Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 06/12/2011 22:10 (GMT+7)

Khi nông dân là cổ đông

Sau 3 năm thực hiện Nghị quyết 26 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và phát triển nông thôn, nhưng vấn đề “tam nông” vẫn còn tồn tại nhiều vướng mắc. Đánh giá việc thực hiện nghị quyết thời gian qua, GS Xuân nói: “Quan tâm đến tam nông là hợp lý. Nông nghiệp, nông dân và nông thôn chúng ta bước vào thế kỷ 21 với không ít khó khăn. Tuy vậy, Trung ương đã có chủ trương những văn bản hướng dẫn cụ thể thì không. Nông dân vẫn phải lo mọi thứ. Sản xuất thì vẫn mạnh ai nấy làm. Khâu tiêu thụ, nhà nước bảo trồng lúa thơm, nhưng nhà nước không mua! Nông dân phải tự bơi.

Nỗ lực sản xuất, tăng sản lượng, nhưng nông dân vẫn chưa giàu có được. Họ đang phải sống với thương lái, làm ra sản phẩm rồi đưa đến cho thương lái. Mấy ông thương lái cấu kết với công ty xuất khẩu. Công ty không chịu làm việc trực tiếp với nông dân mà chỉ thông qua thương lái. Nghị quyết đưa ra không chỉ ra được cách khắc phục tình trạng này như thế nào để giúp nông dân hưởng lợi nhuận từ nhiều khâu trong kinh doanh sản phẩm của họ”.

Phải chăng chúng ta đã quá quan tâm đến các vấn đề kỹ thuật, như giống, đào tạo kỹ năng, đẩy mạnh xuất khẩu… mà chưa quan tâm đúng mức đến mô hình kinh tế nông nghiệp giúp nông dân kiểm soát và hưởng được thành quả của họ? Theo GS Xuân: “Hiện giờ mỗi nơi làm một kiểu. Nhìn chung nền nông nghiệp vẫn còn rất manh mún. Người ta đầu tư khá nhiều vào lĩnh vực giống, nhưng thực tế giống của chúng ta không hề kém. Bây giờ không nơi nào năng suất dưới 5 tấn/ha/vụ. Các nơi làm hai vụ, thậm chí có nơi làm 2 năm 7 vụ. Sản lượng không hề thấp. Nhưng hiệu quả kinh tế không cao.

Thương lái đi thu mua, họ đâu có phân loại các giống lúa tốt, xấu. Họ gộp cả chục giống vào với nhau rồi đem đi xát, đóng bì xuất khẩu. Lúa gạo Việt Nam không thể làm thương hiệu được là vì sản xuất, thu mua manh mún như vậy. Giá gạo không cao thì nông dân sẽ còn nghèo”.

Khi được hỏi về mục tiêu đến năm 2020 có 50% lao động nông nghiệp được đào tạo, GS Võ Tòng Xuân cho rằng: Đầu tư hàng ngàn tỷ đồng, giao cho hội nông dân mở lớp, nhưng dạy những kiến thức không thiết thực, người nông dân chẳng áp dụng được là bao.

Về việc nông dân làm việc với cường độ cao, nhưng họ không có lương hưu, GS cho biết: Bên Nhật Bản, nơi tôi học tiến sĩ, nông dân đóng bảo hiểm xã hội. Nông dân mình không đóng gì hết trơn, bảo hiểm y tế cũng không đóng luôn. Xứ văn minh, đương nhiên người ta buộc phải đóng bảo hiểm.

Là người đề xuất “Mô hình liên kết bốn nhà”, GS Xuân cho biết những ưu điểm của mô hình này: Phải liên kết bốn nhà: Nhà nước, nhà nông, nhà khoa học và nhà doanh nghiệp. Chúng tôi tập hợp các doanh nghiệp để họ làm trung tâm của mô hình này. Họ xây nhà máy, sân phơi, tổ chức người nông dân trồng lúa theo các tiêu chuẩn sản xuất bền vững. Mô hình này giúp các doanh nghiệp thu mua được gạo chất lượng cao. Còn nông dân, nhờ được trang bị kiến thức, có sự hỗ trợ về kỹ thuật, lúa sẽ ít sâu bệnh, có giá thành thấp, cuối vụ sẽ thu được lợi nhuận cao...

Thời gian qua, tỉnh nào cũng làm những mô hình liên kết. Những người nuôi cá cũng vậy, họ đã có sự tổ chức nhất định. Nhà máy lên lịch, hôm nào ai sẽ bán cá, tránh việc đem cá vào ào ào, tiêu thụ không kịp. Từ các khâu như giống, thức ăn, chăn nuôi, chế biến đều thống nhất theo quy trình đảm bảo tiêu chuẩn xuất khẩu.

Trong canh tác lúa cũng vậy. Hiện giờ một số nơi làm được mô hình này. Ví dụ họ tạo ra những cánh đồng hàng ngàn ha. Giao giống cho dân làm, có cán bộ chăm sóc, hướng dẫn. Nhà máy thì sấy, giữ thóc ở kho, sau đó xuất khẩu. Chất lượng của lúa gạo rất tốt, lợi nhuận cũng cao hơn hẳn.

Các mô hình hiện nay, tuy đã có những ưu điểm vượt trội so với việc sản xuất manh mún tự phát, nhưng về bản chất nó vẫn chưa tạo điều kiện cho người dân làm chủ. Nông dân vẫn là người làm thuê cho các doanh nghiệp. Mô hình của tôi sẽ hoạt động kiểu cổ phần, trong đó nông dân chính là người làm chủ.

Nông dân chúng ta rất nghèo, tiền đâu để mua cổ phần? Về điều này, GS Võ Tòng Xuân cho biết: “Tôi được biết một số doanh nghiệp đã đề nghị người dân hùn vốn bằng đất đai của họ. Tôi không đi theo hướng đó. Tôi thấy mô hình của Nhật Bản rất đáng tham khảo. Họ chỉ khuyến khích mua cổ phần, còn đất đai của ai người ấy giữ để canh tác.

Tôi đề nghị mô hình trong đó nông dân mua cổ phần bằng sản phẩm thu hoạch được. Chẳng hạn mỗi năm thu được 1.000 kg sản phẩm, có thể trích 200 ký mua cổ phần. Cuối năm, ngoài tiền bán lúa giá cao người nông dân còn được chia cổ tức. Như vậy họ sẽ được hưởng lợi nhuận từ nhiều khâu chứ không chỉ từ bán lúa.

Làm theo hướng này, người nông dân sẽ không còn bị cảnh “được mùa, mất giá”, giảm rủi ro và thất bại trong nghề nông. Sự thành công của doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu, cũng đem đến lợi ích cho nông dân khi họ là các cổ đông”.

Mô hình của giáo sư đòi hỏi phải có rất nhiều doanh nghiệp mạnh và nhiệt huyết đối với lĩnh vực nông nghiệp. Nhưng hiện nay phần nhiều các đại gia không đầu tư cho sản xuất nông nghiệp? Đúng vậy, chúng tôi mãi chẳng triển khai được mô hình vì tìm không được doanh nghiệp làm đối tác. Hiện nay, một số doanh nghiệp đã nhận lời rồi”, GS Xuân nói.

Nông dân thì đã quen với truyền thống tự sản tự tiêu và phần nào mất niềm tin vào các doanh nghiệp đầu tư ích kỷ trong vấn đề phân chia lợi nhuận. Liệu sẵn sàng tham gia mô hình? GS cho rằng: Nông dân đang dè dặt lắm. Mô hình ở Mỹ Thành Nam chỉ có mười mấy người tham gia. Đến vụ sau mới có được hơn trăm người gia nhập. Mô hình Đức Huệ của tôi, dự tính trồng lúa 110 ha, với 117 người tham gia, nhưng lúc đăng ký thả giống chỉ thấy có 86 người. Họ ngại việc làm theo quy trình GlobalGap.

Theo tiêu chuẩn này nông dân phải tuân thủ quy trình, không phải muốn phun thuốc muốn chăm bón lúc nào cũng được. Ngoài ra họ còn phải có nhà vệ sinh! Rồi nước sạch để pha thuốc… Họ ngán, không dám gia nhập. Sau vụ này, dựa trên số liệu chúng tôi sẽ xin trình mô hình lên Quốc hội.

Mô hình của giáo sư sẽ tiến đến việc hình thành các tập đoàn trong lĩnh vực nông nghiệp trong đó nông dân sẽ trở thành hàng triệu cổ đông với những cánh đồng hàng trăm ngàn ha. Điều này có mâu thuẫn với vấn đề hạn điền? Vấn đề này, GS Xuân phân tích: “Thực tế dân giao đất cho một ông nào đó nhiều vốn, nhiều kinh nghiệm, còn họ chỉ làm công. Có người canh tác được trên diện tích 600 ha. Thậm chí người trồng khoai lang thôi, đã trồng trên 200 ha rồi. Nông dân cho thuê đất, họ vừa lấy được tiền cho thuê vừa lấy tiền lao động hằng ngày. Người thuê đất, họ có đủ đất đai và nhân lực cũng như sự thống nhất tập trung để làm ra sản phẩm chất lượng đúng với khối lượng lớn theo hợp đồng. Theo tôi, chúng ta đừng nên đặt ra vấn đề hạn điền nữa”.

Đất đai - tư liệu sản xuất chính của nông dân - thuộc sở hữu toàn dân. Các cá nhân làm sao đem nó để hùn vào các công ty? Trả lời câu hỏi này, GS Võ Tòng Xuân cho hay: Giấy tờ đất đai của nông dân hiện nay, một số lượng không nhỏ đang… nằm trong ngân hàng. Tuy nói họ chỉ có quyền sử dụng, nhưng thực ra họ còn nhiều quyền khác nữa. Tôi nghĩ, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp nên đổi ra giấy chứng nhận chủ quyền đất nông nghiệp.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Hội nghị AFEO Midterm 2026
Ngày 30/6, tại Yangon, Myanmar, Liên đoàn các tổ chức kỹ sư ASEAN (AFEO) chính thức khai mạc phiên toàn thể Hội nghị giữa kỳ lần thứ 25. Đây là diễn đàn thường niên được tổ chức nhằm để các nhà khoa học, các kỹ sư, các chuyên gia cùng chia sẻ, thảo luận các giải pháp trong việc xây dựng một tương lai bền vững cho khu vực ASEAN.
Lào Cai: 118 hộ đồng bào dân tộc thiểu số hưởng lợi từ mô hình cấp nước tự quản
Sau gần một năm triển khai, Dự án “Hỗ trợ nước sinh hoạt cải thiện chất lượng cuộc sống cho cộng đồng dân tộc thiểu số thôn 4, xã Khánh Hòa, tỉnh Lào Cai” do Trung tâm Hỗ trợ phát triển bền vững cộng đồng các dân tộc miền núi (SUDECOM) thực hiện đã hoàn thành mục tiêu, đánh dấu một mô hình điểm về quản lý, vận hành hệ thống cấp nước dựa vào cộng đồng, nâng cao chất lượng cuộc sống cho 118 hộ dân.
Hải Phòng: Chuyển đổi số toàn diện để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Sáng 26/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố (Liên hiệp hội) Hải Phòng phối hợp với Hội Điện tử và Tin học thành phố, Chi nhánh Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - Chi nhánh Duyên hải Bắc Bộ (VCCI Duyên hải Bắc Bộ) tổ chức hội thảo khoa học với chủ đề: “Nâng cao năng lực cạnh tranh doanh nghiệp Hải Phòng thông qua chuyển đổi số toàn diện”.
Sơ kết công tác thi đua, khen thưởng 6 tháng đầu năm Cụm thi đua các tỉnh Trung du và Đồng bằng sông Hồng
Chiều ngày 17/6/2026, tại khu du lịch Hải Tiến, tỉnh Thanh Hóa, Cụm thi đua các tỉnh Trung du và Đồng bằng sông Hồng thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã tổ chức hội nghị Sơ kết công tác thi đua, khen thưởng 6 tháng đầu năm 2026; triển khai nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026.
Liên hiệp Hội Việt Nam thúc đẩy các hoạt động khoa học công nghệ tại Hải Phòng
Sáng 18/6/2026, tại trụ sở Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp hội) thành phố Hải Phòng, Đoàn công tác của Liên hiệp Hội Việt Nam do PGS.TS Phạm Quang Thao, Phó Chủ tịch Liên hiệp Hội Việt Nam làm Trưởng đoàn đã có buổi làm việc với Uỷ ban MTTQ Việt Nam thành phố, một số sở ngành và Liên hiệp Hội thành phố Hải Phòng.