Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 30/08/2011 18:13 (GMT+7)

Sản xuất thành công 2 loại thuốc trừ sâu sinh học

Hai sản phẩm thuốc trừ sâu sinh học: Vimetarzimm95DP và Biobauve5DP đã được Bộ NNPTNT cấp theo QĐ số: 60/ 2007/QĐ-BNN, ngày 19 tháng  6 năm 2007, là hai loại thuốc sản phẩm có trong danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng ở Việt Nam:

Thuốc Vimetarzimm95DP số: 1169/07ECR; Thuốc Biobauve5DP số: 1168/07 ECR.

Xuất xứ của Dự án

Thuốc trừ sâu sinh học(TTSSH) được đưa vào Việt Nam từ đầu những năm 1970 với số lượng ít ỏi. Đến nay việc nghiên cứu TTSSH ở trong nước đã đạt được một số thành quả nhất định, tuy nhiên việc triển khai ứng dụng còn rất  chậm.

Để đưa các kết quả đã thu được vào sản xuất, từ những nghiên cứu cơ bản về các chủng vi nấm diệt côn trùng thuộc nhóm nấm Hyphomycete (Tạ Kim Chỉnh và Cộng sự - Chương trình Công nghệ

sinh học phục vụ nhà nước 1980-1985), và các nghiên cứu theo định hướng cơ bản - chương trình cấp Nhà nước, giai đoạn 1996-1998; 1999-2002), TTNCSXCCPSH đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu sản xuất và ứng dụng chủng vi nấm Metarhizium anisopliae Ma5 và Beauveria bassiana Bb1để phòng trừ côn trùng trong đất hại cây trồng cạn, 2003-2005”.

Đề tài đã báo cáo nghiệm thu tại Hội đồng khoa học Liên hiệp các Hội Khoa học & Kỹ thuật  Việt Nam, được đánh giá xuất sắc và được đề nghị lên Bộ Khoa học & Công nghệ cho tiếp tục triển khai với dự án sản xuất thử nghiệm cấp nhà nước.

Ngày 15 tháng 01 năm 2008, TTNCSXCCPSH đã được Bộ Khoa học & Công nghệ ký hợp đồng triển khai thực hiện dự án sản xuất thử nghiệm:“Hoàn thiện công nghệ sản xuất chế phẩm Vimetarzimm95DP và Biobauve5DP từ hai chủng vi nấm Metarhizium anisopliaeMa5& Beauveria bassianaBb1 để phòng trừ một số loài côn trùng trong đất hại cây công nghiệp”.

Tính cấp thiết và nhu cầu của thị trường về sản phẩm nấm diệt côn trùng

Mặc dù chỉ có 0,1% các loài côn trùng là có hại cho con người, nhưng chúng đã gây ra biết bao tổn thất cho các ngành nông lâm nghiệp bởi sự phá hại của chúng. Do vậy con người thường xuyên phải sử dụng các loại thuốc trừ sâu hóa học để trừ diệt chúng. Ở Việt nam hàng năm sử dụng khoảng 15.000-20.000 tấn thuốc hóa học trừ dịch hại và bảo vệ thực vật (BC của Nguyễn Ngọc Khánh và Lê Mỹ Dung, 1998, tại Hội nghị Môi trường toàn quốc). Bên cạnh mặt tích cực của thuốc hóa học là thời gian diệt sâu rất nhanh và thuốc hóa học lại rất rẻ so với các loại thuốc sinh học.

Nhưng do các loại hoá chất bảo vệ thực vật truyền thống gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng tới sức khoẻ con người nên nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam, đang chuyển dần sang sử dụng các biện pháp phòng trừ sinh học.

Xu hướng quay trở lại nền nông nghiệp hữu cơ với việc tăng cường sử dụng chế phẩm sinh học, phân bón hữu cơ trong canh tác cây trồng đang là xu hướng chung của Việt nam nói  riêng và thế giới nói chung, đã thúc đẩy cho ra đời một loạt các thuốc trừ sâu sinh học trên thế giới. Một trong các phương pháp đó là sử dụng tuyến trùng ký sinh và nấm gây bệnh côn trùng để sản xuất ra các loại TTSSH.

Cho đến nay ở Việt Nam đã có hơn 10 loại TTSSH được sản xuất từ kết quả nghiên cứu của các đề tài đã đăng ký vào danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng ở Việt Nam, trong đó có hai loại thuốc Vimetarzimm95DP & Biobauve5DP, sản xuất từ 2 chủng nấm gây bệnh côn trùng M.anisopliae Ma5 và B.bassianaBb1. Đây là sản phẩm được sử dụng trên mô hình  phòng trừ sâu hại một số cây công nghiệp trong dự án này.

Sản phẩm chính của dự án

+ Đã hoàn thiện quy trình sản xuất 2 chế phẩm sinh học Vimetarzimm95DP & Biobauve5DP ổn định về chất lượng và đạt hiệu quả cao (công suất: trên 12 tấn/năm) ở quy mô bán công nghiệp.

+ Hai sản phẩm Vimetarzimm95DP & Biobauve5DP đạt chất lượng với  mật độ bào tử là 1011-1012 bào tử/gram chế phẩm, cao hơn rất nhiều so với sản phẩm cùng loại ở trong nước, cho nên không những tiết kiệm được nguyên vật liệu, năng lượng để sản xuất chế phẩm, mà còn  giảm được giá tiền thuốc bón lót cho 1 ha cây trồng và làm tăng sức cạnh tranh của chế phẩm. Vì nếu sử dụng chế phẩm này chỉ cần dùng 3-5kg/ha và chỉ bón lót 1 lần/vụ (trừ trường hợp phải bón lại nếu sau 1 giờ gặp mưa to) trong khi ở cơ sở khác, nếu  dùng chế phẩm nấm xanh M.a có số bào tử là109 - 108 BT/gr.SP thì phải dùng tới 10- 12 kg chế phẩm/ha. Nghĩa là nếu số lượng bào tử/gram chế phẩm thấp thì giá thành sẽ cao.

Hai sản phẩm TTSSH nói trên được sản xuất từ nguyên liệu rẻ tiền sẵn có ở thị trường làm nguyên liệu lên men nấm; cơ khí hoá các khâu khử trùng môi trường, xấy khô và sàng lọc chế phẩm; lại nhân nhanh giống cấp II trên bề mặt trong túi nilon chịu nhiệt, nên giá thành của chế phẩm thấp, tính cạnh tranh cao.

+ Sử dụng hai chế phẩm có hiệu quả trên mô hình sau (với diện tích10ha/mô hình):

* Mô hình phòng trừ sâu xám hại cây đậu tương (Nam Sách, Hải Dương).
* Mô hình phòng trừ sâu xám hại cây lạc (Hoàng Hoa Thám, Chí  Linh, Hải Dương).
* Mô hình phòng trừ sâu róm hại cây gai xanh (Thịnh Minh, Thịnh Lang, Hòa Bình).
* Mô hình phòng trừ rệp sáp hại cà phê (Krông Pak, ĐăkLăk).
* Mô hình phòng trừ  ấu trùng bọ hung đen hại mía (Thành An, Kbang, An Khê, Gia Lai). 
* Mô hình phòng trừ  mối hại cây chè Shan (Pà Cò, Mai Châu, Hòa Bình). 

Hiệu quả kinh tế

Các thí nghiệm về so sánh hiệu quả kinh tế của việc áp dụng hai loại thuốc sinh học Vimetarzimm95DP & Biobauve5DP và thuốc hóa học trừ sâu trong đất đã được thực hiện ở các địa phương như trên.

Kết quả đã cho thấy: việc sử dụng hai loại thuốc sinh học Vimetarzimm95DP & Biobauve5DP có tác dụng quản lý các loại sâu hại như: sâu xám lạc; sâu róm thông; ấu trùng bọ hung đen và mối hại mía, đồng thời giúp bảo tồn hệ thiên địch trên các loại cây trồng này, an toàn đối với con người và môi trường. Sử dụng thuốc sinh học Vimetarzimm95D & Biobauve5DP làm giảm chi phí sản xuất các sản phẩm của các cây công nghiệp trên.

So với thuốc trừ sâu sinh học tương tự trên thị trường (VIBAMEC với họat chất Abamectin) cần: 420.000đ/ha/lần và thuốc trừ sâu hóa học Vibasu 10H. Trong khi sử dụng Vimetarzimm 95D hoặc Biobauve 5DP chỉ cần 180.000đ -300.000đ/ha/lần. Đó là chưa kể việc sử dụng thuốc hoá học đã làm giảm hiệu quả bởi tính kháng thuốc của côn trùng: đồng thời với việc diệt các côn trùng gây hại, nó cũng gây độc đối với  các vi sinh vật và côn trùng có ích (thiên địch), mất cân bằng hệ sinh thái đất, ngược lại một số sâu bệnh hại lại sinh ra kháng thuốc, v.v..

Như vậy loại TTSSH này đã làm giảm chi phí cho sản xuất, đảm bảo năng suất, chất lượng nông sản sạch, tạo ra chất lượng hàng hóa cao đáp ứng tiêu chuẩn hàng xuất khẩu cũng như yêu cầu đa dạng của thị trường tiêu dùng, bởi khi mức thu nhập của người dân tăng thì nhu cầu sản phẩm sạch, an toàn, chất lượng cao cũng tăng.

Lợi ích môi trường

Đối với quy trình sản xuất chế phẩm sinh học, việc ảnh hưởng tới môi trường nơi sản xuất cũng như người sử dụng thuốc là không đáng kể. Các chủng vi nấm (Ma5 & Bb1) dùng trong quy trình sản xuất đã được xác nhận là những vi sinh vật không gây độc hại cho người, động vật máu nóng và gia súc, gia cầm. Nguồn nguyên liệu để sản xuất là những sản phẩm của nông nghiệp (cám ngô, gạo, khoai tây, cà rốt vv…)  và một số hóa chất hữu cơ như các loại đường (glucose, Maltose, galactose…), các muối khoáng (KH2P04  MgSO4…), một số axit amin, một vài cơ chất hữu cơ khác (tinh bột tan, chitin, gelatin…). Do đó quy trình sản xuất không thải nước chứa các chất độc hại, không ảnh hưởng tới môi trường sinh thái và người sử dụng thuốc.

Hơn nữa khi đưa hai chế phẩm này vào trong đất còn làm tăng độ phì nhiêu cho đất bởi thành phần của thuốc chủ yếu là những bào tử nấm và những cơ chất hữu cơ (bào tử của các chủng nấm Ma5 và Bb1 đồng thời cũng là những thành phần của hệ vi sinh vật đất).

Kiến nghị
Để các chế phẩm sinh học trong đó có phân bón vi sinh, thuốc trừ sâu sinh học (chủ yếu sản xuất từ các chủng vi khuẩn, vi rút, nấm...) được sử dụng rộng rãi trên đồng ruộng Việt Nam, đề nghị nhà nước có chính sách trợ giá cho bà con nông dân. Vì đây là những sản phẩm có ích lợi lâu dài cho môi trường sinh thái, nhưng hiệu lực diệt sâu của chúng lại chậm (vài ngài so với thuốc  hóa học) nên bà con nông dân chưa thật  hào hứng. Ngoài ra giá thành thuốc lại cao hơn thuốc hóa học do dây truyền công nghệ sản xuất còn nhỏ lẻ.

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Thanh Hoá: Kinh tế tuần hoàn, tín chỉ Carbon và mô hình sản xuất không phát thải
Ngày 30/9/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Thanh Hóa (Liên hiệp hội) phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ, Trường Đại học Hồng Đức và Viện Nông nghiệp Thanh Hóa tổ chức Diễn đàn khoa học với chủ đề “Kinh tế tuần hoàn và tín chỉ Carbon - Phương pháp xây dựng mô hình sản xuất không phát thải tại Thanh Hóa”.
Đắk Lắk: Phát huy nguồn lực trí thức, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo tỉnh
Trong giai đoạn 2026-2030, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo (ĐMST) là yêu cầu quan trọng để Đắk Lắk khai thác tốt hơn tiềm năng, lợi thế và các nguồn lực cho phát triển. Cùng với KHCN và CĐS, ĐMST cần được nhìn nhận không chỉ là hoạt động của các viện, trường hay doanh nghiệp công nghệ, mà là một phương thức tổ chức nguồn lực để giải quyết những bài toán phát triển cụ thể của địa phương.
Phú Thọ: Tập huấn, truyền thông thúc đẩy giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật tại xã Lạc Sơn
Ngày 25/9/2026, tại xã Lạc Sơn, tỉnh Phú Thọ, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ phối hợp với Viện Tài chính vi mô và Phát triển cộng đồng (MACDI) cùng các cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức chương trình tập huấn, truyền thông thúc đẩy giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật.
Đại hội Hội Khoa học lịch sử Việt Nam lần thứ VIII: GS.TS Nguyễn Văn Kim được bầu làm Chủ tịch
Ngày 30/9/2026, tại Hà Nội, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tổ chức Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2026-2031. Đại hội là dấu mốc quan trọng mở ra chặng đường phát triển mới của Hội; GS.TS Nguyễn Văn Kim được tín nhiệm bầu giữ chức Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam nhiệm kỳ 2026-2031.
Thế hệ trẻ và bản lĩnh chính trị trên không gian số: Chủ động đối thoại, phản biện và “phủ xanh” thông tin tích cực
Trong kỷ nguyên số, không gian mạng tác động sâu sắc đến nhận thức, tư tưởng của xã hội, đặc biệt là thế hệ trẻ. Trước tin giả, thông tin xấu độc và các luận điệu sai trái, thù địch, tuổi trẻ Việt Nam thông qua các diễn đàn chính luận đã khẳng định bản lĩnh chính trị vững vàng, chủ động đối thoại, phản biện các luận điệu sai trái và góp phần “phủ xanh” không gian mạng bằng những giá trị tích cực.
Phản biện để hoàn thiện, không phải để phủ định
Hoạt động tư vấn, phản biện (TVPB) của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã trở thành một phương thức quan trọng để tập hợp trí tuệ đội ngũ trí thức, cung cấp luận cứ khoa học tin cậy cho Đảng, Nhà nước. Để hiểu rõ hơn về sự phát triển, phương pháp tổ chức và những bài học thực tiễn từ hoạt động này, phóng viên đã có cuộc trao đổi với ThS Bùi Kim Tuyến, Trưởng ban TVPB, VUSTA
Liên hiệp Hội Việt Nam hợp tác với doanh nghiệp công nghệ, hiện thực hóa các mục tiêu chuyển đổi số
Ngày 28/9, tại Hà Nội, Lãnh đạo Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã có buổi trao đổi, làm việc với Công ty CP Tập đoàn Truyền thông StarWorld (Starworld Group) về các giải pháp chuyển đổi số, hướng tới xây dựng nền tảng công nghệ khoa học phục vụ chiến lược phát triển của VUSTA trong giai đoạn 2026 - 2031.
Phó Chủ tịch Trương Xuân Lam: Đưa khoa học, công nghệ vào giải quyết những bài toán thực tiễn ngành hàng không
Ngày 26/9, tại Hà Nội, Hội Khoa học và Công nghệ Hàng không Việt Nam tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ VII, nhiệm kỳ 2026-2031. Phát biểu tại Đại hội, GS.TS Trương Xuân Lam, Phó Chủ tịch LHHVN nhấn mạnh yêu cầu Hội tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, tập hợp và phát huy đội ngũ trí thức, đưa KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào giải quyết những vấn đề của ngành hàng không.
Ngày hội Đổi mới sáng tạo quốc gia 2026: Kết nối nguồn lực, thúc đẩy công nghệ
Theo Nghị định số 268/2025/NĐ-CP ngày 14/10/2025 của Chính phủ, ngày 1/10 hằng năm là Ngày hội Đổi mới sáng tạo quốc gia (INNOVATION DAY) do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì. Quy định này nhằm tạo một dấu mốc thường niên để lan tỏa tinh thần đổi mới sáng tạo trong xã hội, đồng thời thúc đẩy ứng dụng, phát triển và thương mại hóa công nghệ.
Liên hiệp Hội Việt Nam tổ chức chương trình làm việc, khảo sát thực tế tại Trung tâm Đa dạng Sinh học Mê Linh
Ngày 25/9, Cơ quan Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã tổ chức chương trình thăm, làm việc và khảo sát thực tế tại Trung tâm Đa dạng Sinh học Mê Linh (thuộc Viện Sinh học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam). Chương trình diễn ra với chủ đề “Trí thức khoa học và công nghệ với bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững”.
Hội Tự động hóa Việt Nam và Đại học Công nghệ Quế Lâm hợp tác tạo cơ hội phát triển công nghệ và chuyển đổi số
Hội Tự động hóa Việt Nam (VAA) và Đại học Công nghệ Quế Lâm (Trung Quốc) ký biên bản ghi nhớ, hướng tới xây dựng phòng thí nghiệm trọng điểm chung về ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số, đồng thời đưa kết quả nghiên cứu vào thử nghiệm, chuyển giao và ứng
Tuyên bố chung về quan hệ Đối tác Chiến lược giữa Việt Nam và Canada
Chuyến thăm cấp Nhà nước tới Canada của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thể hiện cam kết mạnh mẽ của lãnh đạo hai nước trong việc đưa quan hệ song phương bước vào kỷ nguyên mới hợp tác sâu rộng, thực chất và bền vững hơn. Trân trọng giới thiệu toàn văn Tuyên bố chung về quan hệ Đối tác Chiến lược giữa Việt Nam và Canada: