Lễ Nghênh xuân Thời Lê - Trịnh
Tế Ngũ đế xuất hiện ở Trung Quốc từ khá sớm, ngay vào thời Xuân Thu đã bắt đầu có manh nha của lễ này. Đầu tiên người ta lập đàn tế phía tây để tế Bạch đế, về sau dần dần thiết lập đàn tế các thần Thanh đế, Hoàng đế và Viêm đế. Sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Quốc, lễ tế ở bốn đàn này vẫn được bảo lưu. Thời Hán Cao tổ lập thêm đàn tế phía bắc để tế Hắc đế. Đầu thời Tây Hán bắt đầu có lễ đón Ngũ thời tiết khí. Niên hiệu Vĩnh Bình thứ hai nhà Đông Hán (năm 59) định lại quy chế về các lễ này, từ đó về sau, cơ bản đều theo như vậy: vào ngày Lập xuân tế Thanh đế Câu Mang ở ngoại thành phía đông; ngày Lập hạ tế Xích đế Chúc Dung ở ngoại thành phía nam; trước Lập thu 18 ngày, tế hoàng đế Hậu Thổ ở trung ương; ngày Lập thu tế Bạch đế Nhục Thu ở ngoại thành phía tây; ngày Lập đông tế Hắc đế Huyền Minh ở ngoại thành phía bắc. Từ thời Minh Thái tổ (1368 - 1398) không cử hành lễ tế Ngũ thời tiết khí như trước nữa, chỉ còn tế Hiệu Thiên Thượng đế và bảo lưu lễ Nghênh xuân là một phần của lễ tế Ngũ đế thời cổ. Nhà Thanh cũng noi theo quy chế lễ Nghênh xuân của nhà Minh. Vào lễ này, nhà vua phải cùng quần thần, mặc y phục màu xanh, đem cờ phướn màu xanh, trống nhạc tưng bừng ra ngoại thành phía đông để làm lễ tế Thanh đế Câu Mang - vị thần chủ về mùa xuân - để đón xuân về. Nghi lễ được thực hiện với việc làm tượng thần Câu Mang và Xuân ngưu (trâu đất) đem ra ngoại thành phía đông làm lễ tế rồi đánh trâu đất 120 roi để tống khí lạnh.
Ở nước ta, trước thời Lê, chưa tìm thấy tài liệu nào nói đến các lễ này. Từ sau khi nhà Lê trung hưng mới thấy lễ Nghênh xuân được nhà nước cho chép vào điển chế, xem như một điển lễ quan trọng, quy định chi tiết cho một số ban cục có liên quan thuộc bộ Lễ và bộ Công phải chịu trách nhiệm thực hiện. Về các lễ khác trong tế Ngũ đế thì không thấy nhắc đến.
Sách Lê triều Hội điểnchép về lệ Xuân ngưu tiết Lập xuân ở thời Lê như sau: “Bộ Công căn cứ theo tờ khải về hình dạng đầy đủ của trâu đất năm đó do Ti Thiên giám đưa đến, giao cho các cục thợ làm phản gỗ để đặt trâu đất và một con trâu lớn, một tượng thần Câu Mang lớn, 1215 trâu nhỏ và tượng thần Câu Mang nhỏ. Lễ vật tế thần Câu Mang gồm có một con lợn, một vò rượu, một nong nếp. Tế xong, Công khoa phụng lĩnh trâu đất và thần Câu Mang nhỏ cung tiến các nơi như sau: phủ chúa 90 suất, mỗi suất một trâu đất và một thần Câu Mang; Cung miếu chính 4 suất; Cung miếu 3 suất; Văn miếu 3 suất, Ngự tiền 100 suất... Khi Xuân ngưu đệ đến phủ chúa, phải chọn lấy 35 con tươi đẹp cung tiến cung miếu phố Quan Thường và cung miếu Cổ Bi...” [4: 286b].
Lịch triều hiến chương loại chí cũng cho biết: Vào tháng 11 hàng năm,Tư Thiên giám làm bản tâu trình rõ ngày nào là tiết Lập xuân cùng mẫu trâu xuân của năm đó rồi giao cho Cục Thường ban ở bộ Công làm. Trước tiết Lập xuân một ngày, vào buổi chiều, cục Thường ban đem trâu đất đến đàn tế ở phường Đông Hà, quan Phủ doãn hai huyện Thọ Xương và Quảng Đức làm lễ xong thì sai dân phường rước đến đàn tế ở phường Hà Khẩu, sáng hôm sau rước đi sớm, các quan Phủ doãn đều lấy cành dâu đánh trâu đất rồi rước về điện Kính Thiên làm lễ tiến Xuân ngưu. Các quan văn, võ, công, hầu, bá vâng chỉ chúa đều đầy đủ phẩm phục vào triều làm lễ. Lễ xong, quan Tư lễ giám bưng cái án để Xuân ngưu ở trước nơi nhà chúa ngồi đưa sang tiến ở phủ chúa. Quan Công khoa theo lệ ban cho các quan”.
Về lễ này, Phạm Đình Hổ lại cho biết hơi khác: Theo lệ, trước ngày Lập xuân, quan Khâm Thiên giám sức xuống cho cục Bách công chuẩn bị làm hai tượng thần Câu Mang bằng đất to như người thật và hai trâu đất to như trâu thật, y phục của thần và màu sắc của trâu đất đều tùy theo phận của năm ấy. Ngoài ra còn làm rất nhiều tượng thần và trâu đất to bằng ngón chân cái. Sau khi trâu và thần được làm xong, vào ngày Lập xuân, quan Phủ doãn phủ Phụng Thiên sức cho đền Bạch Mã phường Hà Khẩu và đền Quý Minh phường Đông Hà bên trái kinh thành; đền Linh Lang ở trại Thủ Lệ và đền Cao Sơn ở chợ Cửa Nam bên phải kinh thành phải dựng ba gian lều cỏ trước đền, nơi nào ở bên phải thì làm dựa lưng về bên phải, ngảnh mặt về bên trái và ngược lại. Xung quanh đều vây bằng rào thưa, bên trong lều quét sạch trải hai chiếc chiếu. Mỗi chiếu đặt một cặp thần Câu Mang và trâu đất. Trước lều để trống quét sạch để các quan làm lễ. Vật phẩm để tế dùng một cơi trầu, ba bình rượu, ba đài chén, hai đài nến, một bình hương, tất cả bày trên một cái bàn, đều do cục Bách công chuẩn bị. Vào giờ Cấn trong ngày, khoảng giữa giờ Sửu và giờ Dần (4 - 5 giờ sáng), quan Phủ doãn phủ Phụng Thiên, quan Huyện úy huyện Thọ Xương cùng viên Thông phán và một viên Huấn đạo trường bên đông phủ Phụng Thiên lần lượt làm lễ tế từ phía bên trái, trước hết là đền Quý Minh rồi đến đền Bạch Mã thì dừng. Quan Thiếu doãn phủ Phụng Thiên cùng với các quan Huyện úy, Thông phán huyện Quảng Đức và một viên Huấn đạo trường bên Đoài phủ Phụng Thiên lần lượt làm lễ từ phía bên phải, trước hết từ đền Cao Sơn rồi đến đền Linh Lang thì dừng. Nghi lễ này chỉ dùng hết một tuần hương, lạy 10 lạy, không đọc văn khấn, không đánh trâu đất. Lễ xong đem trâu đất và tượng thần chia tiến cho hai bên cung vua phủ chúa. Còn người đất và trâu đất loại nhỏ chia dâng cho nhà thái miếu bên cung vua và các phủ từ bên phủ chúa. Các cung miếu các đền thờ tối linh thờ các vị đế vương các đời, các vị thượng đẳng thần và các vị công thần có công lớn cũng được ban cho [1:29].
Qua đó, có thể thấy, ở thời Lê, lễ này là một điển lễ khá long trọng và việc làm thần Câu Mang cùng trâu đất khá công phu tốn kém. Không những vậy, kích thước, màu sắc của tượng thần và trâu đất còn phải tuân thủ theo đúng “phận” của từng năm. Vậy thế nào là “theo phận” của năm? Về điều này, ở nước ta không có tài liệu nào chép lại, nhưng theo các tài liệu của Trung Quốc thì có thể biết được như sau:
Sau tiết Đông chí, vào ngày Thìn, dùng nước với đất ở phương Tuế đức để chế Xuân ngưu, dùng gỗ dâu làm khung xương. Thân trâu cao 4 thước để tượng cho bốn mùa, từ đầu đến đuôi dài 8 thước tượng cho 8 tiết. Màu sắc của trâu được phân biệt rất kĩ:
Màu của đầu trâu thuộc về can của năm: Các năm Giáp, Ất màu xanh; Bính, Đinh màu đỏ; Mậu, Kỉ màu vàng; Canh, Tân màu trắng; Nhâm, Quý màu đen.
Màu của thân trâu thuộc về chi của năm: Hợi, Tí màu đen; Dần, Mão màu xanh; Tị, Ngọ màu đỏ; Thân, Dậu màu trắng; Thìn, Tuất, Sửu, Mùi màu vàng.
Màu của bụng trâu thuộc về hành của năm: năm Kim màu trắng, năm Mộc màu xanh, năm Thủy màu đen, năm Hỏa màu đỏ, năm Thổ màu vàng.
Màu của sừng, tai và đuôi trâu thuộc về can của ngày Lập xuân: ngày Giáp, ất màu xanh; Bính, Đinh màu đỏ; Mậu, Kỉ màu vàng; Canh, Tân màu trắng; Nhâm, Quý màu đen.
Màu của bắp chân trâu thuộc về chi của ngày Lập xuân: ngày Hợi, Tí màu đen; Dần, Mão màu xanh; Tị, Ngọ màu đỏ; Thân, Dậu màu trắng; Thìn, Tuất, Sửu, Mùi màu vàng.
Màu móng chân trâu thuộc về hành của ngày Lập xuân: ngày Kim màu trắng, ngày Mộc màu xanh, ngày Thủy màu đen, ngày Hỏa màu đỏ, ngày Thổ màu vàng.
Đuôi trâu dài 1 thước 2 tấc, tượng trưng cho 12 tháng.
Buộc dây bên trái hay phải tùy theo năm: năm âm buộc bên phải, năm dương buộc bên trái. Miệng trâu há hay ngậm cũng theo năm: năm âm miệng ngậm, năm dương miệng há.
Dọ mũi và dây thừng buộc đầu trâu thuộc về chi ngày Lập xuân: ngày Dần, Thân, Tị, Hợi dùng thừng đay; ngày Tí, Ngọ, Mão, Dậu dùng thừng gai; ngày Thìn, Tuất, Sửu, Mùi dùng thừng tơ.
Thần Câu Mang thân cao 3 thước 6 tấc 5 phân, tượng trưng cho 365 ngày. Thần già hay trẻ tùy theo chi của năm: năm Dần, Thân, Tị, Hợi mặt giống người già; năm Tí, Ngọ, Mão, Dậu mặt giống trai tráng; năm Thìn, Tuất, Sửu, Mùi mặt giống trẻ con.
Màu đai áo của thần tùy theo chi của ngày Lập xuân: ngày Hợi, Tí áo vàng, đai lưng xanh; ngày Dần, Mão áo trắng, đai lưng đỏ; ngày Tị, Ngọ áo đen, đai lưng vàng; ngày Thân, Dậu áo đỏ, đai lưng đen; ngày Thìn, Tuất, Sửu, Mùi áo xanh, đai lưng trắng.
Búi tóc của thần thuộc hành của ngày Lập xuân: ngày Kim chải hai búi tóc trước tai; ngày Mộc hai búi tóc sau tai; ngày Thủy búi tóc bên phải trước tai, búi tóc bên trái ở sau tai; ngày Hỏa ngược lại; ngày Thổ hai búi tóc trên đỉnh đầu.
Che phủ tai cũng theo giờ của ngày Lập xuân: giờ Tí Sửu, phủ trọn vẹn; giờ Dần vén hất lên bên trái; giờ Hợi vén hất lên bên phải; giờ Mão, Tị, Mùi, Dậu dùng tay phải nâng lên; giờ Thìn, Ngọ, Thân, Tuất dùng tay trái nâng lên.
Roi của thần dài 2 thước 4 tấc tượng trưng cho 24 tiết khí, roi cũng được kết tùy theo chi của ngày Lập xuân: ngày Dần, Thân, Tị, Hợi bện bằng đay; ngày Tí, Ngọ, Mão, Dậu bện bằng gai; ngày Thìn, Tuất, Sửu, Mùi bện bằng tơ, đều nhuộm ngũ sắc.
Thần bận hay rỗi, đứng trước hay sau trâu tùy theo ngày Lập xuân cách ngày đầu năm xa hay gần: ngày Lập xuân cách trước hoặc sau ngày đầu năm trong vòng năm ngày, thần bận, đứng ngang với trâu; ngày Lập xuân cách trước ngày đầu năm ngoài năm ngày, thần vội, đứng trước trâu; ngày Lập xuân cách sau ngày đầu năm ngoài năm ngày, thần chưa vội, đứng đằng sau trâu. Thần đứng bên phải hay bên trái trâu phụ thuộc vào năm âm hay dương: năm âm đứng bên phải trâu, năm dương đứng bên trái trâu.
Đó là toàn bộ những quy định phức tạp đối với việc chế tác trâu đất và thần Câu Mang.
Như trên đã nói, trước thời Lê chưa tìm được tài liệu nào nhắc đến lễ Nghênh xuân. Như vậy, với việc nghi lễ này chỉ mới xuất hiện vào thời Lê và trong các lễ tế Ngũ đế, chỉ có lễ Nghênh xuân được vua chúa thời Lê cử hành, thì nếu đối chiếu với diễn biến của lễ Nghênh xuân ở Trung Quốc, chúng ta có thể khẳng định: đây chính là điển lễ được xác định vào thời nhà Minh. Điều đó phần nào cho thấy, với chủ trương Nho giáo hóa xã hội nhằm xây dựng một xã hội hướng Nho của các vua đầu triều Lê, nghi lễ này cùng nhiều điển lễ khác của Nho gia mới bắt đầu được du nhập vào nước ta.
Theo lễ, khi tế chỉ cần làm một trâu đất và một thần Câu Mang, nhưng theo các tư liệu đã dẫn ở trên thì có lẽ nghi lễ này chỉ được thực hiện đúng với lễ chế cho đến trước thời Lê mạt, bởi theo thông tin của Phạm Đình Hổ thì đến thời của ông (Lê Cảnh Hưng) người ta đã phải làm hai cặp trâu đất và người đất để sau lễ tế, có thể dâng tiến cho cả cung vua và phủ chúa. Điều này cho thấy, bấy giờ chúa đã đặt mình ngang hàng với vua, đây là một minh chứng sinh động cho quá trình tiếm lễ của các chúa Trịnh. Để phù hợp với chính sự trong giai đoạn lưỡng đầu chế (vừa có vua vừa có chúa) nhiều nghi tiết lễ chế đã bị nắn sửa cho phù hợp với tình hình. Đây là một trong những biểu hiện của quá trình để mất sự “chính danh” của nhà nước thời Lê - Trịnh kể từ đời chúa Trịnh Giang mà hệ quả của việc đánh mất sự chính danh là sự rối loạn trật tự các quan hệ xã hội. Đó chính là đầu mối cho sự suy thoái dần của lễ nghi đạo đức Nho gia - một trong những yếu tố quan trọng đẩy nhà Lê đến chỗ hoàn toàn sụp đổ.
Cũng theo lễ thì đến ngày Lập xuân, trâu đất và thần Câu Mang được đưa ra ngoại thành phía đông làm lễ tế rồi đánh trâu đất 120 roi để tống khí lạnh. Nhưng theo Phạm Đình Hổ thì cho đến cuối thời Lê, nghi lễ này lại được thực hiện tại bốn địa điểm là bốn đền thờ Thành hoàng ở hai bên tả, hữu thành Thăng Long (Thăng Long tứ đại Thành hoàng) chứ không còn chỉ làm ở ngoại thành phía đông nữa, cũng không có nghi thức đánh trâu đất, đồng thời lễ vật dùng để tế chỉ còn rất sơ sài. Điều đó cho thấy, lễ này cho đến cuối thời Lê đã không còn giữ được đúng tinh thần của một lễ tế thần kì nữa mà gần như chỉ mang tính chất là một lễ nghi về nông nghiệp.
Tài liệu tham khảo
1. Trần Kim Anh giới thiệu và dịch, Phạm Đình Hổ tuyển tập thơ văn, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1988.
2. Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí. Lễ nghi chí, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1992.
3. Âm Pháp Lỗ, Hứa Thụ An (chủ biên), Trung Quốc cổ đại văn hóa sử(sách tiếng Trung), Bắc Kinh Đại học xuất bản xã, 1996.
4. Sách chữ Hán, Lê triều hộiđiển, Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Kí hiệu A.52







