Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 22/02/2011 18:41 (GMT+7)

Hồn cốt địa danh Việt

Theo nhà ngữ học Hoàng Thị Châu (trong “Địa danh nước ngoài trên bản đồ thế giới: khái niệm, thuật ngữ và phương thức nhập nội địa danh”), địa danh thường đi kèm với danh pháp, tức là danh từ chung chỉ đối tượng địa hình. Những địa danh từ thời cổ đại thường là chỉ danh từ chung. Ví dụ ở châu Âu, sông Đanuýp chảy qua Đức, Áo gọi là Đônau (Donau), qua Nga là Đunai có nghĩa là “nước (lã)”. Cũng giống như vậy, ở châu Á, ngay tại nước ta, “Kông” trong tên sông Mê Kông chính là từ “sông” (sông mẹ); tên sông Trường Giang, theo từ điển Từ Hải thì “Giang” được ghi cách đọc bằng chữ “công”. Như vậy cả hai con sông lớn nhất ôm lấy cả vùng Đông Nam Á đều có tên gọi ban đầu là sông nước, không khác gì cách đặt tên sông Đanuýp ở Trung Âu.

Theo các nhà nghiên cứu văn hóa, tên gọi sông Vu Gia thuộc tỉnh Quảng Nam có gốc gác từ tiếng Chăm. Tuy nhiên chưa có tài liệu nào giải thích rõ nghĩa của từ “Vu Gia”. Theo ý kiến riêng, “Vu Gia” cũng là tên gọi ban đầu của “sông nước”, giống như “kông”, “sông”, “giang”… ở vùng Đông Nam Á hay “Đanuýp” ở châu Âu. Theo từ điển tiếng Chăm, “yă” có nghĩa là “nước”. Ở Quảng Nam ta thường bắt gặp trò chơi phổ biến của trẻ con có tên gọi “ma da lên bờ” (ở Thừa Thiên Huế gọi “ma da” là “ma rà”). Vì thế ta có thể giải thích “ma da” hay “ma rà” có nghĩa là “ma nước”, trong đó các từ tố theo cách viết và cách đọc phổ biến ngày nay là “gia”, “da”, “rà” đều là tiếng Chăm có nghĩa là “nước”. 

Do có sự quan hệ về địa lý, lịch sử, văn hóa… mà từ xa xưa người Việt đã dùng chữ Hán làm văn tựghi chép chính. Vì vậy mà nhiều địa danh trên đất nước được đặt tên theo chữ Hán, nhất là tên các đơn vị hành chính (tên xã, huyện, phủ, tỉnh, trấn…). Song tiếng Việt thuần túy không thể hoàn toànghi lại bằng chữ Hán, đây cũng là đặc điểm mà các trí thức nước ta thấy cần sáng tạo ra một loại chữ ghi lại tất thảy các hiện tượng và sự vật trong cuộc sống theo cách nói, cách nghĩ của người Việtnên chữ Nôm ra đời. Chính vì thế mà nhiều địa danh là cách nói thuần túy của người Việt, kể cả tên các đơn vị hành chính. Ví như “Sông Hồng”, văn tự Hán gọi là “Hồng Hà”, đọc theo âm tiếng Trung là“Hongghe”, nhưng trong dân gian thường gọi là “Sông Cái” (tức Sông Mẹ), người Pháp phiên âm thành “Song Koi” (Sông Cái), còn người Thái gọi là “Mẹ Nặm” (cũng là Sông Mẹ) hay “Nặm Đeng” (tức là SôngĐỏ). Tương tự, những tên chỉ địa hình (Sông Đào, Sông Lam, Sông Gianh, sông Thu Bồn, Sông Hàn, Đèo Le, Eo Gió, Gò Nổi, Tí, Sé, Dùi Chiêng, Cù Lao Cỏ, Cù Lao Chàm, Cù Lao Ré…), tên làng (Đập Đá, Sịa,Nông, Trùi, Bà Rén, Bà Bàu…), các nơi thờ tự (chùa Bà Đanh, điện Hòn Chén…), ngôi chợ (Chợ Mai, Chợ Tổng, Chợ Ba Xã, Chợ Cồn, Chợ Lớn…), nhiều tên vùng, đơn vị hành chính (Nhà Bè, Đồng Nai, Hóc Môn,Củ Chi…), tên vùng đất cũ như Đàng Trong, Đàng Ngoài… hoàn toàn thuần túy là những chữ của người Việt, không có chữ nào có nguồn gốc Hán. Hoặc như Đà Nẵng, Đà Rằng, Phan Rang, Phan Rí, Phan Thiết… lànhững chữ có nguồn gốc từ tiếng Chăm. 

Căn cứ vào các tài liệu về lịch sử, hàng ngàn năm nước ta phải trải qua 4 lần Bắc thuộc. Mỗi lần lệ thuộc như thế, quốc hiệu của nước ta qua các triều đại cũng bị vùi dập và thay vào đó là tên quận, châu theo cách gọi của người Trung Quốc áp đặt. Dẫu rằng hàng ngàn năm bị phương Bắc đô hộ, nhiều lần Trung Quốc thực hiện chính sách đồng hóa dân tộc, văn hóa, xóa bỏ nền văn hiến ở nước Nam…, song nhiều phong tục cao quý của dân ta, và quan trọng hơn là phần hồn của “lời ăn tiếng nói” của người Việt vẫn được tiền nhân cố công bảo tồn. Nên sau những lần khởi nghĩa đánh đuổi quân xâm lược, xác lập chủ quyền Tổ quốc và khẳng định niềm tự tôn dân tộc, các hoàng đế nước Nam đều đặt quốc hiệu hợp với lòng dân, như Vạn Xuân (năm 544), Đại Cồ Việt (năm 968), Đại Việt (có từ năm 1009 nhà Lý, đến năm 1428 Lê Lợi lấy lại quốc hiệu).

Ở thượng nguồn sông Vu Gia (dân gian ở Đại Lộc gọi tên sông Vu Gia là Sông Cái = Sông Mẹ) có nhánh sông nhỏ gọi là Sông Kôn (Côn), thực ra Kôn không phải là tiếng thuộc ngữ hệ Môn - Khơme mà là do từ “Con” (Sông Nhỏ, Sông Con) được người Pháp phiên âm mà thành (vì nếu viết là “Con” thì tiếng Pháp phải đọc là “Xon”). Tương tự, các chữ Tourance, Faifo được phiên âm các chữ Đà Nẵng, Hải Phổ (Phải Phố?) mà có.

Cũng liên quan dến lịch sử, từ lâu (ít nhất là trước thế kỷ XVII) những ngư dân người Việt đã đến các quần đảo cách bờ biển nước ta chừng 200 hải lý và họ đặt tên gọi các hòn đảo ấy thuần túy là tiếng Việt: “Bãi Cát Vàng” hay “Cồn Vàng”. Chính cái tên “Bãi Cát Vàng” theo cách gọi dân gian mà từ đầu thế kỷ XVII, chúa Nguyễn đã tổ chức các đội Hoàng Sa và Bắc Hải có nhiệm vụ ra đóng quân ở các đảo này. Các bản đồ địa lý thời ấy đã xác định “Bãi Cát Vàng” thuộc xứ Đàng Trong. Tên Hán tự “Hoàng Sa” (thời ấy chỉ chung cả Trường Sa) bắt nguồn từ chữ thuần túy là tiếng Việt - “Bãi Cát Vàng” hay “Cồn Vàng” - do những người dân đất Việt khai phá. Do vậy, để xác định chủ quyền các quần đảo nói trên, các chúa Nguyễn và các vua triều Nguyễn đã đặt tên theo tinh thần ngôn ngữ của con dân đất Việt (theo tài liệu của tiến sĩ Hãn Nguyên Nguyễn Nhã).

Lại nói đến thời nước Pháp “bảo hộ” nước ta, họ cũng đặt tên và ghi lại các địa danh trên bản đồ theo chữ của họ. Chẳng hạn ở Hải Phòng có các địa danh Le Grottes (Đảo Hang), La Semelle (hòn Đế Giày, Hòn Hài, Hòn Guốc), Baier des Cycas (Vịnh Chàng), Statuette (hòn Tượng Nhỏ, Hòn Bụt), Baie du à Chaux (vịnh Cái Giá)… - vẫn theo nhà nghiên cứu Hoàng Thị Châu, tài liệu đã dẫn. Các tên gọi theo tiếng Pháp hoàn toàn không phổ biến ngay khi người Pháp còn đô hộ, với người dân Việt những tên thuần Việt mãi mãi trường tồn, và các tên bằng chữ Pháp ấy đã được gỡ xuống trên bản đồ Việt Nam sau khi nước nhà độc lập.

Tuy nhiên, một số địa danh do người Pháp phiên âm từ tiếng Việt hoặc ngôn ngữ vùng Đông Nam Á thì đến nay vẫn tồn tại. Chẳng hạn như con sông được gọi theo kiểu cư dân Lào - Thái là “Mè Khoóng” (Mè = Mẹ; Khoóng là biến âm của Khlong = một tự có nghĩa là sông, tức là Sông Mẹ; người Việt gọi là Sông Lớn, Sông Mẹ, Sông Cái hay sông Cửu Long) được người Pháp phiên âm thành “Mékong” (Mê Kông), vì trong tiếng Pháp không có âm/ kh/ và nhiều trường hợp âm/ h/ không phải là thành phần tham gia vào việc phát ra âm thanh (nhiều người quen gọi là h câm). Theo nhiều nhà ngôn ngữ học, chính chữ “Cửu Long” đọc theo âm Hán Việt bắt nguồn từ âm K'long (tức là sông) mà ra, chứ không phải hiểu theo nghiã “chín con rồng” (long) như trong bài hát “Ai xuôi vạn lý (Hòn vọng phu 2) của Lê Thương hay cách diễn giải của nhiều người (dẫn theo bài giảng “Nguồn gốc tiếng Việt” của GS-TS Phạm Đức Dương). Vì rằng, ở Trung Quốc cũng có con sông Cửu Long (Cửu Long Giang) mà không cùng dòng với con sông Mê Kông; sông Mê Kông được người Trung Quốc gọi là Lan Thương Giang (nghĩa của nó là “Con sông cuộn sóng”, bính âm là L'ancăng, Lan - tr'ang chiang). Chẳng hạn làng “Lăng Cô” ở phía bắc đèo Hải Vân không phải xuất xứ từ ngôi mộ của cô gái nào đó (vì người ở Thừa Thiên Huế nói riêng và Bắc miền Trung nói chung, từ chỉ cô gái được gọi bằng o) hoặc là tên của Làng Cò do nói trại mà thành. “Lăng Cô” do chữ “An Cư” mà có. Vì rằng, trong tiếng Pháp không có âm/ ư/ và khi họ viết thường thêm mạo từ le, la trước danh từ, nên: An Cư > Ancõ > L'Ancõ, sau người Việt căn cứ vào văn bản mà đọc thành “Lăng Cô” (?).

Nói đến lịch sử để chúng ta thấy rõ, ngôn ngữ của dân tộc nào là mang phần hồn của dân tộc ấy, địa danh hiện diện trên khắp đất Việt từ quốc hiệu đến tên làng, xóm, sông, núi, biển, đảo… đều do người Việt đặt tên và mang hồn cốt của dân tộc Việt.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Nghệ An: Ông Đậu Quang Vinh giữ chức vụ Chủ tịch Liên hiệp Hội tỉnh Nghệ An
Trong hai ngày 29-30/12, tại tỉnh Nghệ An, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Nghệ An (Liên hiệp Hội tỉnh Nghệ An) đã tổ chức thành công Đại hội Đại biểu lần thứ VII, nhiệm kỳ 2025-2030. Ông Đậu Quang Vinh đã được Đại hội tín nhiệm bầu giữ chức Chủ tịch Liên hiệp Hội tỉnh khoá VII, nhiệm kỳ 2025-2030.
WFEO: Kênh kết nối cộng đồng kỹ sư quốc tế và cơ hội tham gia của cộng đồng kỹ sư Việt Nam
Trong một thế giới ngày càng phụ thuộc vào các giải pháp kỹ thuật để giải quyết những thách thức toàn cầu như biến đổi khí hậu, đô thị hóa và chuyển đổi số, vai trò của các kỹ sư trở nên then chốt hơn bao giờ hết. Đứng sau sức mạnh tập thể của hơn 30 triệu kỹ sư trên toàn cầu là Liên đoàn các Tổ chức kỹ sư Thế giới (World Federation of Engineering Organizations - WFEO).
Trung tâm SUDECOM nâng cao chuỗi giá trị nông nghiệp cho cộng đồng
Sáng ngày 29/12, Trung tâm Hỗ trợ Phát triển Bền vững Cộng đồng các Dân tộc Miền núi (Trung tâm SUDECOM) đã tổ chức hội nghị tổng kết dự án “Hỗ trợ mô hình sinh kế và nâng cao năng lực tiếp cận chuỗi giá trị nông nghiệp cho cộng đồng nhằm góp phần tăng thu nhập và bình đẳng giới tại 3 xã Lương Thịnh, Thác Bà, Yên Bình, tỉnh Lào Cai”.
VUSTA nhận Bằng khen của Bộ Ngoại giao vì những đóng góp tiêu biểu trong công tác đối ngoại nhân dân 2025
Phát biểu tại Hội nghị tổng kết công tác đối ngoại nhân dân 2025, Phó Chủ tịch VUSTA Phạm Ngọc Linh khẳng định đội ngũ trí thức KH&CN đã có những đóng góp tích cực vào những thành tựu chung của công tác đối ngoại nhân dân 2025. VUSTA cam kết tiếp tục phát huy vai trò nòng cốt trong đối ngoại nhân dân, góp phần thúc đẩy hợp tác quốc tế về KH&CN, ĐMST&CĐS trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
An Giang: Hoàn thiện khung hệ giá trị văn hóa trong kỷ nguyên mới
Ngày 26/12, Trường Chính trị Tôn Đức Thắng phối hợp với Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy tổ chức hội thảo: “Xây dựng và phát huy hệ giá trị văn hóa, con người An Giang thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong kỷ nguyên mới”. TS. Hồ Ngọc Trường - Tỉnh ủy viên, Hiệu trưởng Trường Chính trị Tôn Đức Thắng; Bà Nguyễn Thị Hồng Loan - Phó Trưởng Ban TG&DV Tỉnh ủy đồng Chủ trì hội thảo
Đảng, Nhà nước tặng quà nhân dịp chào mừng Đại hội XIV của Đảng và Tết Bính Ngọ
Thủ tướng Phạm Minh Chính vừa ký công điện số 418 ngày 28/12/2025 về việc tặng quà của Đảng, Nhà nước nhân dịp chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026 cho người có công với cách mạng, các đối tượng bảo trợ xã hội, hưu trí xã hội và đối tượng yếu thế khác.
Lào Cai: Hội nghị triển khai nhiệm vụ trọng tâm năm 2026
Chiều 28/12, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh tổ chức hội nghị Ban Chấp hành nhằm đánh giá công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ năm 2025; thảo luận, thống nhất phương hướng nhiệm vụ trọng tâm năm 2026 và quyết định một số nội dung theo thẩm quyền.