Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 17/02/2009 15:12 (GMT+7)

Nguyễn Hoàng và đất phương Nam

Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân

Câu nói như là một dẫn dắt, liên quan đến cả vận mệnh dân tộc. Sự tranh giành quyền lực của họ Trịnh đã tạo nên một biến động lớn để đưa Nguyễn Hoàng vào đất Thuận Hóa (1558), đến nơi  “ô châu ác địa”, Đoan Quốc Công Nguyễn Hoàng đã thực sự tự nguyện đi đày. “Ở nơi ấy, Nguyễn Hoàng không thể tranh chấp quyền hành với mình”; nghĩ như thế nên Trịnh Kiểm đã đồng ý để vua Lê cử ông đi ngay. Và cũng nhờ thế, từ thời điểm đó, lịch sử Việt Namđã mở ra một trang sử mới cho sự phát triển Tổ Quốc: đất nước đã được mở rộng về tận phương Nam !

Được lệnh vào Nam năm Mậu Ngọ (1558), bất chấp cả thời tiết mùa đông giá rét, ông giong buồm đi ngay. Hàng ngàn đồng hương và nghĩa dũng ở Tống Sơn - Thanh Hóa theo ông rất đông. Khi đoàn thuyền đi qua Thanh Nghệ Tĩnh, nhiều người hưởng ứng đem cả vợ con theo ông. Các danh thần cùng đi có Nguyễn Ư Dĩ, Tống Phước Trị, Mạc Cảnh Huống…

Nguyễn Hoàng thực sự là người có tài đức, chỉ với tư cách là người trấn thủ, nhưng ông còn là một vị tướng mưu lược, đồng thời cũng là một vị lãnh đạo khôn ngoan, lại có lòng nhân đức, thu phục hào kiệt, vỗ về dân chúng và chăm lo phát triển kinh tế trong vùng mình trấn nhậm, nên dân chúng Thuận Hóa rất cảm mến ông, họ đã gọi ông là Chúa Tiên, mặc dù đương thời ông chỉ có chức Đoan Quốc Công. Ông đã nhẫn nhịn để chờ thời cơ, không manh động với địch thủ đã giết người thân của mình, lập chí lớn, gây dựng cơ nghiệp lâu dài để lại cho con cháu mai sau. Lịch sử đã có lần coi ông như một Nỗ Nhĩ Cáp Xích, người sáng lập ra nhà Hậu Kim, tiền thân của nhà Thanh trong lịch sử Trung Quốc sống cùng thời với ông. 

Cũng nhờ tài năng đặc biệt, năm 1569 khi ra chầu vua Lê, ông được giao trấn thủ luôn đất Quảng Nam . Ảnh hưởng chính trị của ông lan rộng đến tận Đồng Xuân, Tuy Hòa.

Năm Quý Tỵ (1593), Nguyễn Hoàng đem quân ra Đông Đô yết kiến vua Lê. Vua an ủi rằng: “Ông trấn thủ hai xứ, dân nhờ được yên, công ấy rất lớn” ( Đại Nam thực lục, trang 33), lần ra Bắc này, ông đã giúp Trịnh Tùng đánh dẹp dư đảng họ Mạc. Trong suốt 8 năm, vì lập được nhiều chiến công nên ông lại bị Trịnh Tùng lo ngại, nảy ý hãm hại, nên năm Canh Tý (1600) một lần nữa , ông đã giong buồm chạy thẳng ra khơi, để con trai thứ năm là Hải và cháu là Hắc ở lại làm con tin, còn ông một mình trốn vàoThuận Hóa tìm đường sống. Từ đó, ông vượt đèo Hải Vân vào Quảng Nam , xây Trấn Dinh ở Cần Húc (Duy Xuyên), cử con trai thứ sáu vào trấn nhậm. Quảng Nam là nơi đất tốt, dân đông, sản vật giàu có.

Thế lực của Nguyễn Hoàng ở phía Nam được xác lập khi Khám lý phủ Hoài Nhơn (Bình Định) Trần Đức Hòa (thuộc một gia đình có thế lực lớn nhiều đời, ông nội, cha, và bản thân vốn là bề tôi của nhà Lê) đến yết kiến.

Trong Phủ Biên Tạp Lục, Lê Quý Đôn (1726 – 1784), đã viết về xứ Thuận Quảng dưới sự cai quản của ông (trong năm 1572) như sau:

“Đoan Quận Công có uy lược, xét kỹ, nghiêm minh, không ai dám lừa dối. Cai trị hơn 10 năm, chính sự khoan hòa, việc gì cũng thường làm ơn cho dân, dùng phép công bằng, răn giữ bản bộ, cấm đoán kẻ hung dữ. Quan dân hai xứ thân yên tín phục, cảm nhân mến đức, dời đổi phong tục, chợ không bán hai giá, người không ai trộm cướp, cửa ngoài không phải đóng, thuyền buôn ngoại quốc đều đến mua bán, đổi chác phải giá, quân lệnh nghiêm trang, ai cũng cố gắng, trong cõi đều an cư lạc nghiệp. Hàng năm nộp thuế mà để giúp việc quân, việc nước, triều đình cũng được nhờ…” ( Phủ Biên Tạp Lục, Nxb Khoa Học, 1964, trang 42).

Năm Giáp Thìn (1604), ông chia đặt lại các đơn vị hành chính  thuộc xứ Thuận Hóa, đổi phủ Tiên Bình làm phủ Quảng Bình (ngày nay là nửa phía bắc tỉnh Quảng Trị và Quảng Bình); lấy huyện Điện Bàn phủ Triệu Phong (phần còn lại ngày nay là nửa phía nam tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên Huế) đổi làm phủ Điện Bàn, Quảng Nam; đổi phủ Tư Ngãi làm phủ Quảng Ngãi;  đổi phủ Thăng Hoa làm phủ Thăng Bình, trong phủ này, huyện Lê Giang đổi làm huyện Lễ Dương, Hy Giang làm huyện Duy Xuyên;  phủ Hoài Nhơn như cũ.

Thuận Quảng vốn là đất cũ của Chiêm Thành, vùng đất này chịu nhiều ảnh hưởng của văn hóa Chămpa, ông đã lấy giáo lý Phật giáo để thuần hóa, thuần tính nhân dân dưới quyền ông. Ông cho sửa sang và xây dựng nhiều ngôi chùa: năm 1602 cho sửa chùa Thuần Hóa ở xã Triêm Ân (huyện Phú Vang); dựng chùa Long Hưng (phía đông Trấn Dinh, huyện Duy Xuyên). Năm 1607 dựng chùa Bảo Châu ở Trà Kiệu. Năm 1609 dựng chùa Kính Thiên ở Quảng Bình.

Nhưng công việc có giá trị nhất là ông đã cho xây dựng chùa Thiên Mụ (1601) tại Thuận Hóa. Ngôi chùa lịch sử đã có mối quan hệ rất mật thiết với quá trình phát triển đất Thuận Hóa và triều Nguyễn của nước ta.

Sách Đại Nam Thực Lụcchép: “Năm Tân Sửu 1601, bắt đầu dựng chùa Thiên Mụ. Bấy giờ chúa dạo xem hình thể núi sông, thấy trên cánh đồng bằng ở xã Hà Khê (thuộc Huyện Hương Trà) giữa đồng bằng nổi lên một gò cao, như hình đầu rồng quay lại, phía trước thì nhìn ra sông lớn, phía sau thì có hồ rộng, cảnh trí rất đẹp. Nhân thể hỏi chuyện người địa phương, họ đều nói rằng gò này rất thiêng. Tục truyền rằng, xưa có người đêm thấy bà già áo đỏ quần xanh ngồi trên đỉnh gò nói rằng: “sẽ có vị chân chúa đến xây chùa ở đây, để tụ khí thiêng, cho bền long mạch”; nói xong bà già biến mất. Bấy giờ nhân đấy mới gọi là núi Thiên Mụ. Chúa cho là núi ấy có linh khí, mới dựng chùa gọi là chùa Thiên Mụ”.

Ngoài việc chăm lo cho đời sống nhân dân trong xứ, Nguyễn Hoàng đã tổ chức được một đội quân hùng mạnh, đủ sức bảo vệ vùng đất mới, nhất là đội thủy binh, như vào năm Kỷ Mùi (1559), khi mới “định cư” chưa tròn 1 năm, tàu Tây Ban Nha đã đến gây rối vùng biển nước ta, chúng đã bị lực lượng phòng thủ vùng biển của ta cảnh cáo. Theo tài liệu “ Thủy quân Việt Nam ngày xưa” của Lê Tiến Công (đăng trên website Viethoc) ghi lại:

“…Mờ sáng ngày 3-9-1559 quân Tây Ban Nha thấy cả một rừng lưỡi giáo tua tủa quanh các núi dọc nơi đậu thuyền, đồng thời có nhiều chiếc thuyền mang chất cháy đi hàng ba nhằm thẳng tàu Tây Ban Nha tiến tới; cùng  lúc đó, pháo từ các đồn lũy trên bờ phát hỏa. Cảm thấy bị phục kích và tấn công, hạm thuyền Tây Ban Nha vội bỏ chạy và nhờ trận gió Tây, quân Tây Ban Nha mới thoát nạn …”.

Vào năm Ất Dậu (1585), thuyền Tây phương lại đến quấy nhiễu, sách Đại Nam Thực Lụcchép: “Năm Ất Dậu (1585), bấy giờ có giặc nước Tây dương hiệu là Hiển Quý đi 5 chiếc thuyền lớn đến đậu ở Cửa Việt để cướp bóc ven biển. Chúa sai hoàng tử thứ sáu lĩnh hơn 19 chiếc thuyền, tiến thẳng đến cửa biển, Hiển Quý sợ chạy. Chúa cả mừng nói rằng: “Con ta thực là anh kiệt” và thưởng cho rất hậu. Từ đó, giặc biến im hơi…”.

Năm Tân Hợi (1611), quân Chiêm Thành vượt đèo Cù Mông xâm phạm biên giới, ông sai người đem quân đánh đuổi và lấy đất đặt thêm phủ Phú Yên, mở rộng xứ Quảng Nam đến đèo Cả

Một trong những lĩnh vực được chúa quan tâm đó là thương mại, chỉ trong vòng mấy thập niên, ông đã biến đổi Đàng Trong trở nên một xứ giàu có và đủ mạnh để có thể duy trì được nền độc lập của mình đối với phía Bắc và mở rộng về phía Nam. Ngoại thương là một yếu tố quyết định cho sự phồn vinh đó. Trước khi Nguyễn Hoàng vào trấn Thuận Hóa, ở Đàng Trong việc buôn bán phần lớn nằm trong tay người dân, phủ chúa ít khi can thiệp.

Có thể nói rằng, vùng Thuận Hóa sau khi được Nguyễn Hoàng an định, đã trở thành vùng đất sống cho hàng ngàn người dân trải dài từ Thăng Long đến Thanh Hóa, họ là nạn nhân của những năm mất mùa đói kém và chiến tranh thảm khốc giữa nhà Lê và nhà Mạc. Trong tác phẩm Xứ Đàng Trong, tác giả Li Tana - đã cho biết:

“Việc người Việt Namdi dân xuống phía Nam thường vẫn được giải thích là do áp lực dân số trên một vùng đất nông nghiệp có giới hạn. Và những nguyên nhân trực tiếp đẩy một số đông dân đi về phía Nam lại là đói kém và chiến tranh…”.

“…Hai thời kỳ thảm khốc diễn ra vào giữa thế kỷ XVI (và XVIII) là nguyên nhân chính của việc gia tăng số người tỵ nạn. Thời kỳ thứ nhất xảy ra vào nửa sau thế kỷ XVI. Trong Toàn Thư, các năm 1561, 1570, 1671, 1572, 1586, 1588, 1569, 1592, 1594, 1595, 1596, 1597 và 1608 đều nhấn mạnh đến số người tỵ nạn. Chẳng hạn vào năm 1572, chúng ta thấy ghi: “Nghệ An năm đó không thu được hạt thóc nào…lại bị bệnh dịch, chết đến quá nửa. Nhân dân nhiều người xiêu dạt hoặc tản đi miền Nam hoặc dạt về đông bắc.

Vào năm 1594:

Bấy giờ các huyện ở Hải Dương nhân dân mất mùa to, đói kém đến ăn thịt lẫn nhau, chết đói đến một phần ba.

Đây có lẽ là thời kỳ thảm họa dài nhất trong lịch sử Việt Nam với một cuộc nội chiến dữ dội kéo dài mấy thập niên. Với 14 năm mất mùa trong vòng 48 năm. Trong lịch sử Việt Nam trước đó không hề thấy nhắc đến một cách liên tục con số đông đảo dân tỵ nạn trong một thời gian ngắn như vậy. Trong thực tế, chữ phiêu tán rất ít dùng trong chính sử Việt Nam …”.

“…Ngược lại, vùng Thuận Hóa được xem là tương đối yên tĩnh. Nhà Mạc tuy có tìm cách tấn công Thuận Hóa vào năm 1571, nhưng họ đã bị Nguyễn Hoàng đánh bại. Cả Toàn ThưTiền Biênđều nói rằng vùng đất này “dân không trộm cắp, cổng ngoài không phải đóng, thuyền buôn nước ngoài đều đến buôn bán”.

Thuận Hóa dĩ nhiên trở thành nơi trú ẩn của dân tỵ nạn từ phía Bắc. Tiền Biên ghi nhận có hai làn sóng tỵ nạn đổ về Thuận Hóa vào các năm 1559 và 1608. Toàn Thưcũng thường nói đến việc người dân trốn khỏi quê vào thời kỳ này để “hoặc đi vào Nam hoặc đi về phía đông bắc”. Cả hai vùng này đều là những vùng thưa dân.

Một làn sóng di dân vĩ đại của người Việt Nam đã diễn ra vào cuối thế kỷ XVI. Về phương diện lịch sử, nó có thể sánh với cuộc di dân của người Trung Hoa, tuy với tỷ lệ nhỏ hơn, từ phía Bắc tới đồng bằng sông Dương Tử dưới thời Đông Tấn ( thế kỷ thứ IV sau CN). Trước thời kỳ này, số người Việt Namdi dân xuống phía Nam không nhiều, có vẻ lác đác. Nhưng bây giờ động cơ thúc đẩy họ di dân trở nên mạnh hơn và mục dích của họ cũng rõ ràng hơn. Nếu Thuận Hóa trước đây xem ra còn là một vùng đất đầy bất trắc, bấp bênh về một số lĩnh vực thì việc Nguyễn Hoàng thiết lập chính quyền ở đây được coi như là việc tái khẳng định quyền của người Việt Nam được định cư ở vùng đất này và vì thế là một khuyến khích lớn đối với việc di dân…” ( Trong Xứ Đàng Trong, Li Tana, tr 37, 38).

Với sự mở đầu ra đi của Nguyễn Hoàng, và kế tục là các đời chúa con cháu của ông, đất nước đã tiếp thụ một nguồn của cải mới, đó là cả một vùng đất phía Nam giàu có, là các cuộc giao thương cường thịnh với các trung tâm thương mại mới: Hội An; Nông Nại Đại Phố, Gia Định, Bến Nghé, Hà Tiên…; là các tri thức mới khi tiếp cận ở nhiều dân tộc phương Nam hay đến từ phương Nam. Nhờ vào luồng của cải mới được tìm thấy ấy, nước ta đã trở nên cường thịnh nhất sau mấy trăm năm suy sụp. Ở đây, một lần nửa, cần khẳng định lại vai trò của Nguyễn Hoàng - người đã dấn thân khởi nghiệp để từ đó, tìm ra những luồng của cải mới cho đất nước.

Tất cả cuộc đời của ông đã hy sinh cho sự nghiệp xứ Đàng Trong, gia đình của ông đã gặp nhiều cảnh phân ly; hai người con thứ 7 và thứ 8 can tội loạn quốc chánh, bị tước tông tịch, con cháu của họ phải đổi ra họ Nguyễn Thuận. Để lấy lòng tin của chúa Trịnh, ông đã phải để người con thứ 5 và các cháu nội ở lại trên đất Bắc, con cháu của họ lại phải đổi tên thành họ Nguyễn Hựu.

Năm 1613, biết mình không thể sống lâu hơn, ông cho triệu công tử thứ 6 là Nguyễn Phúc Nguyên đang làm trấn thủ Quảng Nam ra. Ông bảo các cận thần rằng: “Ta với các ông cùng nhau cam khổ đã lâu, muốn dựng nên nghiệp lớn. Nay ta để gánh nặng lại cho con ta, các ông nên cùng lòng giúp đỡ, cho thành công nghiệp”.

Cầm tay hoàng tử thứ sáu, ông dặn bảo rằng:

“Làm con phải hiếu, làm tôi phải trung; anh em trước hết phải thân yêu nhau. Con phải giữ được lời dặn đó thì ta không ân hận gì”. Lại nói: “Đất Thuận Quảng phía Bắc có núi Ngang (Hoành Sơn) và sông Gianh (Linh Giang) hiểm trở, phía nam ở núi Hải Vân và núi Đá Bia (Thạch Bi Sơn) vững bền. Núi sẵn vàng sắt, biển có cá muối, thật là đất dụng võ của người anh hùng. Nếu biết dạy dân luyện binh chống chọi với Trịnh thì đủ xây dựng cơ nghiệp muôn đời. Ví bằng thế lực không địch được, thì cố giữ vững đất đai để chờ cơ hội, chứ đừng bỏ qua lời dặn của ta ( Đại Nam Thực Lục, T1, Nxb Thuận Hóa, 2007, trang37).

Một Quận công, lãnh Tổng trấn khi phát hiện ra cơ hội đã nuôi chí tổ chức để mở rộng lãnh thổ đến thế là cùng.

Phần cuối, xin được trích đăng những ý kiến tâm sự của chính khách và những nhà văn hoá đương thời về lịch sử các chúa Nguyễn. GS. Phan Huy Lê đã thuật lại những băn khoăn của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt khi ông còn tại thế:

“Nói đến lịch sử Việt Nam và nhất là lịch sử Nam Bộ, có nhiều dư luận rất băn khoăn, thậm chí bất bình đối với cách đánh giá trước đây về lịch sử đối với các chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn.  Nếu không có công lao mở cõi của các chúa Nguyễn thì làm sao chúng ta có được vùng đất Nam Bộ như hiện nay, mà không có được quy mô lãnh thổ, dân số và tiềm năng các mặt của một đất nước như thế thì làm sao thắng nổi những đế quốc lớn mạnh của thời đại, mà hay hơn nữa là phương thức mở cõi của các chúa Nguyễn chủ yếu là di dân khẩn hoang, tổ chức khai phá vùng đồng bằng sông Cửu Long giàu có nhưng lúc đó còn hoang vu…”. (Theo Phan Huy Lê, Dấu ấn Võ Văn kiệt, trang 13).

Nhà văn Hoàng Lại Giang trong bài viết Bi kịch của người anh hùng đi mở cõi, đăng trên tạp chí Xưa & Nay, số 294 khi nhắc đến vị anh hùng dân tộc này đã viết:

“Tôi nghĩ, chúng ta tôn kính các vua Hùng đã có công dựng nước và dựng đền thờ ở TP.HCM là phải đạo. Nhưng ai dám chắc đây là những vị vua huyền thoại hay sự thực? Trong khi đó, các chúa Nguyễn mở mang bờ cõi gấp đôi như ngày nay là một sự thực lịch sử thì chúng ta lại… quên một cách có ý thức…”.

“Hôm nay mỗi lần nhắc đến vựa lúa lớn nhất nước đồng bằng sông Cửu Long đã có bao nhiêu người Việt hôm nay nhớ đến vị chúa Nguyễn Hoàng? Hôm nay chúng ta hướng tầm nhìn chiến lược ra biển Đông! Thật tự hào! Nhưng đã có bao người Việt hôm nay nhớ đến công ơn của chúa Nguyễn Hoàng! Một nửa dân số Việt Nam đứng trên đất các chúa Nguyễn, người đứng đầu là chúa Nguyễn Hoàng, một vùng đất trù phú, một vùng đất có khí hậu lý tưởng! Mọi việc không bao giờ tự trên trời rơi xuống! Cũng không phải đi xin mà có! Tất cả từ cái tầm, từ cái tâm, từ bao nhiêu công sức của tiền nhân hôm qua để hôm nay chúng ta có hoa và trái…

Dựng tượng ghi công những người anh hùng mở cõi là đạo nghĩa của nền văn hóa người Việt…”.

Và cuối cùng là những “ray rứt” của nhà thơ Nguyễn Duy trong bài Rơm rạ ơi ta trở về đây, trên báo Sài Gòn Tiếp thịsố xuân 2008, ông viết trong dịp về thăm đền thờ các chúa Nguyễn ở xã Hà Long, Hà Trung, Thanh Hoá:

“Nhà Nguyễn đã có công lao rất lớn đối với nước Việt Nam, đó là một sự thật hiển nhiên, vậy mà, không hiểu tại sao và từ lúc nào, lại bị bóp méo đến biến dạng, bị sai lệch đi trong cái nhìn chính thống, bị hạ thấp một cách oan ức về thang bậc giá trị lịch sử và văn hóa, bị ruồng bỏ nhiều bài vị tôn kính, bị xóa tên đường phố nhiều vua chúa kiệt xuất? Tại sao?

Tại sao?…

Nhiều ý nghĩ vu vơ, mơ hồ trong đầu tôi cứ loằng ngoằng, mông lung như khói hương. Tôi mường tượng thấy những việc mới sắp tới, như là đúc chuông, phục tượng… Còn phải làm thêm rất nhiều việc nữa, nếu nhà nước chưa làm được thì xin hãy để cho dân làm, sẽ đâu vào đó cả.

Phục hồi nhân tâm là việc quan trọng nhất. Những gì thất nhân tâm thì thành tâm sửa lại. Có công tâm với lịch sử mới thực thi được công bằng xã hội.

Tôi cứ nghĩ lan man như thế… Như thế… Thu phục nhân tâm ư? Thì hãy chọn những gì tốt đẹp của cha ông mà tôn vinh. Hòa hợp dân tộc ư? Thì hãy lấy nhân tâm của cha ông mà truyền bá. Đối xử tử tế với tổ tiên là phẩm chất tối thiểu của đạo lý ấy…

Thắp nén nhang cúi lạy tiền nhân, tôi không khỏi rưng rưng nước mắt khi hình dung những sai lầm trầm trọng của hậu thế đang được chỉnh sửa dần dần. Có được ngày nay, dẫu đã muộn cũng còn may mắn lắm, còn có dịp cho người nay tạ lỗi với người xưa.

Rơm rạ ơi ta trở về đây

Ngôi chùa cũ mái đình xưa hiện bóng

Cỏ áy vàng bãi tha ma vắng

Lòng ngổn ngang gò đống tổ tiên nhà…”.

_____________

Sách tham khảo:

- Quốc sử quán Triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, tập 1, Nxb Giáo dục, 2007.

- Lê Quý Đôn, Phủ Biên tạp lục, Nxb Khoa học, 1964.

- Li Tana, Xứ Đàng Trong, Nxb Trẻ, 1999.

- Tạp chí Xưa & Nay, số 294.

- Báo Sài Gòn Tiếp Thị, số Xuân Mậu Tý 2009.

- Nhiều tác giả, Dấu ấn Võ Văn Kiệt, Nxb VHSG và Tạp chí Xưa & Nay, 2008.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Công bố Quyết định của Bộ Chính trị về công tác tổ chức và cán bộ
Sáng 1/4, tại Hà Nội, Bộ Chính trị tổ chức hội nghị công bố Quyết định của Bộ Chính trị về công tác tổ chức và cán bộ đối với 5 cơ quan. Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính dự hội nghị. Đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư trao các quyết định và phát biểu ý kiến chỉ đạo.
Tổng Bí thư Tô Lâm trao Huân chương Quân công hạng nhất và Huy hiệu Đảng tặng các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo
Chiều 30/3, tại trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã dự lễ trao Huân chương Quân công hạng nhất và Huy hiệu Đảng tặng Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ.
Đổi mới công tác tư vấn, phản biện: “Chìa khóa” để phát huy vai trò của đội ngũ trí thức
Giới chuyên môn nhận định, chuyển đổi số và AI sẽ tạo bước đột phá cho công tác tư vấn, phản biện nhờ sự giao thoa giữa trí tuệ chuyên gia, sức mạnh dữ liệu cùng các công cụ phân tích hiện đại. Tuy nhiên, thực tế hoạt động tư vấn phản biện hiện chưa theo kịp yêu cầu, đòi hỏi cấp thiết phải làm chủ các nền tảng số và phương pháp phân tích hiện đại để thu hẹp khoảng cách giữa tiềm năng và thực tiễn.
Hội thảo khoa học quốc gia “Phát triển kinh tế tư nhân ở Hải Phòng trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước”
Ngày 27/3/2026, tại Trường Đại học Hải Phòng đã diễn ra Hội thảo khoa học quốc gia với chủ đề: “Phát triển kinh tế tư nhân ở Hải Phòng trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước”. Hội thảo do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố, Trường Đại học Hải Phòng, Đại học Phenikaa, Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng đồng tổ chức.
Phú Thọ: Hội nghị tuyên truyền pháp luật và kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp
Ngày 28/3/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ phối hợp với Hội Luật gia tỉnh tổ chức Hội nghị tuyên truyền pháp luật và kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031.
Đắk Lắk: Ths. Đoàn Văn Thanh và Ths. Lê Văn Dần được bầu giữ chức Phó Chủ tịch Liên hiệp Hội
Chiều ngày 26/3/ 2026, tại Hội trường cơ quan, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh (Liên hiệp Hội) Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) với ba nội dung: Thực hiện quy trình công tác cán bộ; Sơ kết công tác quý I, triển khai nhiệm vụ công tác quý II và Trao quyết định công nhận tổ chức thành viên mới.
Gia Lai: Đánh giá kết quả bước đầu thực hiện Dự án Sa nhân tím
Ngày 25/3/2026, xã Bình Phú, tỉnh Gia Lai, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Gia Lai phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức Hội nghị sơ kết giữa kỳ Dự án “Hỗ trợ phát triển vùng nguyên liệu cây dược liệu sa nhân dưới tán rừng cho cộng đồng dân tộc thiểu số góp phần cải thiện sinh kế người dân, bảo tồn hệ sinh thái rừng, thích ứng biến đổi khí hậu tại xã Bình Phú, tỉnh Gia Lai”.
Hội Điều dưỡng Hải Phòng nâng cao chất lượng điều dưỡng, hướng tới sự hài lòng người bệnh
Ngày 25/3/2026, tại Bệnh viện Kiến An, Hội Điều dưỡng thành phố Hải Phòng tổ chức Đại hội Đại biểu lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031. Đại hội đánh dấu bước chuyển quan trọng sau khi hợp nhất Hội Điều dưỡng Hải Phòng và Hội Điều dưỡng Hải Dương trước đây, tạo nền tảng thống nhất, đồng bộ trong phát triển công tác điều dưỡng trên địa bàn thành phố.
Đảng ủy VUSTA trang trọng tổ chức Lễ trao tặng Huy hiệu Đảng và Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ (mở rộng)
Ngày 27/3, Đảng bộ Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) đã tổ chức Lễ trao tặng Huy hiệu Đảng đợt 03/02/2026 và Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ (mở rộng). Sự kiện không chỉ là dịp ghi nhận những cống hiến của các đảng viên lão thành mà còn là diễn đàn quan trọng đánh giá kết quả công tác Quý I, nhiệm vụ trọng tâm Quý II/2026 của Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam.
VUSTA kỷ niệm 43 năm Ngày thành lập, đánh dấu một hành trình kiến tạo và cống hiến bền bỉ
Chiều ngày 26/3, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã long trọng tổ chức Lễ kỷ niệm và chuỗi các hoạt động đặc biệt chào mừng kỷ niệm 43 năm Ngày thành lập (26/3/1983 - 26/3/2026). Sự kiện là dấu mốc ý nghĩa ghi dấu hành trình hơn bốn thập kỷ kiến tạo và cống hiến của VUSTA – ngôi nhà chung của đội ngũ trí thức KH&CN Việt Nam.