Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 09/05/2006 18:03 (GMT+7)

Hình khắc trên đá ở Sa Pa

Tháng 8/1998 ngành văn hoá du lịch Lào Cai đã tổ chức một cuộc trưng bày tại Bảo tàng Lich Sử ViệtNamnhằm giới thiệu bãi đá cổ nói trên. Nhưng kể từ ngày phát hiện cho tới nay, giới khoa học ViệtNamcũng như nước ngoài chưa quan tâm nghiên cứu và đưa ra những giả thuyết mới. Ngay cả việc thống kê phân loại một cách khoa học cũng chưa có bước tiến nào đáng kể. Để giúp bạn đọc nhớ lại những vấn đề nghiên cứu cũ, chúng tôi xin trích dịch bài viết của nhà khảo cổ học V.Goloubew, uỷ viên Viện Viễn đông Bác cổ Pháp đã đăng trên tập san BEFEO năm 1926.

Sơ đồ cho thấy bố cục của các hình vẽ trên tảng đá thứ hai
Sơ đồ cho thấy bố cục của các hình vẽ trên tảng đá thứ hai
Cách Sa Pa chừng 6km về phía nam-đông nam, giữa những tảng đá dốc đứng, thung lũng Mường Hoa Hồ mở rộng ra thành lòng chảo, mà dưới cùng và xung quanh được bao bọc bằng những thửa ruộng bậcthang. Mới nhìn qua cũng thấy rằng cây trồng ở đây được chăm sóc cẩn thận và đòi hỏi nhiều công sức kiên trì. Xen giữa ruộng lúa là ruộng ngô và có vài mảnh đất trồng đậu. Hai cây cầu tre nối liềnhai bờ dòng nước chảy xiết , được gọi là cầu khỉ (…)

Cư dân ở đây chủ yếu là người Miêng ( nay gọi là Mông - BT ), cộng thêm vài gia đình người Mán (Dao). Ở những độ cao khác nhau trong thung lũng, rải rác có những tảng đá hoa cương chạy xuống tận dòng nước xiết. Trên hai trong những tảng đá đó, phía trên trước chiếc cầu khỉ đầu tiên, một người khách mới đây của nhà an dưỡng Sa Pa, ông Jean Bathellier, thạc sĩ sinh vật học, đã phát hiện hồi tháng tám vừa rồi, những hình vẽ kì lạ mà ông vội vàng thông báo cho Viện Viễn đông Bác cổ Pháp .

Ngày 22/8/1925 tôi đến thăm thung lũng Mường Hoa để xem những hình vẽ đó và chụp ảnh cũng như làm bản dập. Hôm sau, trở về Sa Pa tôi được biết trong vùng còn có những tảng đá khắc khác giống như những cái ông Bethellier đã phát hiện. Tôi lại đến thăm lần thứ hai, kết quả thật là tốt đẹp. Không những tôi xác định được tại chỗ những thông tin xác thực, mà số lượng hình khắc vượt khỏi sự tưởng tượng mà tôi chờ đợi. Tầm quan trọng của những phát hiện bắt đầu hiện rõ. Đây không phải chỉ là hai tảng đá riêng rẽ, mà là cả một quần thể gồm nhiều tảng đá có kích thước khác nhau, với tổng số khoảng 30 hòn. Thời gian eo hẹp và những cơn mưa của mùa này không cho phép tôi khảo sát kĩ hơn, hơn nữa nhiều tảng đá không đến được vì nằm giữa ruộng nước hay lẫn trong ruộng ngô. Đành phải khảo sát vội vã vẽ sơ đồ tạm thời để chờ dịp khác thuận lợi hơn. Cư dân ở đó không cung cấp được cho chúng tôi thông tin gì về những tảng đá đó. Điều này không có gì đáng ngạc nhiên, vì người Mông đến thung lũng này chưa lâu và họ không phải là người đầu tiên làm ruộng ở đây. Tất cả những điều tôi ghi tại chỗ là: 1. vùng này trước kia đông dân hơn bây giờ, 2. xưa kia có một cái chợ lớn họp ở bờ trái dòng nước, gần nơi bắc một trong hai chiếc cầu tre .

Những hình vẽ gần gũi với chữ viết tìm thấy trên các tảng đá ở Mường Hoa.
Những hình vẽ gần gũi với chữ viết tìm thấy trên các tảng đá ở Mường Hoa.
Những tảng đá khắc phân bố trên sườn bắc của thung lũng, tảng thì ngang mực sông, những tảng khác ở độ cao khác nhau lên đến 150 m. Con số tảng đá khắc tới nay chưa khẳng định được. Còn phảilàm thống kê di chỉ này. Trước mắt chúng tôi chỉ có thể cung cấp cho độc giả những mô tả của hai mẫu vật tiêu biểu, với một số ảnh và bản dập .

Tảng đá đầu tiên mà tôi mô tả nằm cách lối đi mấy bước, về phía bên phải khi đi từ Sa Pa đến hình dáng của nó hơi lạ. Thọat nhìn, trông giống như hình dáng của một con vật bằng đá bị mưa gió bào mòn. Có thể những góc cạnh và bề mặt của tảng đá đã được sơ bộ chế tác, giúp cho việc đục hình dễ dàng hơn. Kích thước chính là: cao 1m30; dài 6,60m; rộng 4,10m. Mặt đá hoa cương bị nứt vài chỗ, khiến một số hình vẽ mất đi. Chi tiết đó là quan trọng, vì nó chứng tỏ những hình trên đá đã có tương đối lâu, và những kí hiệu đó bao phủ dày đặc phần lớn mặt đá:

Trước hết ta thấy đây là những hình vạch lộn xộn, không có giá trị khảo cổ học. Tuy nhiên nhìn kĩ ta sẽ phát hiện thấy một trật tự nào đó, một thứ chương trình tổng thể, và dần dần ta nhận thấy sự rối rắm đan xen của những đường nét, của những hình tròn, những tia rẻ quạt, những chấm và dấu móc, có thể mang một ý nghĩa cụ thể, cũng như những hình người cách điệu nằm khắp nơi trong bố cục kì lạ đó. Và ta nghĩ đến những biểu hiện nguyên thuỷ của phần lớn loại tranh khắc có thể nhìn thấy trên các trống thiêng ở Mông Cổ và Groenland, trên chiếc “trống cầu mưa” nổi tiếng của bảo tàng Hà Nội (tức trông đồng Đông Sơn - BT), trên những tảng đá của sông Irtych và Iénissei ở Xibia. Chính sự gần gũi đó đã khiến cho chúng tôi phải tự hỏi, phải chăng những tảng đá ở Mường Hoa cũng mang những hình ảnh và công thức của một tín ngưỡng nguyên thuỷ đối với thiên nhiên.

Trên hình vẽ ta có thể nhìn thấy hình ảnh mơ hồ được đơn giản hoá cùng cực của con người, bên dưới, trong khoảng cách giữa hai chân dạng ra, có những đường xoáy nằm trong vòng tròn. Hìnhngười đó không có mặt, nhưng đầu có những tia sáng bao quanh, và một đường thẳng có thể xuất phát đầu tiên là cái mồm, được kéo dài từ một mạng những hình đan nhau vẽ nên một thứ ngôi sao. Phải chăngđó là sự hình dung ngây thơ của một thầy pháp, một thần linh, hay một nhân vật thần thánh hoá có sức mạnh siêu nhiên? Ta có thể chấp nhận và gán cho nó một giá trị huyền bí đối với những hình cùngloại trên bản dập của chúng tôi.

Hình như cho đến lúc này, những giả thiết giải thích các hình vẽ đó còn gặp nhiều khó khăn. Công việc còn tế nhị khi ta chuyển sang những chi tiết khác. Những hình chữ nhật và hình bầu dục có cạnh không đều mang ý nghĩa gì. Những đường vạch, đường song song có chiều dài và hướng khác nhau, cắt ngang bằng những đường khúc khuỷu có nghĩa gì? Không có cái gì cho biết ý nghĩa của chúng cả. Mãi đến chuyến thăm thứ hai ở Mường Hoa tôi mới có thể đua ra được một vài lời giải thích. Đứng nhìn thung lũng từ trên một mỏm núi nhô cao, tôi chợt hình dung cái giống nhau của một sơ đồ vùng này, hay là của một bức ảnh chụp từ máy bay, với những hình vẽ mà tôi đã mang dập về trong chuyến đi trước. Tôi thấy trước mắt, những độ cao khác nhau bên dưới, những thửa ruộng bậc thang, nhưng con đường và lối mòn quanh co, những con mương vòng vèo theo triền núi, cuối cùng là dòng sông uốn lượn. Tôi có cảm giác rõ ràng là toàn thể những đường nét đó, nếu ghi lại trên một bản đồ có tỉ lệ rất lớn, sẽ có một hình vẽ khoa học tương ứng với những hình vẽ trên đá của chúng ta. Phải chăng đã tìm được chìa khoá của điều bí ẩn? Tôi không dám khẳng định, nhưng ở dưới chúng ta sẽ thấy chổ dựa bất ngờ của giả thiết đó, khi nghiên cứu tảng đá khắc thứ 2.

Hình vẽ người khắc trên đá ở Mường Hoa.
Hình vẽ người khắc trên đá ở Mường Hoa.
Tảng đá thứ 2 nằm về phía đông-nam thung lũng, bên bờ phải con mương đã nói ở trên, cách con đường đi Mường Bô vài bước. Nó có hình lưỡi liềm, mặt cắt tam giác, mà người ta đã đẽo một đầu đểcó một mặt phẳng, để có thể khắc lên trên. Phía trên tảng đá tạo thành góc, có những đường vạch. Kích thước là: Cao 2.0m; khoảng cách bên trong của đường cong: 10m. Hình khắc hầu như chỉ có trên mặtphía nam-đông nam, hướng về dòng nước. Mặt này tạo thành một tam giác tương đối đều, nghiêng như mặt kim tư tháp, đáy dài 7,50m. Hình vẽ ở đây ít hơn và không rối rắm như trên tảng đá trước, xếpthành từng nhóm cách nhau, nối liền bằng những đường vạch khác nhau(…)

Ngay lập tức ta chú ý đến một môtíp hình vẽ từ trước chưa hề thấy. Nó gồm nhiều hình chữ nhật bên trong có nhiều vạch nhỏ và những đường vạch, thoạt nhìn ta nghĩ đến những con dấu Trung Hoa. Những hình chữ nhật có khi thì tập trung thành chùm, khi thì nằm riêng rẽ, nhưng dù sắp xếp như thế nào, mỗi cái đều nối liền nhau bằng một loại cành gắn với một hệ thống đường chạy quanh co, theo đủ mọi hướng, trên bề mặt khắc của tảng đá. Bố cục đó gợi nghĩ đến cây phả hệ của chúng ta, nhưng có lẽ đây chỉ là một sự giống nhau tình cờ.

Những hình bí ẩn đó tương ứng với một ý tưởng nào, với một liên tưởng sự vật nào? Nhờ một nhận xét của ông L.Finot mà tôi có thể nhận ra đó là sự hình dung của một hay nhiều làng, được bố trí cẩn thận, theo những quy tắc của đồ bản học, được phóng chiếu lên mặt phẳng. Dù ai có phản bác khi đọc những lời này thì không thể phủ nhận rằng nó đã giải thích một cách thoả đáng và đến từng chi tiết, những bản dập mà chúng ta có trước mắt. Ngoài ra nó còn tương ứng với cách giải thích mà tôi đã đề nghị đối với những hình vẽ trên tảng đá đầu tiên. Tôi không ngần ngại thấy trong những hình vuông và hình chữ nhật là hình vẽ sơ lược của nhà ở và kho thóc. Chấp nhận điểm này, thì những đường và nét quấn nhau mà ta thấy khắc trên đá, phải chăng là những con đường mòn dẫn đến từng nhà, và những con đường đi qua từng vùng;

Trên một bản dập những hình chữ nhật chỉ là cửa được bố trí theo 2 cách khác nhau. Một số xếp thành hàng đều đặn và sát nhau có thể là những con đường, những cái khác thì rải rác lộn xộn, khiến ta nghĩ đến những ngôi làng vùng cao thường có nhà cửa dựng lên tuỳ tiện theo địa hình của thung lũng hay sườn núi. Rõ ràng người vẽ sơ đồ đã nghĩ đến địa hình thực tế và coi đó là quan trọng. Ngôi làng được vạch trên đá, phải chăng đã được người Trung Hoa cư trú, là những người có trật tự và có truyền thống đô thị, và bởi những người “man dân” không có thói quen sống trong những khu dân cư bố cục theo quy tắc định trước?

Hãy ghi nhận thêm một chi tiết lạ kì khác. Trên những ngôi nhà hình dung trên sơ đồ đầu tiên, có 2 ngôi lớn hơn những nhà khác, con đường dẫn đến không đi theo đường thẳng mà đi quanh co. Giả định bản đồ của chúng ta vẽ mặt đất bằng, thì điều đó trở thành vô nghĩa nghiêm trọng, hay ít ra là một chỉ dẫn khó giải thích khi ta chấp nhận những ngôi nhà này có lẽ là nhà quan hay là nhà hào mục nằm trên độ cao bao quát thung lũng.

Sự mô tả của chúng tôi sẽ không đầy đủ nếu không nói đến những chữ Hán hay hình chữ Hán, tìm thấy trên một trong hai tảng đá. Ông L. Aurousseau đã giúp tôi thông báo những ghi chép sau:

“1. Bản dập cho thấy ở gần chính giữa của phần trên bên phải có một ô chữ nhật, chạy dài theo chiều ngang. Bên trong ô đó có một vài chữ viết, khó đọc, nhưng rõ ràng là chữ Hán. Phía đầu ô đó nằm ở điểm cắt của những đường theo hướng mũi tên A và B kéo dài. Trên ô chữ nhật đó tôi đọc được những chữ như sau, mà tôi chưa dám chắc lắm vì mặt đá bị mòn nhiều: Đại Minh Hoằng Trị tam niên, đó là vào năm 1490. Nếu chữ đó đúng như vậy thì tảng đá đó phải được khắc vào thế kỷ XV.

2. Một vài hình vẽ trên tảng đá này có thể là những chữ Hán.Ví như ở góc phía trên bên phải có chữ có thể là thiên (trời); và ở góc dưới bên trái có chữ có thể là chữ thượng (trên); cuối cùng gần chính giữa các chữ có thể là thiên (một nghìn) hay can ( thân cây); chữ có thể là đạo (con đường). Tuy nhiên phải thừa nhận rằng dầu vết của chữ cuối không chính xác lắm, và ta có thể hỏi phải chăng những ký tự đó là một phần của chữ viết địa phương, chịu ảnh hưởng của văn tự Trung Hoa”.

Nhận xét đó cho chúng tôi một chỗ dựa để đưa ra giả thiết cuối cùng, đấy là sự hiện diện trên cả hai táng đá, những ký hiệu không rõ lắm, rõ ràng có một sự giống nhau với chữ viết do người Lô Lô sử dụng. Chúng tôi đã chép lại một số chữ ( xem hình 2) và đã mời một số chuyên gia quan sát kỹ để xác định xem đây là hình vạch đơn thuần hay là chữ viết.

Một vấn đề khác không kém phần khó giải quyết là do những hình người đã nói tới ở trên đặt ra. Nghiên cứu những hình đơn sơ đó, bản thân nó có thể xác định được nguồn gốc của những hình vẽ, nếu chúng ta có đủ trong tay số lượng những hình cùng loại, mà xuất xứ của nó về mặt dân tộc học là rõ ràng. Đáng tiếc là chúng tôi hầu như thiếu hoàn toàn những “mẫu vật để so sánh”. Những ví dụ tập hợp trong hình 3 và 4 là lấy ở những hình thêu của người Dao và người Thái, ở trên trống Mông Cổ, trên những vũ khí gọi là tiền sử ở Bắc Kỳ và trên các bản viết tay Lô Lô của Viện Viễn đông Bác cổ Pháp 2.

Tất cả những hình đó đều có một điểm chung, đó là hình người cách điệu một cách ngây thơ, thể hiện chính diện. Đặc điểm đó phân biệt rõ với một loại hình ảnh nguyên thủy khác, cũng được biết đến ở Đông Dương, trong đó con người được hình dung theo cách nhìn nghiêng 3.

Trên những tảng đá khắc này hình người hơi thay đổi từ chỗ này sang chỗ khác. Công thức đơn giản nhất là theo hình 10a.

Thoạt nhìn ta thấy nó thuần tuý là một chữ tượng hình. Những chỗ giống nhau với chữ viết đó không nhất thiết chứng tỏ chúng ta đang có mặt trước một yếu tố chữ viết cố định và chỉ một chữ cụ thể. Nói tóm lại, những đồ hình đó có vẻ thuộc lĩnh vực vừa biểu tượng vừa chữ viết.

Vậy thì, như chúng ta đã nói, tất cả những hình đó có thể có một ý nghĩa thần bí, nhưng đặt cho nó một khái niệm cụ thể là thiếu thận trọng, khi chúng ta chưa có đủ tài liệu về những hình khắc trên đá khác.

Một trong những tảng đá đó có một hình kỳ lạ mà chúng tôi đã vẽ lại trên hình 5. Ta thấy đó là hai hình người, rõ ràng là một nam một nữ, nối nhau bằng một thứ ống có nút thắt và một đoạn ruột thừa. Phải chăng đấy là huyền thoại về một đôi vợ chồng tổ tiên, mà những người cư trú cũ trong thung lũng đã sùng bái như tổ của họ.

Sự hiện diện của những hình ảnh thần bí trên đá khắc của chúng ta không loại trừ khả năng nó được sử dụng vào việc khác ngoài vấn đề tín ngưỡng địa phương. Những hình vẽ thể hiện trên bản dập có thể được sử dụng vào việc vẽ địa hình hay một công trình thống kê nào đó. Chúng ta có thể phỏng đoán rằng những thửa ruộng mà ta tưởng có thể nhận ra trên một trong hai tảng đá, đã tồn tại trên thực tế và được khắc trên đá về một mục đích vừa có tính tín ngưỡng vừa mang tính thực tiễn. Về điểm này, ta có thể nhớ lại ở các dân tộc miền thượng du Bắc Kỳ, đã từng tồn tại một thứ khế ước viết tay, trao đổi giữa những tộc người khác nhau, nhằm giải quyết việc khai thác những thửa ruộng, hoặc là làm chung, hoặc là uỷ quyền. Dù những văn bản đó phần lớn chỉ mới làm gần đây, nhưng có khả năng là nó tương ứng với một tập tục cũ trong vùng và có một mối liên quan lịch sử giữa nó với một hình khắc trên đá.

Nhưng ít ra lúc này đó mới chỉ là những giả thuyết. Chỉ có việc giải mã những hình vẽ trên những tảng đá mới đem lại cho ta những điều chắc chắn. Đến nay vẫn còn những nghi ngờ về niên đại khắc những hình đó, cũng như về tộc người “man dân” đó, dù họ đã được Hán hoá rất sâu 4.

____________________

1. Sa Pa là một nơi nghỉ mát nằm ở phía tây - nam Lào Cai. Mường Hoa hồ là sông Mường Hoa bắt nguồn từ dãy Phan Xi Păng (3 142m), là một hợp lưu của sông Hồng . Thượng lưu con sông chảy qua hai thung lũng phì nhiêu, cắt ngang bởi nhiều tháp và cách nhau bằng một khe hẹp. Thung lũng phía bắc là nơi chúng ta đang nói đến.

2. Chúng tôi không thể đưa vào đây những hình người Mông khâu trên áo, phía sau lưng hay trước ngực, mà theo linh mục Savina, Histoire des Miao, Hong Kong, 1924.

3. Ví dụ trên trống đồng ở Bảo tàng Hà Nội.

4. Theo thống kê của Sở Văn hoá - Thông tin Lào Cai thì số tảng đá có hình khắc là 159. Hơn nữa, năm 1992 còn phát hiện thêm một bãi đá khắc khác ở làng Má Tra cách Mường Hoa 8km. Trong những năm qua đã có 11 đoàn nghiên cứu trong và ngoài nước đến khảo sát, nhưng chưa có công bố khoa học nào được đưa ra.

Nguồn Xưa và nay, số 153, tháng 12/2003.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Liên hiệp Hội Việt Nam chủ trì tổ chức họp các đoàn dự Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI
Căn cứ Thông tri số 10/TT-MTTQ-UB của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam về việc triệu tập đại biểu dự Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI, với vai trò là Trưởng các Đoàn của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức Liên hiệp, Liên hiệp Hội Việt Nam đã chủ trì tổ chức họp các đoàn để triển khai thực hiện thông tri của MTTQ Việt Nam.
Thủ tướng Lê Minh Hưng lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Philippines
Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa Philippines Ferdinand Romualdez Marcos Jr, Chủ tịch ASEAN năm 2026, ngày 7/5, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Minh Hưng dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu, Philippines từ ngày 7 đến 8/5/2026.
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.