Nguyễn Trường Tộ một trí thức công giáo thế kỷ XIX (tiếp)
Các dự án cải cách của Nguyễn Trường Tộ xoay quanh 4 trục lớn: ngoại giao và chiến lược, đào tạo nhân tài và canh tân giáo dục, hiện đại hoá và tăng tiến kinh tế, sáng tạo một chữ viết và một văn hoá dân tộc. Những tu chỉnh chính trị (chủ nghĩa lập hiến) và xã hội (cải cách ruộng đất) không công khai nằm trong quan điểm của ông, tuy rằng chúng không phải là vắng mặt trên cơ bản.
Trong vấn đề ngoại giao và chiến lược, trước hết và trên hết Nguyễn Trường Tộ là người ủng hộ sự cởi mở. Những cuộc tiếp xúc, những quan hệ mọi hướng mọi phương vị, dưới con mắt của ông, là chìa khoá đưa tới thành công. Không hề xao lãng những vấn đề quân sự như đôi khi người ta chê trách ông, ông đặt những vấn đề ấy vào trong một cái nhìn mà người ta có thể mệnh danh là nhãn quan từng điều khoản một¸nếu cái nhìn trước và trên hết không phải được gợi ý bởi Sunsi mà ông đã có dịp nêu danh. Một cách đầy ý nghĩa, những chương trình mới mà ông đề xuất cho quân đội duy trì bài học của các nhà cổ điển Trung Hoa, dấu chứng ngược đời của một tính hiện đại thật lớn lao. Chiến lược quân sự của ông lệ thuộc vào chính trị. Nếu vũ khí là yếu tố quyết định trên chiến trường, thì cuộc giao tranh chỉ có thể và chỉ được tiến hành khi mà hội đủ các điều kiện kinh tế, tài chính, ngoại giao và luân lý của cuộc chiến thắng. Mặc dầu ông rất thường hay đi vào các chi tiết kỹ thuật quân sự rất chính xác (ông yêu cầu mua những súng đại liên bắn 100 phát trong một phút) nhưng tất cả dự án của ông cho thấy rằng ông không thấy ở sức mạnh tàn bạo một nhân tố quyết định.
Các nhân vật ưu tú của Việt Nam khi đó chia thành hai phe đối chọi nhau một cách quyết liệt, phe đông phe ít rất chênh lệch nhau. Một số muốn có hoà bình và bất cứ giá nào (nhóm chủ hoà), vì họ sợ sức mạnh của phương Tây, Thường thường đó là các quan chức thật cao cấp đã có đôi lần sang Pháp. Những người khác, cả khối lớn các nhà nho, muốn theo đuổi chiến tranh với bất cứ giá nào (nhóm chủ chiến) và liệt nhóm kia vào hạng phản quốc đáng phải chết. “Một số bị ám ảnh bởi chiến tranh, một số khác bởi hoà bình, trong cả hai trường hợp, không có lấy một ý niệm về tương quan lực lượng, mà cả về một kế hoạch hành động trước mắt và lâu dài cũng không”. Trong bối cảnh đó, Nguyễn Trường Tộ ở vào vị trí rất khó chịu, nằm giữa hai thái cực. Trước mắt, ông đề xuất những nhượng bộ để có thể thở. Kiên trì theo đuổi chủ trương thoả hiệp để tránh những hoạt động quân sự chỉ có thể được trả giá bằng những thảm hoạ, ông không phải là người chủ bại, càng không phải là người chủ hàng nhưng là người biết chờ thời luôn bị ám ảnh bởi ý định phục thù; một cuộc phục thù chưa hẳn sẽ mang mặt hiếu chiến, nhưng có thể thực sự trở thành hung bạo nếu không có một lối thoát nào khác.
Việc định hướng quốc gia đòi hỏi một hiểu biết rất chính xác về những tương quan lực lượng trên hành tinh. “Theo thiển ý của tôi, ông viết trong báo cáo đầu tiên về tình hình chính trị quốc tế vào mùa xuân năm 1863, tất cả trong thế giới đều tuỳ thuộc vào cái thế. Từ “thế” này cùng một lúc chỉ khía cạnh vật chất và khía cạnh nhân bản của sự việc. Khái niệm rất cổ điển này đưa vào một khai triển hoàn toàn mới về sự bành trướng của các thế lực Tây phương, dù đó là các cuộc chinh phục của Anh hay của Pháp tại Phi châu hay Á châu hoặc đó là sự đẩy mạnh chiến tranh của Nga xuyên qua Siberie về hướng Nhật Bản. Nền độc lập của đất nước chỉ có thể duy trì được khi biết lợi dụng những cuộc tranh giành ấy và bằng cách vô hiệu hoá tất cả các lực lượng kia, nước này bởi nước khác. Nguyễn Trường Tộ đưa ra thí dụ, vào năm 1868, Nhật Bản đã bắt đầu trở thành “một cường quốc nhỏ ở châu Á” và Xiêm đã “ra khỏi cơn mê ngủ của mình”. Xứ xở này đã mời người Anh người Pháp đến trên đất nước như những người bạn, đã tiếp đón người Tây Ban Nha, người Bồ Đào Nha như những khách hàng. Xiêm đã cho phép nhiều nước buôn bán một cách tự do. Nhất lượt, Xiêm làm chủ trong nhà mình”. Không kể gì cái vẻ bề ngoài, việc mở ngỏ ấy không thể đồng hoá với một sự đầu hàng được. Nó nằm ở điểm đối cực (rất xa) với đầu hàng, và tuân theo những nguyên tắc đã được nói lên một cách rõ ràng từ tháng 3 năm 1863 trong phần thứ hai của báo cáo về “sáu trung tâm các mối lợi” (Lục lợi tụ). Báo cáo này hoạch định 6 trục hành động: chận sự bành trướng của người Pháp bằng các thế lực khác, thúc đẩy họ xung đột với nước Pháp, dựa vào các thế lực đó để cô lập nước Pháp, dựa vào các thế lực đó làm áp lực trên nước Pháp, dùng những người Pháp để chống lại những người Pháp, dùng những người Pháp để đánh nhau với người Pháp. Chuyển biến theo các biến cố, những mỗi ưu tiên tạm thời của chính sách này có thể thay đổi. Tuỳ theo thời thế, khi thì Nguyễn Trường Tộ quay về nước Anh, khi thì quay về Tây Ban Nha, kể cả phía Giáo hoàng; ông có dịp nêu ra gương nước Nhật Bản hoặc gương nước Xiêm, vấn đề Căm Bốt hoặc xung đột Pháp/ Phổ. Những định hướng của ông sẽ vẫn luôn được duy trì trong khuôn khổ ban đầu đã được hoạch định từ năm 1863.
Trên bình diện quan hệ quốc tế, Nguyễn Trường Tộ không hề là một nhà không tưởng mà cũng không phải là một người bất bạo động. Đơn thuần chỉ là người Việt Nam yêu nước đầu tiên theo kiểu mẫu mới chỉ là một đồ đệ của chính trị thực tế (reelpolitick) không thể đóng vai trò chủ động mà mình mong muốn, để đem lại cho quê hương nền độc lập và sự thịnh vượng, mà không hề tách biệt chuyện này với chuyện kia chút nào. Trong các bản báo cáo, ông không bằng lòng nói lên những ý tưởng, ông còn đề nghị phần phục vụ của ông để đem những điều ấy ra thực hiện. Tinh thần dân tộc của ông mạnh đến nỗi vào cuối cuộc đời ông, nó mang một sắc thái quá khích khi mà tình hình trở nên tuyệt vọng. Năm 1871, khi mà cuộc kết thúc xung đột Pháp/ Phổ làm tan biến cái viễn cảnh một sự hỗ trợ bên ngoài để chống lại nước Pháp mà phân tích vô song này đòi trở thành người hành động. Ông tự nguyện làm gián điệp cho Tự Đức nhằm mục đích tạo nên một đòn Jarnac ở bên trong doanh trại Pháp, lập một kế hoạch trung hạn trải dài trong 2 năm, ông trù tính bện một mạng lưới bí mật nhờ vào những quan hệ đặc biệt của ông với Giám mục Gauthier và quan Thống sứ Nam kỳ. Ông sẽ đưa những người được từ miền Bắc vào tại chỗ, ông tổ chức chiến dịch quấy động ủng hộ sự nổi loạn nơi những thành phần ưu tú xứ Nam kỳ mà người ta không thể nghi ngờ gì được ông, và bằng cách đó ông có thể đi tới chỗ lật đổ chính quyền thực dân khi cơ hội đến, có lẽ là nhân dịp một cuộc diễu binh do Đô đốc chủ toạ. Văn bản này đi xa đến độ nhắc tới cả việc thảm sát người Pháp do những người da đen tại một thuộc địa, dường như là tại Haiti . Là một người có óc rất thực tế, Nguyễn Trường Tộ chỉ muốn ăn miếng trả miếng với người Pháp. Đòn bịp bợm do ông trù tính thực hiện ngược lại âm mưu của Napoléon III đã bí mật gửi trung sĩ Duval đến để duy trì cuộc nổi loạn ngoài Bắc, nhằm mục đích làm cho Huế phải dễ dàng phê chuẩn thoả ước ngày 5 tháng 6 năm 1862 nhường ba tỉnh phía đông Nam kỳ cho Pháp. Quá khích cả về mặt thời gian cả về mặt nội dung và cũng vô sỉ không thua gì mánh khoá chính trị thực dân mà ông chống đối, dự án cuối cùng của Nguyễn Trường Tộ bỗng chốc soi sáng một cách kỳ cục tất cả các bản cáo khác, có tính ngoại giao nhiều hơn, mà ông đã thảo trước đó. Thật ngược đời, thái độ của ông cùng một kiểu như thái độ của những người Việt Nam Cộng sản đã thâm nhập vào bộ máy chính quyền Sài Gòn từ những năm 1951. Nhờ bản điều trần này soi sáng chúng ta không thể nào tách rời óc đàm phán ra khỏi lòng yêu nước hết sức nồng nhiệt trong nhà chính trị học này. Ngọn lửa yêu nước không có gì dập tắt được này rất tiếc lại không phải là đặc tính lớn được người ta chú ý trong các chân dung đã được phác hoạ về con người ông. Chắc hẳn đức tin Công giáo của ông đã đóng góp vào đó, người Kito hữu thường không được nhận ra dưới góc độ đó, không phải là không có lý do. Ấy thế mà sự “cuồng nhiệt được là người Việt Nam” của ông, để dùng chính kiểu nói của Jean Claude Pomonti, lại không tác rời ra khỏi những gì đã làm cho ông thành nổi danh: các chương trình hiện đại hoá của ông.
Nền chính trị đối ngoại do Nguyễn Trường Tộ đề xuất dựa vào một cuộc canh tân sâu rộng giới trí thức và nền giáo dục đào tạo ra giới đó. Chống lại hệ thống giáo dục đang thịnh hành thời mình, ông đã đưa ra một bản luận tội chua chát còn đi xa hơn những chê trách về hình thức chủ nghĩa và sự trì trệ xuất phát từ các nhà nho sáng suốt nhất và từ các nhà vua như Minh Mạng và Tự Đức, tuy ý thức về những mặt yếu của bộ máy mà lại không phát hiện ra nguyên nhân. Nguyễn Trường Tộ cho rằng tất cả những gì đang được dạy chẳng có quan hệ gì tới thế giới ngày hôm nay, mà cũng chẳng có quan hệ gì với đất nước của chúng ta. Làm sao mà người ta có thể đòi hỏi ở những nhân vật đã sống cách đây hằng một nghìn năm phải góp ý về những giải pháp cho các vấn đề rất mới được đặt ra cho chúng ta cơ chứ? Hơn nữa, tất cả những tác phẩm cổ điển ấy, chìm nập trong một thứ biệt ngữ khó hiểu được viết bằng chữ Hán và tập trung trên cuộc sống của Trung Quốc (Empire du milieu). Những nỗ lực lớn lao đòi phải có để tiêu hoá những thứ đó vừa vô ích lại vừa vô lý. Hỏi có ích gì để mà phải mệt nhọc học thuộc lòng tên những nhân vật sống ở những nơi xa xăm lạ hoắc từ rất lâu đời, trong khi có bao nhiêu môn học hiện đại chính xác đáp lại được những nhu cầu riêng của chúng ta?
Nguyễn Trường Tộ chỉ trích dẫn Khổng Tử để đánh đổ từ cơ sở những người còn tiếp tục viện vào ngài. Đức Khổng đã chẳng nói: “Để làm tốt một công việc, một người thợ trước hết phải có những dụng cụ tốt”. Dụng cụ trí tuệ mà nhà cải cách của chúng ta nghĩ tới là tinh thần khoa học Tây phương, bắt đầu từ các môn khoa học tự nhiên. Ngoài ông và Bùi Dương Lịch ra, không có một nhà trí thức nào của thời đó lại nghĩ đến việc dành cho các ngành khoa học tự nhiên một chỗ nhỏ bé nhất trong giảng dạy. Đứng trước kỹ thuật tân tiến, giới ưu tú Khổng Mạnh lúc đầu chỉ có phản ứng chối từ, trong phản ứng ấy vừa là thái độ kinh ngạc, vừa là thái độ khinh dễ và tẩy chay hoà lẫn vào nhau một cách mâu thuẫn, vì chứng hiệu năng không thể hiểu nổi ấy cuối cùng lại được họ gán cho một quyền năng ma thuật xấu xa. Trên lý thuyết, vị quan tốt sẽ có được hiệu năng (thực dụng) nhờ vào đời sống luân lý tốt. Từ nay trở đi tính hiệu năng đó sẽ có được là nhờ sự chuyển môn, nhờ một sự hiểu biết và một kỹ thuật phù hợp. Các chương trình và các cuộc thi tuyển sẽ thay thế cách nhồi sọ từ chương cũ. Một chương trình sẽ đề cập trực tiếp hơn đến thế giới của hành tinh: canh nông, thiên văn học, địa lý và địa chất học; Một chương trình khác về kỹ thuật: cơ khí và toán học; Một chương trình khác về hành chính và quản lý: luận học, chính trị học, ngoại ngữ, Nguyễn Trường Tộ xác định rõ là ưu tiên sẽ học tiếng Pháp, Anh, Tây Ban Nha, Trung Hoa, Java, Cam Bốt và Lào.
Nếu một bộ phận của giới ưu tú mới này sẽ phải ra nước ngoài học thì một bộ phận khác sẽ được đào tạo tại chỗ trong chính tiến trình hiện đại hoá nền kinh tế phải thực hiện ngay lập tức không thể trì hoãn được nữa, vì chúng có thể củng cố quân đội và quốc gia, dứt khoát là đất nước phải thoát khỏi cảnh nghèo đói và các điều kiện sinh sống của hết mọi người phải được cải thiện. Một chính sách thực tế chuyển biến theo thời thế sẽ được phép thực hiện được chuyện đó. Nhờ đó người ta sẽ xoay chiều sự đe doạ quân sự trực tiếp bằng cách chuyển tuột những vấn đề chiến lược quân sự sang chuyên môn kinh tế trong một thế giới cạnh tranh, mà trong đó Việt Nam sẽ tìm được vị trí của mình, nhờ ở một số nhượng bộ khác bù lại. Chỉ có thể độc lập trong một bối cảnh tuỳ thuộc lẫn nhau, đó là ý tưởng ở đằng sau tất cả tư tưởng của Nguyễn Trường Tộ, người đã đưa ra những đề nghị đôi khi khá chi tiết trong hầu hết các lĩnh vực. Nhờ ở sự chính xác và chín chắn, ông vượt xa tất cả những nhà tư tưởng Việt Nam khác đồng thời với ông, kể cả Đinh Văn Diên và Nguyễn Lộ Trạch là những người đã viết sau ông, như Trần Văn Giàu đã lưu ý.
![]() |
| Dòng thánh Paolô ở Sài Gòn do Nguyễn Trường Tộ xây cất |
Chương trình “vay tiền ở Hồng Kông để củng cố quốc phòng”, được thảo vào tháng 4 năm 1868, tiết lộ cho ta thấy rất rõ chiều hướng tư tưởng của Nguyễn Trường Tộ tính cẩn trọng trong việc thông tin và trong các kế hoạch của ông, cũng như tính kết hợp chặt chẽ giữa những yếu tố khác nhau trong các chương trình của ông. Chắc chắn đó là một trong những văn bản đầu tư xuất phát từ một người trí thức của những nước mà ngày nay được gọi là thế giới thứ ba, nhìn vấn đề phát triển kinh tế dưới góc độ của một viện trợ tài chính từ thị trường tư bản quốc tế. Sau khi trích dẫn các nhà cổ điển Trung Hoa để dễ thuyết phục nhà vua và các quan đại thần hơn về vai trò chủ yếu của đồng tiền và nhắc đến tình trạng càng ngày càng nghèo của toàn xã hội, đã kiệt sức trong mọi lĩnh vực, Nguyễn Trường Tộ cho biết rằng bên Tây phương các quốc gia đi vay tiền của các thương gia giàu có và sau đó trả lại với một khoản tiền lời, thì không có gì phải mất mặt cả. Vì thế ông đề xuất vay từ 8 đến 9 triệu đô la của những công ty thương mại lớn ở Hồng Kông và xác định rằng: “Tôi bảo đảm là có thể mượn được số tiền ấy”. Người ta sẽ tuân thủ những cung các đang được áp dụng trong các nước Tây phương và sẽ nhờ chính quyền Anh ghi nhận nghiệp vụ này. Việc hoàn trả sẽ được trải ra trong thời gian và sẽ được thực hiện hoặc bằng tiền mặt, hoặc bằng hàng hoá. Những khoản tín dụng này sẽ phục vụ chủ yếu việc mua một hạm đội quân sự để dẹp bọn hải tặc đang hướng hoạt động của chúng vào miền Trung và miền Bắc từ sau khi hạm đội Pháp đã đánh tan chúng ở bờ biển phía Nam và để thành lập một đội kỵ binh. Việc hình thành đơn vị mới này đã được trù tính một cách khéo léo bằng cách cùng một lúc quan tâm đến vấn đề tiền bạc và những yếu tố tâm lý và xã hội. Từ bốn đến năm trăm con ngựa sẽ được mua ở Manilalà nơi có giá rẻ nhất. Các kỵ binh mã Việt Namsẽ được những người Philippines huấn luyện vì họ thích nghi dễ hơn với khí hậu và điều kiện ăn ở của một nước gần với họ.
Nguyễn Trường Tộ là người Việt Nam đầu tiên, và trong một thời gian khá dài, là người Việt Nam duy nhất đã nhìn vấn đề phát triển kinh tế của Việt Nam trong một khuôn khổ của chủ nghĩa tư bản không rơi vào lệ thuộc Pháp hay một cường quốc nào khác. Sự tích luỹ, dưới cái nhìn của ông, là một vấn đề then chốt mà ông nói lên theo cách nói của mình: “Ngày nay, ông đã ghi điều mà chúng ta thiếu nhất đó chính là tài nguyên và tiền của”. Nếu điều ông lưu ý chưa hẳn đã là điều độc đáo (Tự Đức cũng đã nói như thế) thì ít ra biện pháp mà ông đưa ra quả là độc đáo. Đối với tác giả của chúng ta, lợi ích của các cá nhân và lợi ích của quốc gia yểm trợ cho nhau, chính quyền phải ủng hộ việc hình thành những công ty thương mại và kỹ nghệ, phải vay vốn, phải tạo những trung tâm đô thị lớn để thu hút các giới làm ăn, phải tạo điều kiện tốt cho việc vận chuyển đường bộ và đường sông. Ngược lại với cách làm cổ điển cho đến thời ấy, trọng điểm sẽ được đặt nơi thương mại và kỹ nghệ, đặc biệt là các mỏ, vào thời đó đang trên đà xuống dốc và hoàn toàn nằm trong tay người Trung Hoa. Một bộ máy hành chính theo kiểu mới về thống kê, điều tra dân số, địa bạ sẽ được thành lập. Chế độ thuế khoá, được tổ chức lại tuỳ theo độ phì nhiêu của đất đai và khối lượng khoản thu nhập sẽ trở thành công bằng hơn.
Các kế hoạch kể trên không hề coi thường nông nghiệp, vấn đề cơ bản, đối tượng của những cuộc phát triển lâu dài vì phần đông dân chúng trong nước sống bằng đất đai. Về vấn đề đã được bàn đi tính lại mãi này, (ca tụng, khuyến khích, thậm chí còn muốn cải cách các định chế ruộng đất nữa, điều ấy như đã là một truyền thống rồi), Nguyễn Trường Tộ tìm được cách để đưa ra một số ý kiến mới đối với trong nước thời ông, đặc biệt về việc bảo quản tài nguyên nông nghiệp, ngư nghiệp và lâm sản. Tư tưởng của ông tuy vậy cũng còn rất cổ điển trong lĩnh vực này, ông không đề cập đến vấn đề điền tô cũng không đề cập đến vấn đề tư hữu là vấn đề sẽ làm chảy không biết bao nhiêu là mực (và máu) sau này.
Cũng khá cổ điển trong kế hoạch hình thành một chữ Quốc ngữ. Ít là, lúc đầu người ta đã thấy, Nguyễn Trường Tộ chỉ trích rất dữ dội nền giáo dục truyền thống, hoàn toàn dựa trên một ngoại ngữ là chữ Hán, đọc theo kiểu Việt Nam . Cách viết các kiến thức mà cách viết ấy chuyên chở làm cho cái khối quần chúng bị cắt rời khỏi những thành phần ưu tú của họ, vì những người này diễn tả bằng chữ Hán - Việt trong khi mà nước Nhật, Triều Tiên và Xiêm đã đặt ra những công cụ diễn tả riêng cho quốc gia họ (chữ viết và văn hoá bác học). Tại Việt Nam từ thế kỷ XIII, một chữ viết ghi theo ý được cảm hứng từ Chữ Hán cho phép diễn tả tiếng nói dân tộc nhờ ở những chữ gọi là chữ Nôm. Lãnh tụ kháng chiến Tây Sơn khi trở thành hoàng đế dưới danh hiêu Quang Trung vào cuối thế kỷ XVIII đã quyết định thay thế chữ Hán bằng chữ Quốc ngữ đã sử dụng kiểu chữ viết này. Nhưng từ đầu thế kỷ XIX, người sáng lập triều Ngueyẽn, vua Gia Long đã phục hồi chữ được dùng trước kia. Một nhà cải cách yêu nước như Nguyễn Trường Tộ không thể không tự đặt ra cho mình vấn đề then chốt là chữ viết và tiếng nói, là vấn đề chi phối tất cả sự giao lưu và nhất là khi ông cho rằng việc xuất bản một nhật báo là điều thiết yếu hết sức. Giải pháp mà ông đề xuất làm ngạc nhiên. Từ thế kỷ XVII, các thừa sai, được sự giúp đỡ của người dân trong xứ, đã viết tiếng Việt bằng mẫu tự Roma, cách phiên âm này, dưới cái tên “quốc ngữ” (language nationale) đã không được sử dụng ngoài môi trường Công giáo cho đến thời thực dân Pháp. Người Pháp đã phổ biến chữ viết đó khi hỗ trợ việc thành lập một tờ nhật báo. Có phải vì lý do ngoại giao để tránh sự va chạm vô ích hay vì những lý do thâm sâu nào khác? Có điều là Nguyễn Trường Tộ không bao giờ nhắc đến thứ chữ viết La tinh riêng của Giáo Hội và chỉ đề nghị việc hệ thống hoá và phổ biến chữ Nôm đã được dùng trong văn chương bình dân và thi ca.
“Chúng ta có… những nhà thông thái có khả năng sáng tác những chữ viết để tiếng nói của chúng ta, ông viết; nhưng chúng ta quen với chữ Hán, và sợ rằng dân chúng sẽ bị lạc hướng vì một thay đổi triệt để. Việc tốt để làm bây giờ là bảo quản nguyên vẹn những chữ Hán chuyển dịch chính xác các âm của tiếng nói chúng ta và gán cho những chữ viết đó một cái nghĩa của tiếng nói nước Nam, thì chỉ cần thêm vào đó một vài nét để biến chúng thành chữ của nước Nam . Tiếp theo đó, điều quan trọng là liệt kê các chữ của ngôn ngữ và xuất bản thành một từ điển, phân phát cho các trường học và các văn phòng. Cách phát âm chữ Hán theo kiểu quốc gia này (quốc âm Hán tự) rất dễ học hơn các chữ của nhà Nho (chữ Nho). Tất cả những ai sẽ viết, phải viết theo kiểu chính tả đã được ấn định, không được thay đổi một mảy may chi tiết; các văn sĩ có thể viết những sách bằng chữ Hán, nhưng các văn kiện hành chính sẽ phải được thảo bằng chữ Quốc ngữ do Triều đình ấn định”. Giữa thời mà chữ Quốc ngữ đã được áp đặt thì cách nhìn này thường được coi chẳng cải cách bao nhiêu. Với ánh sáng của những tiến triển trong vùng Đông Á, người ta có thể tự hỏi cách phán đoán như vậy có cơ sở hay không. Cách viết bằng mẫu tự Roma có tạo thuận lợi cho việc phổ biến khoa học và hiện đại hoá hay không? Trong khung cảnh Việt Nam, Léon Vandermeersch cho rằng “thay vì là một bước nhảy vọt của cả một đất nước lên trình độ các nước tiên tiến, kết quả chỉ là mở cho giới ưu tú Việt Nam, từng cá nhân một, những con đường đưa đến việc đồng hoá hoàn toàn nền văn hoá Tây phương, bằng cách làm cho họ mất gốc thôi… Trái lại điều mà sự thành công ở Nhật Bản cho thấy, ông nói tiếp, là chữ Hán đã có thể trở thành trung gian tốt nhất của việc hiện đại hoá mà đồng thời vẫn tiếp tục cắm sâu việc hiện đại hoá ấy vào mảnh đất của tính đồng nhất của nền văn hoá dân tộc”. Người ta không thể đồng hoá với chủ trương bảo thủ ý muốn phổ biến chữ Nôm của Nguyễn Trường Tộ được. Đây là một điểm trong các cải cách của ông đòi hỏi những nghiên cứu chuyên sâu hơn để nắm bắt tốt hơn tư duy và những động lực của ông về vấn đề cuối cùng phức tạp hơn chúng ta tưởng khi mới nhìn qua. Dù câu trả lời có là thế nào đi nữa, thì đề nghị của ông minh chứng rằng Giáo Hội có một chút gắn bó nào đó với chữ Hán, nếu người ta nghĩ rằng vì lời yêu cầu của Vị Tông toà mà Nguyễn Trường Tộ đã đến dạy chữ Hán cho các chúng sinh.
Nhà cải cách của chúng ta cũng không đề xuất sự thay đổi các định chế chính trị. Hoạt động của ông trước hết là về mặt hành chính: thiết lập những đạo quân mới (hải và kỵ binh), hình thành một hệ thống lưu trú và lương Bảng, giảm nhẹ hành chính bằng cách bãi bỏ các huyện để bớt kinh phí, tăng lương cho các quan lại để xoá bỏ nạn tham nhũng, thiết lập các thống kê cải cách địa bạ, cải cách điều tra dân số và chế độ thuế khoá, mở những nhà nuôi trẻ mồ côi và những cơ quan cứu trợ công cộng. Cho dù có những giới hạn, những biện pháp nêu trên quả thực là một xáo trộn lớn. Nhà chuyên môn thắng thế trên nhà nho là những người đã thống trị cho tới lúc đó trong mọi lĩnh vực với cùng một sự không chuyên môn, như thế là nhà chuyên môn loại nhà nho ra ngoài. Người ta hiểu được giới quan lại đã bực bội như thế nào. Quả là một thế giới đảo lộn.
Trong địa hạt chính trị, đóng góp có tính cải cách nhất liên quan đến tính mệnh lệnh của lề luật, trái ngược hẳn với tính võ đoán và với kiểu nói suông nặng tính luân lý vẫn thống trị cho đến lúc bấy giờ. Xã hội mà người ta nhằm tới là một xã hội của luật pháp. Tính chính xác và tính phổ quát của luật Tây phương được coi như đồng nghĩa với tính đúng đắn và công lý. Việc áp dụng luật pháp cho hết mọi cá nhân, không một phân biệt nào, thay vì hại cho con người, lại chỉ có lợi cho con người mà thôi. “Sự nghiêm ngặt của luật pháp xét bề ngoài có vẻ vô nhân đạo, ông viết, nhưng thực ra lại là nhân đạo nhất. Là đỉnh vòm của chính trị, luật pháp… trên nhà vua, mà nhà vua cũng phải tuân thủ. Hành pháp, được tách rời khỏi tư pháp, chỉ có thể áp dụng chính sách bằng các toà án, mà không được can thiệp trực tiếp, trừ một vài trường hợp để ân xá. Nhờ đó nhà vua bảo vệ được quyền phép và uy thế của mình, bởi vì là luật pháp thi hành hay trừng trị chứ không phải nhà vua. Sự bình đẳng trước pháp luật như thế có một phương diện dân chủ nhưng không phải vì thế mà là một chế độ đại nghị. Thế ai sẽ soạn thảo ra lề luật có tính độc lập với chính quyền ấy? Nguyễn Trường Tộ không xác định điều đó. Ông không quan tâm đến các thể thức đại diện của dân hay của dư luận. Đó chính là cái thiếu sót lớn nhất của các kế hoạch của ông, cuối cùng chỉ giới hạn trong việc cải cách chế độ quan lại trong chiều sâu. Nhưng, khác xa với việc vá víu tạm bợ, việc cải cách này là một cuộc lột xác, một cuộc cách mạng. Nó biến cái hệ thống hành chánh thiên triều cũ kỹ lạc hậu thành một cơ chế kỹ thuật kiểu mới. Việc không nhắc đến các thể chế dân chủ Tây phương không nên làm chúng ta ảo tưởng. Nó không đồng nghĩa với chủ trương bảo thủ và không hẳn sẽ tạo nên một bất lợi cho việc canh tân và phát triển. Kinh nghiệm của những quốc gia bị Tàu hoá từ hơn một thế kỷ nay, đặc biệt kinh nghiệm của các “Quốc gia xưởng thợ”, đã minh chứng rộng rãi sức năng động của cơ cấu kỹ thuật mới được phép vào cái nền văn hoá Khổng Tử như thế nào. Như Léon Vandeermeersch đã ghi nhận, người ta khám phá trong đó, ngoài những khác biệt về chính trị và ý thức hệ, “một cung cách chung của phát triển đem lại cho nhà máy, cho Quốc gia và xã hội, một hình dáng toàn bộ mà mực độ” “Tây phương hoá” càng tăng lên thì thật là ngược đời, sự cách biệt với hình dáng toàn bộ ở Tây phương càng rõ nét.
Duy chỉ có một mình Việt Nam làđã không đi vào trong trào lưu chung của các nước láng giềng. Thế nhưng Nguyễn Trường Tộ đã muốn đưa Việt Nam vào trong trào lưu đó với những lý do phức tạp đáng chúng ta dừng lại để tìm hiểu.








