Phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ: Nền tảng cho khát vọng phát triển đất nước
Trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, khoa học và công nghệ ngày càng giữ vai trò then chốt đối với sự phát triển bền vững của đất nước. Vai trò trung tâm của quá trình ấy chính là nguồn nhân lực khoa học và công nghệ, đội ngũ trí thức có khả năng sáng tạo, làm chủ tri thức, chuyển giao công nghệ và lan tỏa giá trị đổi mới sáng tạo.
Thực tiễn phát triển đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nhìn thẳng vào thực trạng, chỉ rõ những điểm nghẽn và có giải pháp mang tính đột phá nhằm phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ Việt Nam trong bối cảnh mới.

Việt Nam giành nhiều giải thưởng lớn tại Triển lãm Quốc tế về sáng tạo khoa học công nghệ SIIF 2025
Lực lượng nòng cốt của đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững
Nguồn nhân lực khoa học và công nghệ (KH&CN) được xem là lực lượng trung tâm trong việc xây dựng nền tảng tri thức quốc gia, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Đội ngũ này bao gồm các nhà khoa học, kỹ sư, chuyên gia công nghệ, cán bộ nghiên cứu và giảng dạy trình độ cao, những người trực tiếp tạo ra tri thức mới, sản phẩm mới và các giải pháp công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.
Trong bối cảnh chuyển đổi số, kinh tế tri thức, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn, vai trò của nguồn nhân lực KH&CN càng trở nên nổi bật. Không chỉ đóng góp vào nghiên cứu, phát minh và sáng chế, đội ngũ trí thức khoa học còn giữ vai trò then chốt trong xây dựng hạ tầng công nghệ số, phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao, bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Thực tiễn cho thấy, quốc gia nào coi trọng đầu tư cho khoa học và công nghệ, đặc biệt là phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, quốc gia đó sẽ tạo được lợi thế cạnh tranh dài hạn và phát triển bền vững.
Những chuyển biến tích cực trong phát triển nguồn nhân lực KH&CN
Sau 40 năm đổi mới, cùng với sự hoàn thiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, đội ngũ trí thức và nguồn nhân lực KH&CN Việt Nam đã có bước phát triển đáng kể cả về số lượng và chất lượng. Theo số liệu tổng điều tra dân số, trong 10 năm (2009 – 2019), số lượng trí thức của cả nước tăng hơn 2,7 triệu người; trong đó, số người có trình độ đại học, sau đại học gia tăng rõ rệt. Đặc biệt, đội ngũ cán bộ nghiên cứu và phát triển (NC&PT) không ngừng được củng cố, với gần 190 nghìn người tham gia hoạt động nghiên cứu vào năm 2021.
Chất lượng nguồn nhân lực KH&CN từng bước được cải thiện. Tỷ lệ cán bộ nghiên cứu có trình độ sau đại học ngày càng tăng; số tiến sĩ, thạc sĩ tham gia nghiên cứu khoa học ngày một nhiều hơn, nhất là trong các cơ sở giáo dục đại học. So sánh trong khu vực Đông Nam Á, Việt Nam nằm trong nhóm quốc gia có số lượng cán bộ nghiên cứu tương đối cao, cho thấy tiềm năng phát triển khoa học và công nghệ trong những năm tới.
Với sự gia tăng về số lượng và trình độ, nguồn nhân lực KH&CN đã đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Đội ngũ trí thức là lực lượng nòng cốt trong việc xây dựng luận cứ khoa học phục vụ hoạch định đường lối, chính sách; nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao công nghệ vào sản xuất và đời sống; phổ biến tri thức khoa học, nâng cao dân trí và năng lực sản xuất xã hội. Nhiều thành tựu KH&CN đã được ứng dụng hiệu quả trong các lĩnh vực y tế, nông nghiệp, công nghiệp, giáo dục và bảo vệ môi trường…

Tại hội thảo “Vai trò của trí thức khoa học và công nghệ Liên hiệp Hội Việt Nam trong việc thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị”, Chủ tịch LHHVN Phan Xuân Dũng kỳ vọng với tri thức và kinh nghiệm phong phú, đội ngũ trí thức, nhà khoa họctrong hệ thốngLiênhiệp Hộisẽ đóng vai trò nòng cốt trong việc hiến kế, đề xuất giải pháp thực hiện hiệu quả Nghị quyết 57 trong toàn hệ thống, góp phần thúc đẩy ứng dụng KHCN vào cuộc sống
Điểm nghẽn cần sớm tháo gỡ
Bên cạnh những kết quả đạt được, nguồn nhân lực KH&CN Việt Nam vẫn bộc lộ nhiều hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của đất nước. Trước hết, chất lượng nguồn nhân lực KH&CN chưa đồng đều, thiếu đội ngũ chuyên gia đầu ngành, nhà khoa học có tầm ảnh hưởng quốc tế. Nhiều lĩnh vực then chốt của nền kinh tế số và công nghiệp công nghệ cao như trí tuệ nhân tạo, khoa học dữ liệu, công nghệ sinh học, vật liệu mới… đang thiếu hụt nghiêm trọng nhân lực chất lượng cao.
Cơ cấu và phân bố nguồn nhân lực KH&CN còn bất hợp lý. Nhân lực khoa học chủ yếu tập trung ở khu vực nhà nước và các đô thị lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng trong khi các địa phương vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn lại thiếu hụt nghiêm trọng. Tỷ lệ nhân lực nghiên cứu trong doanh nghiệp còn thấp, làm hạn chế khả năng thương mại hóa kết quả nghiên cứu và gắn kết khoa học với sản xuất.
Bên cạnh đó, môi trường làm việc và cơ chế chính sách chưa đủ sức thu hút, giữ chân và phát huy nhân tài. Chế độ đãi ngộ đối với nhà khoa học chưa tương xứng; thủ tục hành chính, cơ chế tài chính trong hoạt động nghiên cứu còn rườm rà, làm giảm động lực sáng tạo. Đầu tư cho khoa học và công nghệ từ ngân sách nhà nước còn thấp so với yêu cầu thực tiễn, trong khi tỷ lệ giải ngân chưa cao, gây lãng phí nguồn lực. Hoạt động hợp tác quốc tế, thu hút trí thức Việt Nam ở nước ngoài và chuyên gia quốc tế tham gia nghiên cứu tại Việt Nam chưa đạt hiệu quả như kỳ vọng, dù đã có nhiều chủ trương, chính sách được ban hành.

Hội thảo vềgiải pháp truyền thông đột phá cho phát triển khoa học công nghệdo LHHVN tổ chức 12/2025
Giải pháp phát triển nguồn nhân lực KH&CN trong bối cảnh mới
Trước yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới, Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đã xác định rõ: phát triển đội ngũ trí thức, nhất là nguồn nhân lực KH&CN chất lượng cao, là nhiệm vụ then chốt, mang tính chiến lược lâu dài. Để hiện thực hóa mục tiêu này, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp.
Trước hết, tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách phát triển nguồn nhân lực KH&CN theo hướng tạo môi trường pháp lý thông thoáng, minh bạch, có tính đột phá. Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo cần chú trọng hơn nữa đến chính sách thu hút, sử dụng và đãi ngộ nhà khoa học; thí điểm cơ chế khoán sản phẩm nghiên cứu gắn với hiệu quả và giá trị ứng dụng.
Thứ hai, nâng cao chất lượng đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực KH&CN, đặc biệt ở các lĩnh vực công nghệ cao và công nghệ nền. Đẩy mạnh liên kết giữa cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu và doanh nghiệp; gắn đào tạo với nhu cầu thực tiễn của nền kinh tế. Chú trọng phát triển nguồn nhân lực cho các ngành mũi nhọn như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, điện toán đám mây, công nghệ sinh học.
Thứ ba, có chính sách thu hút và trọng dụng nhân tài một cách thực chất, lấy kết quả và sản phẩm nghiên cứu làm thước đo. Xây dựng cơ chế “chuyên gia đặc biệt”, “giáo sư danh dự”; hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh; tạo điều kiện để trí thức Việt Nam ở nước ngoài tham gia nghiên cứu, giảng dạy và chuyển giao công nghệ tại Việt Nam.
Bên cạnh đó, cần phát huy vai trò của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam cùng các tổ chức KH&CN ngoài công lập trong việc tập hợp, phát huy trí tuệ của đội ngũ trí thức; tăng cường phản biện chính sách, phổ biến tri thức và kết nối khoa học với đời sống.
Nền tảng cho tương lai phát triển bền vững
Phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ không chỉ là yêu cầu trước mắt mà còn là nền tảng cho khát vọng phát triển nhanh và bền vững của đất nước trong dài hạn. Điều đó đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và toàn xã hội. Khi trí thức được tôn vinh, khoa học được đầu tư đúng mức và nhân tài được phát huy, khoa học và công nghệ sẽ thực sự trở thành động lực then chốt đưa Việt Nam vững bước trong kỷ nguyên mới.








