - binh cùng sản xuất hoặc quân đội đang chiến đấu… riêng tờ 5000 đ thì ghi in năm 1953; còn 10 đ thì không ghi năm in, sau này được lưu hành tạm thời với dấn in đè “1 xu”.

- Sau hiệp định Genève, miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội, hệ thống tiền vừa kể vẫn tiếp tục được sử dụng. Hòa bình lập lại, ngày 20 - 1 - 1955 Chính phủ ra Nghị định số 443.TTg cho thành lập Sở quản lý Ngoại hối thuộc Ngân hàng Quốc gia Việt Nam; và cuối cùng 5 - 1955 thì thu hồi toàn bộ tiền Đông Dương cũ trên toàn miền Bắc.

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Thanh Hoá: Kinh tế tuần hoàn, tín chỉ Carbon và mô hình sản xuất không phát thải
Ngày 30/9/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Thanh Hóa (Liên hiệp hội) phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ, Trường Đại học Hồng Đức và Viện Nông nghiệp Thanh Hóa tổ chức Diễn đàn khoa học với chủ đề “Kinh tế tuần hoàn và tín chỉ Carbon - Phương pháp xây dựng mô hình sản xuất không phát thải tại Thanh Hóa”.
Đắk Lắk: Phát huy nguồn lực trí thức, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo tỉnh
Trong giai đoạn 2026-2030, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo (ĐMST) là yêu cầu quan trọng để Đắk Lắk khai thác tốt hơn tiềm năng, lợi thế và các nguồn lực cho phát triển. Cùng với KHCN và CĐS, ĐMST cần được nhìn nhận không chỉ là hoạt động của các viện, trường hay doanh nghiệp công nghệ, mà là một phương thức tổ chức nguồn lực để giải quyết những bài toán phát triển cụ thể của địa phương.
Phú Thọ: Tập huấn, truyền thông thúc đẩy giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật tại xã Lạc Sơn
Ngày 25/9/2026, tại xã Lạc Sơn, tỉnh Phú Thọ, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ phối hợp với Viện Tài chính vi mô và Phát triển cộng đồng (MACDI) cùng các cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức chương trình tập huấn, truyền thông thúc đẩy giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật.
Đại hội Hội Khoa học lịch sử Việt Nam lần thứ VIII: GS.TS Nguyễn Văn Kim được bầu làm Chủ tịch
Ngày 30/9/2026, tại Hà Nội, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tổ chức Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2026-2031. Đại hội là dấu mốc quan trọng mở ra chặng đường phát triển mới của Hội; GS.TS Nguyễn Văn Kim được tín nhiệm bầu giữ chức Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam nhiệm kỳ 2026-2031.
Thế hệ trẻ và bản lĩnh chính trị trên không gian số: Chủ động đối thoại, phản biện và “phủ xanh” thông tin tích cực
Trong kỷ nguyên số, không gian mạng tác động sâu sắc đến nhận thức, tư tưởng của xã hội, đặc biệt là thế hệ trẻ. Trước tin giả, thông tin xấu độc và các luận điệu sai trái, thù địch, tuổi trẻ Việt Nam thông qua các diễn đàn chính luận đã khẳng định bản lĩnh chính trị vững vàng, chủ động đối thoại, phản biện các luận điệu sai trái và góp phần “phủ xanh” không gian mạng bằng những giá trị tích cực.
Phản biện để hoàn thiện, không phải để phủ định
Hoạt động tư vấn, phản biện (TVPB) của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã trở thành một phương thức quan trọng để tập hợp trí tuệ đội ngũ trí thức, cung cấp luận cứ khoa học tin cậy cho Đảng, Nhà nước. Để hiểu rõ hơn về sự phát triển, phương pháp tổ chức và những bài học thực tiễn từ hoạt động này, phóng viên đã có cuộc trao đổi với ThS Bùi Kim Tuyến, Trưởng ban TVPB, VUSTA
Liên hiệp Hội Việt Nam hợp tác với doanh nghiệp công nghệ, hiện thực hóa các mục tiêu chuyển đổi số
Ngày 28/9, tại Hà Nội, Lãnh đạo Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã có buổi trao đổi, làm việc với Công ty CP Tập đoàn Truyền thông StarWorld (Starworld Group) về các giải pháp chuyển đổi số, hướng tới xây dựng nền tảng công nghệ khoa học phục vụ chiến lược phát triển của VUSTA trong giai đoạn 2026 - 2031.
Phó Chủ tịch Trương Xuân Lam: Đưa khoa học, công nghệ vào giải quyết những bài toán thực tiễn ngành hàng không
Ngày 26/9, tại Hà Nội, Hội Khoa học và Công nghệ Hàng không Việt Nam tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ VII, nhiệm kỳ 2026-2031. Phát biểu tại Đại hội, GS.TS Trương Xuân Lam, Phó Chủ tịch LHHVN nhấn mạnh yêu cầu Hội tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, tập hợp và phát huy đội ngũ trí thức, đưa KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào giải quyết những vấn đề của ngành hàng không.
Ngày hội Đổi mới sáng tạo quốc gia 2026: Kết nối nguồn lực, thúc đẩy công nghệ
Theo Nghị định số 268/2025/NĐ-CP ngày 14/10/2025 của Chính phủ, ngày 1/10 hằng năm là Ngày hội Đổi mới sáng tạo quốc gia (INNOVATION DAY) do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì. Quy định này nhằm tạo một dấu mốc thường niên để lan tỏa tinh thần đổi mới sáng tạo trong xã hội, đồng thời thúc đẩy ứng dụng, phát triển và thương mại hóa công nghệ.
Liên hiệp Hội Việt Nam tổ chức chương trình làm việc, khảo sát thực tế tại Trung tâm Đa dạng Sinh học Mê Linh
Ngày 25/9, Cơ quan Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã tổ chức chương trình thăm, làm việc và khảo sát thực tế tại Trung tâm Đa dạng Sinh học Mê Linh (thuộc Viện Sinh học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam). Chương trình diễn ra với chủ đề “Trí thức khoa học và công nghệ với bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững”.
Hội Tự động hóa Việt Nam và Đại học Công nghệ Quế Lâm hợp tác tạo cơ hội phát triển công nghệ và chuyển đổi số
Hội Tự động hóa Việt Nam (VAA) và Đại học Công nghệ Quế Lâm (Trung Quốc) ký biên bản ghi nhớ, hướng tới xây dựng phòng thí nghiệm trọng điểm chung về ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số, đồng thời đưa kết quả nghiên cứu vào thử nghiệm, chuyển giao và ứng