Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 25/02/2005 22:48 (GMT+7)

Một số suy nghĩ về hoạt động phát triển cộng đồng và xoá đói, giảm nghèo vùng đồng bào dân tộc

Xoá đói, giảm nghèo là một trong những chính sách xã hội cơ bản và ưu tiên của Đảng và Chính phủ Việt Nam. Trong nhiều năm qua, Chính phủ đã cụ thể hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng bằng nhữngcơ chế, chính sách, chương trình, kế hoạch, dự án hằng năm. Nhiều chương trình, dự án phát triển kinh tế-xã hội vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc, vùng đặc biệt khó khăn, đã và đang được chính phủ ViệtNam cho phép triển khai có kết quả và đã được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Tuy nhiên, do được triển khai với các nguồn tài chính khác nhau và bởi các tổ chức khác nhau, hiệu quả của các chươngtrình, dự án rất khác nhau. Vậy, làm thế nào để nâng cao hiệu quả triển khai các chương trình, dự án phát triển cộng đồng và xoá đói, giảm nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số?

Nguyên nhân đói nghèo được đánh giá từ các góc độ khác nhau. Theo người dân ở các vùng khó khăn thì các nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng đói nghèo của họ là:

1. Trình độ văn hóa thấp.

2. Thiếu tư liệu sản xuất, đặc biệt là đất canh tác. ở nhiều nơi, người dân chưa được trao quyền sử dụng tư liệu sản xuất là rừng và đất rừng.

3. Thiếu cơ hội tiếp xúc với môi trường bên ngoài, thiếu kiến thức khoa học-kỹ thuật và khả năng tiếp thu kỹ năng lao động mới.

4. Thiếu nguồn vốn đầu tư cho sản xuất ở mức tối thiểu và thiếu kinh nghiệm sử dụng nguồn vốn.

5. Thiếu định hướng phát triển hợp lý, lâu dài.

6. Lưu thông phân phối yếu, chưa có nơi tiêu thụ hàng hoá ổn định và công nghệ sau thu hoạch yếu kém.

Tuy nhiên, theo đánh giá của các ban ngành ở Trung ương, nguyên nhân chủ yếu gây nên tình trạng đói nghèo ở đồng bào dân tộc thiểu số được xếp vào ba nhóm chính:

1. Do điều kiện tự nhiên không thuận lợi như địa hình phức tạp, giao thông khó khăn, khí hậu khắc nghiệt, thiên tai (bão lụt, sâu bệnh...), đất cằn cỗi gây cản trở sự phát triển kinh tế-xã hội.

2. Do năng lực chủ quan của người nghèo như thiếu vốn, thiếu kiến thức làm ăn, đông con, mắc các tệ nạn xã hội hay lười lao động.

3. Nhóm nguyên nhân thuộc về cơ chế, chính sách: Các chính sách về đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho khu vực khó khăn, chính sách khuyến khích sản xuất, vốn tín dụng, hướng dẫn cách làm ăn, khuyếnnông, khuyến lâm, khuyến ngư, chính sách giáo dục, y tế, định canh, định cư..., thiếu hoặc không đồng bộ; nguồn lực đầu tư cho vùng nghèo, xã nghèo còn hạn chế, hiệu quả thấp, thậm chí còn có cảnhững thất thoát, tiêu cực...

Vậy, trong ba nhóm nguyên nhân này, nên có các nhóm giải pháp ưu tiên tương ứng và nên tác động vào nhóm nguyên nhân nào trước hoặc tiến hành đồng thời cả ba nhóm giải pháp? Đây là vấn đề phức tạp vàrất cần có lời giải thích hợp trong điều kiện kinh phí hỗ trợ có hạn, nhân lực triển khai không đủ mạnh cả về số lượng và chất lượng, không thể triển khai cả ba nhóm giải pháp được. Để giải quyết vấnđề đói nghèo vùng đồng bào dân tộc và giảm khoảng cách về phát triển kinh tế-xã hội giữa đồng bằng và miền núi, Đảng và Chính phủ đã có nhiều chính sách ưu tiên phát triển kinh tế-xã hội miền núi.Tại Văn kiện Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam, Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2001-2010 của Việt Nam đã chọn mục tiêu "Đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển; nâng cao rõ rệt đờisống vật chất, văn hoá, tinh thần của nhân dân; tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ,kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh được tăng cường; thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành về cơ bản; vị thế của nước ta trên trường quốc tế đượcnâng cao".

Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu trên, chúng ta cần có những bước đi phù hợp với điều kiện địa lý, dân tộc và kinh tế-xã hội từng vùng. Có như vậy, chúng ta mới giải quyết được vấn đề đói nghèo cóhiệu quả, tránh lãng phí và đạt được mục tiêu phát triển.

Song song với việc ban hành các chính sách, cơ chế phù hợp, rất cần có các nghiên cứu cơ bản về nguyên nhân và thực trạng đói nghèo của toàn vùng, cũng như của từng địa phương để có những giải phápthích hợp với điều kiện tự nhiên, phù hợp với tập quán từng nhóm dân tộc và trình độ tiếp nhận khoa học-công nghệ của người dân. Trong hàng loạt giải pháp, chúng tôi xin trình bày một số giải phápđược coi là chủ yếu và cần được ưu tiên là (i) nâng cao nhận thức và năng lực của người dân và cộng đồng; (ii) chuyển giao công nghệ theo hướng ưu tiên phù hợp đặc thù địa lý và dân tộc; (iii) xâydựng cơ sở hạ tầng thiết yếu phục vụ đời sống, sản xuất và lưu thông. Các hoạt động trên đều phải dựa trên nguyên tắc phát huy tối đa sự tham gia của người dân và cộng đồng để đảm bảo tính hiệu quảvà bền vững của các chương trình, dự án.

Khoa học-công nghệ được khẳng định là động lực phát triển kinh tế-xã hội nước ta. Các cơ chế, chính sách của Đảng và Nhà nước là vô cùng quan trọng và khoa học-công nghệ đóng vai trò quyết định trongviệc thúc đẩy và mang lại hiệu quả của các hoạt động nhằm phát triển kinh tế-xã hội. Khoa học-công nghệ có thể tham gia vào tất cả các khâu trong các hoạt động này, từ khảo sát, lựa chọn vấn đề, xâydựng kế hoạch, triển khai và đánh giá kết quả của các hoạt động. Tuy nhiên, sự hỗ trợ bên ngoài chỉ là tạm thời và có tác dụng thúc đẩy các hoạt động phát triển cộng đồng và xoá đói, giảm nghèo. Việcphát huy năng lực nội sinh là việc rất cần thiết và phải được quan tâm. Có như vậy, các tác động từ bên ngoài mới có hiệu quả cao và có tính bền vững. Không ai khác, phải tự chính những người nghèohiểu sự đói, nghèo của họ và tự họ có các nỗ lực vươn lên thoát khỏi cảnh đói, nghèo.

Vậy, làm thế nào để phát huy hiệu quả của các hoạt động phát triển cộng đồng và xoá đói, giảm nghèo? Chúng tôi xin nêu một số vấn đề để cùng trao đổi:

- Cần sử dụng phương pháp tiếp cận phù hợp. Phương pháp tiếp cận phát triển cần có sự tham gia của người dân và các bên có liên quan gồm cả các đại diện chính quyền các cấp, cán bộ nghiên cứu, cán bộphát triển. Người dân đóng vai trò là trung tâm của sự phát triển. Thực hiện và cụ thể hoá phương châm "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân hưởng lợi". Yêu cầu có tính nguyên tắc là xâydựng dự án và lập kế hoạch phải dựa trên nhu cầu của dân và xuất phát từ nhân dân, kết hợp với quy hoạch phát triển tổng thể của Nhà nước và của từng địa phương. Người dân phải được tham gia ngay từđầu trong các hoạt động này. Như vậy, người dân sẽ biết cách sử dụng có hiệu quả hơn nguồn lực tại chỗ về tài nguyên thiên nhiên, đất đai, lao động, tiền vốn, sử dụng những công cụ, phương tiện, bằngnhững kỹ năng và kiến thức truyền thống kết hợp với kiến thức và kỹ thuật mới được tiếp nhận.

- Xây dựng khả năng hợp tác giữa người dân và cán bộ phát triển. Để phát huy được sức mạnh tổng hợp, bảo đảm sự chuyển giao và tiếp nhận từ hai phía một cách đồng bộ, cần làm cho cán bộ cơ sở, nhữngngười làm công tác phát triển và người dân bản địa có được sự hiểu biết nhau hơn và có tiếng nói chung.

- Phương pháp đào tạo và tập huấn. Phương pháp đào tạo, tập huấn được xem là điểm quan trọng để nâng cao nhận thức và sự hiểu biết cho người dân. Đối với đồng bào dân tộc thiểu số, nên sử dụng phươngpháp đào tạo tích cực, trực quan, kích thích phát triển tư duy và thúc đẩy nhu cầu nhận thức. Chú trọng các hoạt động tham quan, trao đổi kinh nghiệm (cả bài học thất bại cũng như thành công). Họcqua làm, từ nông dân đến nông dân là phương thức đào tạo tốt để chuyển giao những kiến thức và kinh nghiệm mới, thúc đẩy nhu cầu phát triển ở nông thôn. Hết sức chú trọng đến vai trò của những ngườilãnh đạo và có uy tín như già làng, trưởng bản, trưởng làng, những thanh niên, phụ nữ chủ chốt trong cộng đồng. Hình thành và phát triển các nhóm cùng sở thích để họ giúp đỡ nhau cùng pháttriển.

- Cần lồng ghép, phối hợp giữa các chương trình, dự án hoặc hợp nhất các chương trình, dự án có chung mục tiêu, địa bàn và đối tượng hưởng lợi. Muốn vậy, cần thiết phải có cơ chế, chính sách xoá đói,giảm nghèo đồng bộ trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của cả nước; có chương trình, dự án cụ thể cho từng vùng, từng xã đến hộ nghèo. Trên địa bàn các xã đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùngxa, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 138/2000/QĐ-TTg ngày 29 tháng 11 năm 2000 hợp nhất các chương trình Trung tâm cụm xã, Định canh định cư, Hỗ trợ dân tộc đặc biệt khó khăn với Chương trìnhphát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa (Chương trình 135). Tuy nhiên, vẫn còn tình trạng đầu tư bình quân trong kinh phí đầu tư cho các xã đặc biệt khókhăn. Rất cần thiết có sự điều tra cụ thể, xác định chi tiết các vấn đề đầu tư và đầu tư tập trung, tránh dàn trải để nâng cao hiệu quả vốn đầu tư và mang lại lợi ích nhanh.

Trên đây là một số ý kiến nhằm phát huy hiệu quả của các chương trình, dự án trong lĩnh vực phát triển cộng đồng và xoá đói, giảm nghèo. Chắc chắn rằng, sẽ có nhiều ý kiến và kinh nghiệm tiếp cậntheo cách khác. Chúng tôi rất mong muốn được cùng trao đổi.

Xem Thêm

Tạo thuận lợi hơn cho công tác tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế
Dự thảo Quyết định điều chỉnh, sửa đổi Quyết định 06/2020/QĐ-TTg ngày 21/02/2020 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức, quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam nhằm giải quyết những vướng mắc trong quy định hiện hành, tăng cường phân cấp và đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Để trí thức khoa học tham gia sâu hơn vào công tác Mặt trận
Hội thảo khoa học tại Hà Nội ngày 6/11/2025 đánh giá thực trạng sự tham gia, phối hợp của Liên hiệp Hội Việt Nam trong các hoạt động chung của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giai đoạn 2015-2025. Các chuyên gia thẳng thắn chỉ ra những thành tựu, hạn chế và đề xuất giải pháp cho giai đoạn tới.
Còn nhiều rào cản trong thực thi bộ tiêu chuẩn ESG
Hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) nói chung và DNVVN nói riêng trên địa bàn Thành phố Hà Nội gặp nhiều rào cản và thách thức trong thực thi tiêu chuẩn môi trường, xã hội và quản trị (ESG).
Đắk Lắk: Góp ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng
Ngày 13/6, Liên hiệp hội tỉnh đã tổ chức góp ý kiến đối với dự thảo kế hoạch tổ chức hội nghị lấy ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng và dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2025 – 2030.
Hà Giang: Góp ý dự thảo sửa đổi Luật Chất lượng sản phẩm
Ngày 13/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp hội) tỉnh đã tổ chức hội thảo góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hoá (CLSPHH). Tham dự hội thảo có lãnh đạo đại diện các Sở, ban ngành của tỉnh, các hội thành viên Liên hiệp hộivà các chuyên gia TVPB.
Đắk Lắk: Hội nghị phản biện Dự thảo Nghị quyết về bảo đảm thực hiện dân chủ cơ sở
Sáng ngày 27/5/2025, tại trụ sở Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (Liên hiệp hội) đã diễn ra Hội nghị phản biện và góp ý đối với Dự thảo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh Đắk Lắk về việc quyết định các biện pháp bảo đảm thực hiện dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh.
Phú Thọ: Lấy ý kiến về Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013
Sáng ngày 20/5/2025, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ (Liên hiệp hội) tổ chức hội thảo lấy ý kiến của đội ngũ trí thức, chuyên gia, nhà khoa học về dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.

Tin mới

Gia Lai: Ông Cao Văn Bình được bầu giữ chức Chủ tịch Liên hiệp Hội tỉnh nhiệm kỳ 2026-2031
Trong hai ngày 5-6/2, tại Trung tâm Hội nghị tỉnh Gia Lai, Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Gia Lai lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031 đã được tổ chức trọng thể với sự tham dự của TSKH Phan Xuân Dũng, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam cùng lãnh đạo tỉnh Gia Lai, đại diện các sở, ban, ngành, đoàn thể của tỉnh và 130 đại biểu chính thức.
Báo chí và sứ mệnh lan toả, sáng tạo văn hoá
Trong tiến trình đổi mới toàn diện và hội nhập quốc tế sâu rộng, chấn hưng văn hóa dân tộc đã trở thành một nhiệm vụ chiến lược, được Đảng và Nhà nước xác định là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực cho phát triển bền vững đất nước.
Phú Thọ: Lan toả phong trào sáng tạo khoa học kỹ thuật
Những năm gần đây, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số từng bước trở thành động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Tại Phú Thọ, Cuộc thi Sáng tạo thanh thiếu niên, nhi đồng và Hội thi Sáng tạo kỹ thuật tỉnh năm 2025 đã trở thành “chất xúc tác” góp phần lan tỏa phong trào sáng tạo trong xã hội.
VUSTA tổ chức gặp mặt cán bộ hưu trí nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026
Ngày 4/2, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã tổ chức buổi gặp mặt cán bộ hưu trí nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026. Đây là hoạt động thường niên của VUSTA nhằm bày tỏ sự tri ân sâu sắc đối với các thế hệ đi trước - những người đã có những cống hiến tâm huyết cho sự lớn mạnh của “ngôi nhà chung của đội ngũ trí thức KH&CN Việt Nam”.
Quảng Trị: Tập huấn về công tác quản lý Hội
Ngày 05/02, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Quảng Trị tổ chức Hội nghị “Tập huấn về công tác quản lý Hội” cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, cán bộ chuyên trách của các hội thành viên trực thuộc Liên hiệp Hội và một số Hội được Đảng và Nhà nước giao nhiệm vụ trên địa bàn tỉnh.
Đắk Lắk: Người thắp lên ngọn lửa đam mê khoa học cho những học trò ở một vùng quê
Là một giáo viên dạy thể dục, không chỉ rèn luyện thể chất cho học trò, bằng niềm đam mê kỹ thuật và tinh thần tận tụy, thầy giáo Phạm Phóng Viên - giáo viên trường THPT Trần Quốc Tuấn (xã Phú Hòa 1, tỉnh Đắk Lắk) đã âm thầm “truyền lửa” đam mê sáng tạo kỹ thuật cho học sinh, góp phần khơi dậy tư duy, nuôi dưỡng ước mơ và khát vọng vươn xa cho học trò vùng quê.
Góp phần mang sắc Xuân đến với cộng đồng
Trong hai ngày 24 - 25/01, Ủy ban Nhân dân xã Vân Hồ, tỉnh Sơn La đã tổ chức Ngày hội “Xuân mới thêm vui, thêm xanh” tại sân vận động bản Lũng Xá – Tà Dê (xã Vân Hồ, tỉnh Sơn La) với nhiều hoạt động văn hóa, thể thao cộng đồng rộn ràng vui tươi chào mừng năm mới của đồng bào Mông địa phương.