Nuôi cá lồng ở bản Hụm
Nghề nuôi cá lồng ở bản Hụm bắt đầu từ năm 1988 với 1 lồng nuôi cá trắm cỏ, sau phát triển lên 4 lồng. Thức ăn của cá chủ yếu là cỏ, nên mọi thành viên trong gia đình đều tranh thủ tìm cỏ cho cá, người lớn đi làm ruộng cũng gùi về 1 sọt, các cháu đi học về cũng có 1 ôm cỏ cho cá. 3-4 năm sau, số lồng cá lên tới 25 chiếc. Nhưng do chưa nắm vững kỹ thuật, bà con đặt lồng quá dày, đến nắm 1993 cá bị bệnh đốm đỏ ở thân và bệnh đường ruột, chết hàng loạt. Sở nông nghiệp và Phát triển nông thôn cử cán bộ kỹ thuật đến bản, hướng dẫn bà con cách phòng trị bệnh, từ đó bà con đã biết cách phòng, trị bệnh cho cá. Thấy rõ lợi ích của nuôi cá lồng, nên số lượng lồng nuôi cá phát triển khá nhanh, đến nay cả bản đã có khoảng 60 lồng cá.
Thiết kế lồng nuôi cá:Khung lồng và lan lồng xung quanh làm bằng gỗ Đinh Hương. Kích thước lồng nuôi cỡ nhỏ nhất 2 x 3 x 0,9m, lớn nhất là 4 x 3 x 1m. Lồng đặt cách nhau 8-12m ở hai bênh suối, nên dòng suối lưu thông dễ dàng ở giữa suối và không gây ảnh hưởng tới tiêu úng của thuỷ lợi. Chi phí toàn bộ cho 1 lồng nuôi cá bình quân 2 triệu đồng, khấu hao trong 10 năm.
Đối tượng nuôi: Hoàn toàn là trắm cỏ. Cỡ cá 0,3-0,5kg/con, mật độ 20-25 con/m 3.Thả cá giống vào tháng 10 dương lịch (sau mùa lũ, tránh nước đục).Thu hoạch vào tháng 6 năm sau (trước mùa lũ). Cỡ cá thu đạt 2,5-3kg/con, cá thu 270-400kg/lồng. tiền lãi của mỗi lồng cá (trừ tìên mua cá giống và khấu hao lồng) 4-5 triệu/vụ ( không tính công lao động).
Trong những năm tới, bản Hụm phấn đấu mỗi gia đình có 1 lồng cá trên suối Nậm La và thực hiện bảo vệ tốt đàn cá theo phương châm “phòng bệnh là chính, chữa bệnh khi cần thiết”.
Nguồn: Kinh tế V.A.C chuyên đề dân tộc thiểu số và miền núi ( số 15) 10/4/06








