Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 03/06/2013 22:20 (GMT+7)

Một số kỹ thuật câu cá ngừ đại dương có kết quả

Lâu nay ngư dân chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, chưa vận dụng khoa học kỹ thuật vào đánh bắt. Việc trang bị phương tiện, nghề và bảo quản sản phẩm sau thu hoạch còn lạc hậu nên hiệu quả sản xuất chưa cao. Ngư dân cần am hiểu kỹ thuật xác định ngư trường, đặc tính sinh học của đối tượng khai thác và một số phương pháp dò tìm chính xác nhằm giảm thiểu chi phí nhiên liệu và đảm bảo đạt hiệu quả sản xuất trong nghề câu cá ngừ đại dương.

Phương pháp dò tìm ngư trường đánh bắt

Xác định khu vực đánh bắt:Phần lớn các loài cá ngừ đại dương thích sống ở những vùng nước ấm và di cư theo quy luật nhất định, nên ngư trường đánh bắt thường xuyên thay đổi. Việc di chuyển của các đàn cá phụ thuộc rất lớn vào tình hình thời tiết và khí hậu. Do đó, cần phân chia vĩ độ khai thác để xác định các vị trí ngư trường trọng yếu dựa trên các sổ sách ghi chép lại, bản đồ dự báo sản lượng khai thác từng tháng của Viện Nghiên cứu biển Hải Phòng, vùng có sản lượng đánh bắt cao ở các năm trước, thông tin từ các tàu bạn…

Các tàu câu cá ngừ đại dương tại Việt Nam chủ yếu hoạt động tại các ngư trường thuộc vùng: Đông Bắc Hoàng Sa, Hoàng Sa, Trường Sa; Nam, Đông Nam Biển Đông; vùng biển Phú Quý, vùng gần bờ miền Trung…

Nghề câu vàng khai thác cá ngừ tại Bình Định gần như quanh năm, trừ những ngày gió bão hoặc tàu không có khả năng chịu đựng. Trong năm có 2 tháng (tháng 9 và 10) là những tháng có sản lượng thấp và không ổn định so với các tháng khác.

Mùa vụ chính (vụ Bắc): từ tháng 11 đến tháng 5 năm sau. Vào các tháng này, năng suất khai thác cao nhất trong năm và cá ngừ có chất lượng tốt nhất. Cá ngừ xuất hiện vùng Đông Bắc của Biển Đông vào đầu vụ Bắc, sau đó dịch chuyển dần về phía Nam và Đông Nam.

Từ tháng 6 – 8, sản lượng đánh bắt vẫn khá nhưng chất lượng cá ngừ không bằng các tháng vụ Bắc.

Xác định các điểm đánh bắt:Sau khi xác định được các khoảng vĩ độ khai thác trên hải đồ, bản đồ đánh bắt, tiến hành khoanh tròn những điểm sẽ  câu cá ngừ. Các điểm cần khoanh tròn có đặc điểm sau:

- Đó là những khu vực có tầng đáy phức tạp và hướng chảy của dòng hải lưu liên tục thay đổi, bằng mắt thường ta có thể thấy được những dòng nước xoáy đều từng đợt từ dưới lên.

- Dưới đáy biển được quan sát trên các máy dò cá FURUNO ta thường thấy qua màn hình các dãy núi nhỏ mấp mô, thậm chí ở đó còn hình thành nhiều hang, hốc…

Nhìn chung, địa hình dưới đáy biển không đồng đều, chỗ cao chỗ thấp, chỗ lồi chỗ lõm là vùng biển lý tưởng cho sự sống của các loài cá ngừ đại dương.

Tại những vùng biển như thế, do sự chênh lệch quá lớn về độ nông – sâu gây nên những đợt sóng mạnh cuộn từ dưới lên, đập mạnh vào khối sinh vật phù du và các loài tôm, cá nhỏ phía bên trên, đây cũng chính là lượng thức ăn dồi dào cho các loài cá ngừ.

Xác định nhiệt độ nước:Bằng các nhiệt kế thông thường hoặc các thông số nhiệt độ chỉ thị trên các màn hình của máy dò cá. Dựa vào các thông số về nhiệt độ của nước, tình trạng của dòng hải lưu… tiến hành tổng hợp và phân tích, xác định vị trí trung tâm của ngư trường. Thông thường, khi tầng mặt đạt nhiệt độ lớn hơn hoặc bằng 27oC, bắt đầu thả lưới câu cá ngừ. Nếu nhiệt độ của nước thay đổi đột ngột, cá ngừ sẽ ngừng săn mồi, thay vào đó, chúng di chuyển nhanh và rối loạn.

Xác định các điểm trung tâm đánh bắt:Khi đã áp dụng các phương pháp nêu trên, xác định được ngư trường thích hợp, cần tiếp tục quan sát đàn cá để qua đó tìm ra vị trí trung tâm, thu nhỏ phạm vi đánh bắt.

Việc nhất thiết phải làm ngay khi xác định được tâm điểm, đó là tính toán nhanh những ảnh hưởng của hướng dòng chảy và tốc độ của dòng chảy.

Cá ngừ là loài luôn di chuyển theo dòng hải lưu nên khi nắm bắt được hướng chuyển động và tốc độ của dòng hải lưu, ta sẽ dễ dàng truy đuổi hoặc đón đầu.

Ngư trường khai thác thường xuyên thay đổi, các nhà khoa học tiến hành nghiên cứu và phát hiện ra một số quy luật:

Ở những khu vực có dòng chảy ổn định, nếu mỗi giờ có:

- Từ 0,5 đến 1,5 đợt sóng thì trung tâm quần tụ của đàn cá không xa so với vị trí ban đầu, cách đó khoảng 7 đến 10 hải lí (1 hải lí = 1.852 mét).

- Từ 1,5 đến 2 đợt sóng, trong một ngày đàn cá sẽ di chuyển quãng đường là 10 đến 30 hải lí.

Dòng chảy diễn biến phức tạp: nếu có nhiều hơn 2 đợt sóng/giờ, việc truy đuổi đàn cá sẽ gặp nhiều khó khăn.

Xác định trung tâm đàn cá bằng phương thức thả lưỡi câu

Trong trường hợp tìm được ngư trường nhưng chưa xác định được trung tâm đàn cá thì phải hạ thấp lưới câu và mở rộng phạm vi đánh bắt bằng cách thay đổi độ sâu của lưỡi câu và liên tục chuyển vị trí câu.

Khi biết rõ tọa độ tập trung nhiều cá, thì phải đo góc nhọn tạo bởi hướng của lưỡi câu và hướng của dòng hải lưu, nếu góc này lớn hơn 60o thì tỉ lệ cá ngừ câu được không cao. Trái lại, nếu góc này nhỏ hơn hoặc bằng 60o, sản lượng đánh bắt sẽ rất khả quan. Tốt nhất luôn duy trì một góc từ 20o đến 50o.

Tránh thả câu ở chỗ có dòng hải lưu chảy theo phương thẳng đứng, vì cá ngừ không thể dính lưỡi câu. Gặp hôm trở trời, gió thổi mạnh, áp sát lưỡi câu vào mạn thuyền và từ từ thả xuống biển, sản lượng khai thác không hề giảm.

Xác định độ sâu đánh bắt

Khi ra khơi, ngư dân phải biết rõ tầng nước nào có nhiều loài cá nào sinh sống, chỉ như vậy mới quyết định được cách thức câu, khai thác mới đạt hiệu quả.

Cá ngừ mắt to thường bơi ở tầng nước rất sâu, khoảng 200 đến 250 mét; cá ngừ vây vàng thì tập trung nhiều ở tầng nước nông hơn, chưa tới 200 mét; cá ngừ vằn có phạm vi phân bố rộng, dao động trong khoảng từ 0 đến 260 mét. Về đêm, cá ngừ vằn chỉ hoạt động ở tầng mặt; cá ngừ vây dài sinh sống ở tầng mặt cho tới độ sâu 380 mét, tùy thuộc vào sự chi phối của nhiệt độ môi trường và lượng ôxy hòa tan trong nước.

Trong quá trình đánh bắt, người ta phát hiện ra rằng, các loài cá ngừ lớn thường tập trung nhiều ở độ sâu 150 đến 180 mét. Nhưng do nhiều nguyên nhân khác nhau (chủ yếu là do không thể hạ lưỡi câu xuống quá sâu) nên tỉ lệ cá ngừ câu được ở tầng nước này thường rất thấp. Nếu chủ động khai thác ở độ sâu từ 70 đến 150 mét, sản lượng đạt được sẽ khá hơn nhiều.

Thực tiễn sản xuất đã chứng minh: Tại độ sâu 130 mét, nhiệt độ trên 28oC, có thể đánh bắt tất cả các loài cá ngừ cho hiệu quả cao.

Những đêm trăng sáng, nếu tiến hành câu sẽ đạt sản lượng khá, bởi vì hầu hết các loài cá ngừ đều có tính hướng sáng.

Gần như không thể hoặc có thể khai thác nhưng đạt hiệu quả thấp nếu trời không có trăng, vì ngoài nguyên nhân về ánh sáng, còn vì cá ngừ thường lặn sâu, sóng thì rất mạnh làm chệch hướng lưỡi câu.

Kinh nghiệm cơ bản để câu cá ngừ đại dương: Tránh sóng to gió lớn, tìm đến những ngư trường có sóng nhẹ; Thả lưới câu từ từ để lưỡi câu đạt đến độ sâu đã định.

Lựa chọn mồi câu

Đối với cá ngừ, yêu cầu về chất lượng con mồi thường rất cao, cho nên mồi câu cá ngừ phải là mực tươi cấp đông, thứ đến là cá nục và cá thu.

Người ta chọn những con mực có khối lượng từ 150 – 300 gam, kích cỡ con mồi to hay nhỏ phụ thuộc vào loài cá ngừ định câu.

Vào những đêm trăng sáng, đối với đàn cá di chuyển đều, tỉ lệ cá ngừ tròn cao, ta chọn mồi câu là những con mực cỡ lớn.

Đối với cá nục và cá thu, ta chọn những con nặng khoảng 200 – 300 gam.

Cũng như mồi câu bằng mực, yêu cầu về độ tươi của hai loại mồi câu này cũng rất cao, nếu không mồi rất dễ bị tan trong nước.

Tuy nhiên, việc dùng cá nục và cá thu sẽ làm giảm chi phí sản xuất. Do đó, nên sử dụng hai loại mồi câu này vào những hôm trời không có trăng hoặc dùng để câu cá ngừ vây vàng. Ngoài ra, mồi câu bằng cá nục và cá thu còn có ưu điểm tạo mùi lan tỏa trong phạm vi rộng, thu hút được nhiều đàn cá.

Các phương pháp và kỹ thuật trên là những kết quả nghiên cứu khoa học và thực tiễn trong nghề câu cá ngừ đại dương tại các nước có nghề câu cá ngừ phát triển như: Mỹ, Nhật Bản, Đài Loan, Trung Quốc . . . và thực tế khai thác của các tàu câu cá ngừ của Việt Nam, tại tỉnh Bình Định đạt sản lượng cao trong nhiều năm qua.

Xem Thêm

Phát triển nhân lực trẻ cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược
Bộ Khoa học và Công nghệ được giao nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách phát triển nhân lực trẻ chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, hàng không vũ trụ và năng lượng nguyên tử, với thời hạn hoàn thành trong quý IV/2026.
Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

TECHFEST Việt Nam 2026 đưa sản phẩm công nghệ đến gần người dân
TECHFEST Việt Nam 2026 sẽ diễn ra tại Hà Nội từ ngày 13 đến 15/11, khu vực hồ Hoàn Kiếm và phố đi bộ là trung tâm với mô hình không gian mở, đưa các hoạt động trình diễn công nghệ, triển lãm sản phẩm khởi nghiệp và kết nối đầu tư đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.