Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 13/12/2005 00:08 (GMT+7)

Giáo sư Trịnh Văn Thảo với những nghiên cứu về trí thức Việt Nam

Nghiên cứu xã hội học về trí thức Việt Nam thế kỷ XIX-XX


● Nghiên cứu lịch sử truyền thống và tiểu sử của ba thế hệ trí thức Việt Nam để tìm ra sợi dây liên hệ trong việc kết thừa truyền thống Nho phong. Vận dụng phương pháp nhân học lịch sử (anthropologie historyque) vào lịch sử cận đại và hiện đại Việt Nam từ 1863 đến 1945. Diễn giả đã phân tích các phương thức giáo dục, đào tạo và thừa kế của ba thế hệ xã hội nối tiếp nhau trong phong trào giải phóng dân tộc: thế hệ Cần vương (1883-1896), thế hệ Duy Tân (1907) và thế hệ Tây học (1925). Qua đó diễn giả nhấn mạnh đến sự hình thành và hiện diện vào khoảng 1940-1945 của hai nguồn “văn hoá trí thức” đối lập nhưng không đối kháng, vì trong mỗi tập đoàn trí thức vẫn còn tồn tại ý thức trách nhiệm của sĩ phu đối với đất nước, dù là lớp sĩ phu cũ hay mới, kế thừa truyền thống do cha ông để lại. Đó là những người kế thừa truyền thống Nho phong của dân tộc.


● Qua nghiên cứu tiểu sử của gần 300 nhân vật lịch sử (nghĩa là 5% thành phần trí thức từ bậc đại học mới), phối hợp với các dữ kiện thuộc hệ thống xã hội hoá, tức ảnh hưởng lâu dài do hoàn cảnh xã hội tạo nên, và yếu tố thời cơ, nghĩa là tác động của thời sự và hoàn cảnh cụ thể từng lúc, đã đưa đến sự dấn thân của giới trí thức vào các hoạt động chính trị xã hội trong những năm 1945-1946. Trịnh Văn Thảo đã đưa ba mô hình văn hoá trí thức (cultures intellectuelles) xuất hiện ở Việt Nam hồi đó.


-Trí thức Tây học miền Nam Việt Nam xuất thân từ thành phần trưởng giả, địa chủ người Việt hay người gốc Hoa, có quốc tịch Pháp, hấp thụ văn hoá học đường Pháp, nói tiếng Pháp, và nhiều người có vợ Pháp. Đời sống của xã hội thuộc địa với chế độ bầu cử, tranh cử, hoạt động báo chí không những không dập tắt tinh thần yêu nước của họ, mà đã đem lại hậu quả trái ngược, khiến họ dễ dàng dấn thân vào con đường chính trị với động cơ yêu nước. Một số lớn trong tầng lớp này đã ly khai tinh thần với giai cấp mình và chế độ thực dân đã nuôi dưỡng họ, trở thành những người cách mạng chống Pháp. Diễn giả đã dẫn ra các trường hợp của gia đình Phạm Ngọc Thạch, Nguyễn Ngọc Bích, Phạm Ngọc Thuần…


-Trí thức thừa kế những dòng họ đã kinh qua phong trào Cần Vương, phong trào Duy Tân, trải qua các biến cố năm 1925 ở miền Trung và miền Bắc (Hà Nội và vùng phụ cận, Thanh - Nghệ Tĩnh..). Mặc dầu cũng chịu ít nhiều ảnh hưởng Tây học (nhiều người đã đỗ đạt các trường lớn của Pháp), nhưng họ là những người thừa kế của lớp sĩ phu yêu nước. Một số lớn xuất thân từ đại học Hà Nội, giữ địa vị trung lưu từ sau năm 1940, chính họ đã trở thành “yếu tố căn bản” trong cuộc vận động trí thức dấn thân ủng hộ cách mạng, ủng hộ cuộc kháng chiến của chính phủ cụ Hồ năm 1945. Dẫn trường hợp của các nhân vật Vũ Đình Hoè, Dương Đức Hiền, Cù Huy Cận…


-Trí thức đại khoa xuất thân từ các trường đại học có tiếng của Pháp, Anh và Đức, theo hệ thống “ưu tú cộng hoà” (méritocratie républicaine), đã được trọng vọng ngay từ thời thuộc địa, nên có thái độ dung hoà giữa hai nguồn văn hoá Đông-Tây, đề cao lý tưởng dân chủ và giá trị nhân bản. Điển hình của xu hướng này là các nhà trí thức Hoàng Xuân Hãn, Hồ Đắc Di, Tạ Quang Bửu…


Ảnh hưởng của nền giáo dục thời thuộc địa ở Việt Nam: hệ thống trường ốc và con người


Sau khi trình bày các vấn đề trên, diễn giả đề cập đến những nghiên cứu xã hội học lịch sử về cuộc tiếp xúc văn hóa Pháp-Việt. Trong phần này Trịnh Văn Thảo đề cập đến hai chủ điểm:


● Để góp phần vào việc tổng kết quá trình “khai hoá” của chế độ giáo dục thực dân ở các nước thuộc địa, Trịnh Văn Thảo nhấn mạnh đến vai trò và ảnh hưởng sâu rộng của con người, của những gương mặt ông thầy người Pháp đến dạy ở Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến 1945, trong đó có những nhà trí thức tự do và đầy tâm huyết để để lại những dấu ấn trong trí nhớ của các học trò.


Sau gần một nửa thế kỷ thực hiện chính sách thực dân nhằm đào tạo hàng ngũ trí thức phục vụ cho chế độ thuộc địa, thực dân Pháp đã thất bại khi thấy đại đa số sản phẩm xuất thân từ các trường đại học Pháp đã đi theo phong trào cách mạng và kháng chiến, đấu tranh cho dân tộc. Giải thích lý do của sự thất bại đó là những hạn chế về kinh tế, xã hội và chính trị mà thực dân đã áp đặt đối với tầng lớp trí thức, mặt khác là truyền thông yêu nước do cha ông để lại, đã kế thừa từ tinh thần duy tân noi gương Trung Quốc và Nhật Bản. Tuy nhiên chính sách trường học tại Việt Nam cũng đã góp phần trong sự hoà nhập của trí thức Việt Nam vào các trào lưu văn hoá phương Tây, tiếp thu những ý tưởng nhân bản, dân chủ và tiến bộ của các nhà sư phạm xuất thân từ hệ thống “ưu tú cộng hoà”, ví dụ như các giáo sư người Pháp Houlié, Milon, V.Tardieu…


● Qua một vài luận đề của các nhà Đông phương học nổi tiếng, như Edward Said (Đông phương học qua cái nhìn của người Tây phương), Trịnh Văn Thảo đã đặt lại một số dữ kiện lịch sử, xã hội và khoa học trong sự tìm hiểu về nguồn gốc dân tộc và xã hội học ở Việt Nam, cụ thể là phong trào văn hoá “Trở về nguồn” những năm 1935-1945. Các nhà Đông phương học Tây phương ít có liên hệ với các nhà nhân học Việt Nam làm việc tại các viện nghiên cứu ở Việt Nam như Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp EFEO, Hiệp hội nghiên cứu Đông Dương SEI… nên đã có những nhận xét phiến diện sai lệch về văn hoá Việt Nam. Từ vai trò những người phụ thuộc, trung gian, thế hệ các nhà nhân học đầu tiên ở Việt Nam đã trở thành những nhân vật căn bản trong các công trình nghiên cứu Đông phương học và đã góp một phần quan trọng trong công việc đính chính những định kiến lệch lạc về văn hoá Việt Nam của học giả nước ngoài. Đó là các học giả Nguyễn Văn Tố, Trần Văn Giáp, Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Thiện Lâu…


Sau buổi trình bày, Gs Trịnh Văn Thảo đã có cuộc trao đổi thân mật và cởi mở đối với người nghe và hy vọng sẽ có dịp giới thiệu những công trình nghiên cứu của mình với đông đảo độc giả Việt Nam qua các bản viết bằng tiếng Việt.

Nguồn: Tạp chí Xưa và Nay, số 235, tháng 5/2005

Xem Thêm

Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
VUSTA góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi)
Chiều 19/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Tổng hội Y học Việt Nam tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách, bảo vệ quyền lợi của người hiến, bảo đảm công bằng trong điều phối tạng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của y học ghép tạng Việt Nam.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.

Tin mới

Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.
Bác Giáp: Sâu nặng những ân tình với VIFOTЕС
Điều mà những người làm khoa học kính phục ở con người Đại tướng Võ Nguyên Giáp là cả khi khỏe mạnh hay đau yếu, ông vẫn hướng tới việc chung, vì sự nghiệp đổi mới, sáng tạo của đất nước. Khi sức khỏe không còn đủ để đến tham dự các lễ trao giải, tôn vinh nhà khoa học, Đại tướng vẫn dõi theo; các thành viên trong Quỹ và Liên hiệp Hội Việt Nam vẫn đến gặp Đại tướng để báo cáo và nghe chỉ đạo.
Phụ nữ VUSTA: Tự tin tỏa sáng và làm chủ hạnh phúc
Sáng ngày 20/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã tổ chức đã tổ chức Chương trình chúc mừng Ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10. Sự kiện là dịp tôn vinh nét đẹp của đội ngũ nữ cán bộ, người lao động VUSTA, đồng thời lan tỏa những thông điệp truyền cảm hứng về hành trình tự tin, hạnh phúc của phụ nữ.