Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 13/04/2011 19:53 (GMT+7)

Kiên Giang: Nhiều tiềm năng phát triển nghề nuôi thủy sản lồng bè

* “Nở nồi”...

Những năm gần đây, nghề nuôi cá lồng bè hình thành từ việc ngư dân ven biển đánh bắt cá thiên nhiên về nuôi vỗ béo trước khi đưa ra thị trường. Ngư dân chủ yếu nuôi cá có giá trị kinh tế cao, như: Cá bớp, cá múa sao (mú cọp), mú đen, hải sâm... Ngoài ra, nhiều hộ còn kết hợp nuôi vỗ béo cua, ghẹ và nhiều loại ốc khai thác từ thiên nhiên, để nâng giá trị sản phẩm. Ban đầu, chỉ vài chục hộ nuôi cá lồng tại các đảo trên vùng biển Kiên Giang, còn nay đã phát triển rộng vì cho hiệu quả kinh tế cao. Chị Nguyễn Thị Kim Thoa từ An Giang ra huyện Kiên Hải nuôi cá lồng bè, cho biết: “Mấy năm nay, giá cá tra liên tục trồi sụt, nuôi cá tra dễ thua lỗ, nên tôi ra đây để tìm cơ hội mới, quen với nghề này rồi, bỏ không được. Dù chuyển sang nuôi cá trên biển (cá bớp, cá mú) tuy ban đầu có nhiều khó khăn, nhưng tôi đã nhanh chóng làm quen được với loài thủy sản mới. Bây giờ, tay nghề đã khá hơn rồi, thu nhập cao hơn nuôi cá tra”. Theo chị Thoa và những người nuôi cá lâu năm ở Kiên Hải, nghề nuôi cá lồng bè trên biển khá đơn giản, cá ít khi bệnh nên đây là nghề “ăn chắc” của nhiều người trong suốt những năm qua. Lồng bè được làm từ các loại gỗ tốt, có thể sử dụng được hơn mười năm. Những người ít vốn thì làm riêng lẻ từng lồng; khi gặp thời tiết bất lợi, có mưa bão thì kết lại với nhiều lồng khác tạo thành bè lớn, giữ an toàn cho cá. Chí phí đầu tư cho mỗi lồng khoảng 20-30 triệu đồng, tùy theo mức đầu tư.

Thời gian nuôi kéo dài 8-10 tháng đối với cá con bắt từ thiên nhiên, 2-5 tháng đối với cá nuôi vỗ béo tùy kích cỡ. Tính bình quân, mỗi lồng phải đầu tư 60-100 triệu đồng/vụ nuôi nhưng mức lợi nhuận có thể đạt đến 40-60 triệu đồng/vụ. Vì thế, nghề nuôi cá lồng bè phát triển khá nhanh ở vùng biển Kiên Giang. Năm 2000, số lượng lồng bè nuôi cá trên biển không nhiều, nhưng hiện tại toàn tỉnh đã có gần 1.000 lồng bè chủ yếu ở các huyện Kiên Hải, Kiên Lương, Hà Tiên và Phú Quốc. Trong đó, tập trung nhiều nhất ở quần đảo Nam Du, thuộc huyện Kiên Hải, quần đảo này có đến 21 hòn đảo nằm gần nhau nên dù nằm ngoài khơi nhưng vùng biển này khá an toàn do được che chắn, giảm thiểu rủi ro khi mưa bão. Hơn nữa, Nam Du có môi trường nước sạch, không bị ô nhiễm, thích hợp cho nghề nuôi cá lồng bè theo hướng sinh thái.

Ông Đinh Văn Trung, Chủ tịch Hội Nông dân xã Nam Du, cho biết: “Người dân ở hai xã đảo Nam Du và An Sơn khá giả nhờ vào nghề nuôi cá lồng bè trên biển. Hiện nay, có người sở hữu cả chục lồng, doanh thu đến vài tỉ đồng mỗi năm. Môi trường nước tốt, thức ăn chủ yếu được sử dụng các loại cá khai thác tại chỗ, người nuôi rất ít sử dụng thuốc, hóa chất trong quá trình nuôi thương phẩm. Cá nuôi lồng bè chỉ hạn chế về diện tích, nhưng vẫn giữ được môi trường thiên nhiên cho cá, nên rất được ưa chuộng tại các thị trường lớn trong nước và xuất khẩu sang nhiều thị trường khó tính, như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc”. Trong hai năm trở lại đây, quần đảo này xuất hiện hàng chục lồng nuôi tôm hùm, mở ra hướng mới cho nghề nuôi thủy sản lồng bè ở địa phương. “Nuôi tôm hùm đòi hỏi môi trường nước trong lành, nguồn thực phẩm tươi, vùng biển này đáp ứng tốt hai điều kiện này. Thời gian tới, tôi sẽ phát triển quy mô nuôi và phổ biến cho người dân địa phương quy trình nuôi. Nhiều nước trên thế giới rất ưa tôm hùm nên nuôi không lo đầu ra”- anh Bùi Trung Nguyên, người tiên phong nuôi loại tôm “quý tộc” này chia sẻ.

* Cần định hướng phát triển cụ thể

Theo xu hướng thế giới, nghề nuôi nhân tạo cá biển phục vụ xuất khẩu là ngành mũi nhọn bên cạnh việc đầu tư phương tiện, trang thiết bị hiện đại phục vụ đánh bắt xa bờ. Nhiều nước có biển trên thế giới, đặc biệt là khu vực châu Á như Trung Quốc, Nhật Bản, Philippines, Indonesia, Đài Loan, Hong Kong, phát triển mạnh mẽ nghề này; chủ yếu là nuôi cá mú, cá bớp, cá cam, cá ngừ, cá chẽm, tôm hùm... Còn tại Việt Nam, nghề nuôi thủy sản lồng bè phát triển từ Quảng Ninh đến Kiên Giang. Vùng biển Kiên Giang rộng trên 63.000 km2, có trên 140 đảo bao bọc, độ sâu khu vực các đảo trung bình khoảng 20-30 mét, sóng cao không quá 5 mét, không có sóng ngầm, ít bị ảnh hưởng của mưa bão... nên có điều kiện thuận lợi hơn khu vực vịnh Bắc Bộ và miền Trung. Bà Trần Thị Hồng, Phó Chủ tịch UBND huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang, cho biết: “Hiện nay, Kiên Hải đang phối hợp với các ngành chức năng, nhà khoa học để quy hoạch chi tiết vùng nuôi trồng thủy sản đến năm 2015 và 2020. Kiên Hải có các chính sách ưu đãi nhằm khuyến khích nhà đầu tư vào địa phương trên các lĩnh vực ươm, thuần con giống để cung cấp nguồn giống tại chỗ, mở rộng diện tích nuôi và đa dạng chủng loại”. Tuy nhiên, để phát triển nghề nuôi cá lồng bè bền vững cần chiến lược phù hợp.

Trong chiến lược kinh tế biển, nghề nuôi cá lồng bè là một trong những giải pháp thúc đẩy phát triển kinh tế biển đảo, bởi giá trị kinh tế cao, thích hợp đưa vào xúc tiến thị trường xuất khẩu và phục vụ du lịch. Ông Nguyễn Vân Thanh, Chi cục trưởng Chi cục Nuôi trồng thủy sản Kiên Giang, đề xuất: “Hiện nay, việc xúc tiến thương mại cho nghề nuôi thủy sản lồng bè là điều cần thiết. Thủy sản nuôi lồng bè ở Kiên Giang rất được ưa chuộng trên thị trường, nhất là các thị trường lớn như TPHCM và các khu du lịch, nghỉ dưỡng. Riêng thị trường nước ngoài chủ yếu do thương lái trong nước thu mua rồi bán lại cho doanh nghiệp xuất khẩu. Trong khi, doanh nghiệp thủy sản trong tỉnh chưa quan tâm đến mặt hàng tươi sống này nên chưa có sự kết hợp giữa doanh nghiệp và người nuôi. Vì thế, dù giá trị cao nhưng nghề nuôi thủy sản lồng bè vẫn chưa phát triển xứng tầm, chưa khai thác hết tiềm năng của nó”. Theo ông Thanh, trong thời gian tới, người nuôi và doanh nghiệp chế biến, doanh nghiệp xuất khẩu cần có sự phối hợp trong việc sản xuất và tiêu thụ, quản lý quy trình nuôi... để nâng cao giá trị và tiến tới xây dựng thương hiệu, để nghề nuôi phát triển bền vững hơn. Song song đó, địa phương cần có quy hoạch và chiến lược phát triển cụ thể, không để xảy ra ô nhiễm môi trường nước ảnh hưởng đến ngư trường-vùng nuôi rộng lớn này.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.
Phát huy vai trò nòng cốt của trí thức KH&CN tỉnh Cà Mau
Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031 tổ chức thành công thực sự đã mở ra một không gian mới để hội tụ sức mạnh, tâm huyết và trí tuệ của đội ngũ trí thức tỉnh nhà, định hình con đường kiến tạo và phát triển trong kỷ nguyên mới của đất nước.
Công bố Quyết định bổ nhiệm Giám đốc, Tổng biên tập Nhà xuất bản Tri thức
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức Hội nghị Công bố quyết định về công tác cán bộ. Tại hội nghị, TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã trao Quyết định bổ nhiệm bà Bùi Thị Thu Hằng, Phó Giám đốc phụ trách, Phó Tổng biên tập NXB Tri thức giữ chức vụ Giám đốc, Tổng biên tập NXB Tri thức.
Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành tháng 4/2026
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Đảng bộ Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (LHHVN) tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành nhằm đánh giá kết quả công tác, đồng thời triển khai các nhiệm vụ trọng tâm, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong công tác xây dựng Đảng và chuẩn bị cho Đại hội LHHVN nhiệm kỳ mới.
Nâng tầm sức mạnh văn hóa vùng Đất Tổ - Động lực quan trọng cho phát triển bền vững
Phát triển văn hóa và con người là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh, động lực cho phát triển nhanh bền vững. Quan điểm đó tiếp tục được khẳng định mạnh mẽ trong Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị. Nghị quyết nhấn mạnh văn hóa phải thấm sâu vào đời sống xã hội, gắn kết hài hòa với chính trị, kinh tế, môi trường, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia.
Chủ tịch Phan Xuân Dũng dự Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I
Ngày 23/4, Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031 đã thành công tốt đẹp. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng chúc mừng, đánh giá cao những nỗ lực rất lớn của Liên hiệp Hội tỉnh, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh TVPB, ĐMST&CĐS, lan tỏa tri thức KH&CN, phục vụ trực tiếp đời sống người dân địa phương.
Tuyên Quang: Thúc đẩy năng lực triển khai năng lực hoạt động KHCN, ĐMST và CĐS trong sinh viên
Ngày 21/4, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (KH&KT) tỉnh Tuyên Quang phối hợp với Trường Cao đẳng Tuyên Quang tổ chức Hội thảo tập huấn, phổ biến kiến thức “Thúc đẩy năng lực triển khai hoạt động khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong sinh viên” bằng hình thức trực tiếp và trực tuyến.