Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 28/02/2005 21:27 (GMT+7)

“Nông dân điện tử” không còn là chuyện xa vời

- Ông có thể nói cụ thể hơn về dự án này?

- Chương trình Hỗ trợ phát triển toàn cầu, do UNCTAD/UNDP khởi xướng, đã thống nhất một chương trình hỗ trợ nông dân các nước nghèo. Trong đó, tập trung hỗ trợ nông dân tiếp cận với công nghệ thôngtin KHKT và thị trường, dựa trên những tiến bộ của công nghệ truyền thông và Internet. Người dân nghèo sẽ có cơ hội được nắm bắt, thu thập thông tin, giới thiệu sản phẩm trên Internet và tiếp cận thịtrường toàn cầu. Từ đó, khắc phục tình trạng cách biệt giữa nông dân và các thành phần kinh tế khác, cả về kinh tế, thông tin và quan hệ xã hội.

Nhóm các chuyên gia đã chọn 6 nước để làm thí điểm, Việt Nam là quốc gia duy nhất ở vùng Đông Nam Á được lựa chọn. Đối với Việt Nam, đây là điều hết sức may mắn nhờ sự tác động rất lớn của ôngTrần Văn Thịnh, nguyên đại sứ EU tại Việt Nam . Theo đó, bước đầu sẽ lựa chọn 6 tỉnh, mỗi tỉnh chọn 1 xã làm thí điểm. Các tỉnh này đại diện các vùng nghèo khác nhau, gồm Tuyên Quang, Bắc Kạn, HàTây, Thái Bình, Nghệ An và An Giang.

- Để nhận được sự hỗ trợ của dự án, các xã cần có những tiêu chí gì?

- Xã được chọn phải có đường giao thông tương đối thuận tiện, vào được đến xã; phải có sản phẩm (nông sản, tiểu thủ công nghiệp hoặc công nghiệp), đang được tiêu thụ trong nước và quốc tế, chứ khôngphải là hàng hoá chỉ mang tính tự cung tự cấp; đã hoà mạng điện lưới quốc gia; có hệ thống điện thoại; trình độ dân trí ở mức trung bình để có thể tiếp cận thông tin thị trường.

Tiêu chí này do các chuyên gia dự án đưa ra, việc lựa chọn từng xã cụ thể do tỉnh quyết định. Dự án đã được lãnh đạo Đảng, Nhà nước ủng hộ, khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi. Ông Trần Văn Thịnhcòn cùng một số chuyên gia dự án về làm việc với lãnh đạo các tỉnh, huyện, đến từng hộ dân nghèo phỏng vấn để nắm được thực lực, trình độ, và quan trọng hơn là sự tiếp cận dự án của người dân. Nếunông dân không sẵn sàng đón nhận, không cảm thấy thiết thực với họ thì dự án sẽ không mang lại hiệu quả như mong muốn. Nhưng điều rất mừng là tại 6 tỉnh, nông dân đều khao khát về CNTT, khao khát bánđược hàng hoá và thoát khỏi cảnh nghèo.

- Chính quyền xã và nông dân sẽ phải làm như thế nào để có thể tiếp cận nhanh chóng với dự án, trong khi trình độ dân trí tại các xã nghèo chưa cao, thưa ông?

- Với sự hỗ trợ của chính quyền các cấp, các chuyên gia sẽ lựa chọn một địa điểm thích hợp, như bưu điện văn hoá xã, nhà văn hoá xã... để trang bị máy móc, kết nối Internet. Nông dân có thể truy cậpvào các trang web chuyên ngành, nắm bắt thông tin về thị trường, hàng hoá trong và ngoài nước, kỹ thuật canh tác...
Trong quá trình làm việc, cần có sự cam kết của chính quyền địa phương để phối hợp triển khai dự án. Một phần kinh phí của dự án sẽ dành cho đào tạo nguồn nhân lực chủ yếu để tiếp cận CNTT, và hướngdẫn nông dân để họ trực tiếp tìm kiếm thông tin trên Internet.

Các chuyên gia của dự án cũng được cử xuống để hỗ trợ kỹ thuật, như khắc phục sự cố hỏng hóc, đường truyền trục trặc, hay nói cách khác, để bảo trì cho máy móc có thể vận hành lâu dài. Bên cạnh đó,cần thay đổi cách làm tin hiện nay. Hầu hết các thông tin hiện đều mang tính chất bác học, kinh viện, khiến nông dân rất khó tiếp cận.

Bước đầu, chúng tôi sẽ Việt hoá toàn bộ thông tin, sau đó sẽ dân tộc hoá (có thể viết bằng chữ dân tộc). Cuối cùng, khi tiến hành dự án, rất cần sự phối hợp chặt chẽ của nhiều bộ ngành, trước hết làcác bộ Thương mại, NN-PTNT, Bưu chính - Viễn thông, VH-TT. Một số chuyên gia độc lập cũng về các xã, nhưng họ sẽ nghiên cứu nhiều khía cạnh khác để dự án đảm bảo tính khách quan.

Bộ Thương mại giao cho Trung tâm Thông tin thương mại, cơ quan đầu mối tiếp cận và triển khai dự án. Ban đầu, chúng tôi đã lựa chọn 6 tỉnh làm thí điểm; giai đoạn 2 (năm 2005) sẽ mở rộng có chọn lọcra một số tỉnh; sau đó, nhân điển hình và tiến tới phổ cập trên 61 tỉnh thành. Nếu triển khai thuận lợi, đây là dự án có quy mô lớn, ngang tầm khu vực.

- Ông có thể cho biết, đến nay, dự án đã được triển khai như thế nào?

- Chúng tôi đã cùng với các chuyên gia UNDP đi khảo sát thực tế ở 6 tỉnh, tại các xã được lựa chọn; xây dựng một hệ thống dữ liệu cơ bản tại 6 tỉnh.

Ngoài ra, các chuyên gia dự án đã nghiên cứu thêm mô hình làng cổ Bát Tràng (Hà Nội). Điều rất mừng là có 3 công ty của xã này đã giới thiệu sản phẩm trên mạng. Chúng tôi sẽ lựa chọn Bát Tràng nhưmột điển hình mẫu, vì địa phương này đã đi được một bước và tích luỹ được một số kinh nghiệm ban đầu. Trên cơ sở dữ liệu này, chúng tôi sẽ lập dự án tiền khả thi và tính toán chi phí cho toàn bộ dựán, trước khi kêu gọi sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế, các nhà tài trợ. Theo dự đoán, nếu không có gì thay đổi, khoảng tháng 7/2004, dự án sẽ bắt đầu được triển khai.

Bộ Thương mại cũng vừa có công văn chính thức gửi ban quản lý dự án, khẳng định sự quyết tâm của Việt Nam và Bộ Thương mại trong việc tiếp cận, triển khai dự án, cũng như tổ chức kết nối và phối hợpvới các bộ, ngành, địa phương.

- Theo ông, đâu là những trở ngại mà các chuyên gia của dự án sẽ vấp phải?

- Trở ngại lớn nhất mà chúng tôi phải giải quyết đó là sự phối hợp sao cho đồng bộ giữa các ngành, các cấp; thứ hai, tổ chức thực hiện cho tốt để dự án được triển khai một cách nhanh, hiệu quả và cólợi nhất cho người nông dân đạt kết quả ngang tầm khu vực; thứ ba, sự thuyết phục của ban quản lý dự án đối với các tổ chức quốc tế; và cuối cùng là sự bỡ ngỡ ban đầu của nông dân khi tiếp xúc vớicông nghệ mới.

Chúng ta cần đi tắt đón đầu để không chỉ giới có học thức, những người giữ vị trí trọng trách trong bộ máy nhà nước được tiếp cận CNTT, mà đối tượng được hưởng lợi trực tiếp từ dự án này còn là ngườinông dân, các DN vừa và nhỏ, hiệp hội ngành hàng, tổ chức liên quan đến sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.

- Các chuyên gia quốc tế đánh giá như thế nào về tính khả thi của dự án?

- Một thành viên của UNDP làm việc tại NewYork, là người ấn Độ, nói với tôi rằng, qua chuyến khảo sát 6 tỉnh trong cả nước, ông thấy mức sống, trình độ dân trí của nông dân Việt Nam có nhiều điểmvượt trội so với nông dân ấn Độ. Một số xã có cách tổ chức sản xuất hàng hoá tốt. Khi tiếp xúc bất chợt với người dân tộc, ông cũng rất ngạc nhiên khi thấy họ nói được dăm ba câu chào hỏi bằng tiếngAnh. Đây là những điều kiện rất quan trọng để nông dân có thể nhanh chóng tiếp cận được dự án này.

Nguồn: http://www.vnn.vn ngày 03/07/ 2003

Xem Thêm

Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
VUSTA góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi)
Chiều 19/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Tổng hội Y học Việt Nam tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách, bảo vệ quyền lợi của người hiến, bảo đảm công bằng trong điều phối tạng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của y học ghép tạng Việt Nam.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.

Tin mới

Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.
Bác Giáp: Sâu nặng những ân tình với VIFOTЕС
Điều mà những người làm khoa học kính phục ở con người Đại tướng Võ Nguyên Giáp là cả khi khỏe mạnh hay đau yếu, ông vẫn hướng tới việc chung, vì sự nghiệp đổi mới, sáng tạo của đất nước. Khi sức khỏe không còn đủ để đến tham dự các lễ trao giải, tôn vinh nhà khoa học, Đại tướng vẫn dõi theo; các thành viên trong Quỹ và Liên hiệp Hội Việt Nam vẫn đến gặp Đại tướng để báo cáo và nghe chỉ đạo.
Phụ nữ VUSTA: Tự tin tỏa sáng và làm chủ hạnh phúc
Sáng ngày 20/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã tổ chức đã tổ chức Chương trình chúc mừng Ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10. Sự kiện là dịp tôn vinh nét đẹp của đội ngũ nữ cán bộ, người lao động VUSTA, đồng thời lan tỏa những thông điệp truyền cảm hứng về hành trình tự tin, hạnh phúc của phụ nữ.