Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 24/05/2012 21:04 (GMT+7)

Đổi thay trong cách ăn ở của người Hà Nội thời thuộc địa

Bốn tòa nhà công đầu tiên của người Pháp xây năm 1887 gần bờ Hồ Gươm, quanh vườn hoa Paul Bert, tục gọi là vườn hoa Nhà kèn. Đó là nhà Kho bạc, tòa Thị chính, nhà Dây thép (bưu điện) và dinh Thống sứ Bắc kỳ. Đấy là công trình của kiến trúc sư Auguste - Henri Vildieu, nguyên sinh viên Trường Mỹ thuật Paris, phụ trách xây dựng dân sự từ giữa 1894 và 1907. Ông còn là người vẽ kiểu cho những công sở lớn theo phong cách tân cổ điển của thành phố như nha Cảnh sát (Công an Hà Nội ngày nay), Câu lạc bộ sĩ quan, nha Giao thông công chính (sau là Bộ Thủy lợi) và dinh Toàn quyền (1906). Đó là những đường cong của phong cách Tân nghệ thuật, sự đăng đối của Nghệ thuật Trang trí, sự chỉnh chu của Phong trào Hiện đại hay cái lạnh lùng của trường phái Chức năng (xem Philippe Papin, Sđd).
Còn đối với nhà tư thì người ta đã đưa ra nguyên tắc chung về xây dựng mà bác sĩ E. Courtois đã xác định như sau: “Ngôi nhà lý tưởng sẽ được xây trên một chỗ đất cao tự nhiên, móng của nó bằng đá và bằng gạch cách nhiệt xây thành vòm, bên trên là tầng trệt” (tạp chí Revue indochinoise,1900). Ngoài ra còn phải: cách các ngôi nhà bản xứ càng xa càng tốt, mặt chính nhìn về hướng bắc, có hàng hiên chạy xung quanh, rộng từ 2 đến 3m, khoảng cách giữa mái ngói và trần nhà phải cao, sàn lát gạch, bếp và nhà phụ tách rời về phía tây nhằm tránh ẩm thấp và hơi nước từ đất bốc lên, tránh khỏi bị mốc, tránh được ánh nắng trực tiếp chiếu vào, cả khí lạnh về mùa đông, sự xâm nhập của côn trùng… Đó là hình ảnh của những ngôi nhà doanh trại của quân đội Pháp mà ngày nay chúng ta còn thấy trong Bảo tàng Lịch sử quân sự quanh Cột cờ.
Nhưng đến khi xây dựng khu phố Tây mới sau khi phá thành Hà Nội, thì những ngôi nhà tư của các viên chức cao cấp Pháp được mọc lên theo ý thích của từng chủ nhân ngôi nhà. Tùy theo xuất thân của người chủ, mà người ta du nhập các phong cách kiến trúc địa phương của các miền trên đất Pháp. Đó là những biệt thực mang dáng dấp của kiến trúc vùng Corse, Nice hay Marseille miền đông - nam nước Pháp; những ngôi nhà lớp đá đen vùng Anger; mái nhọn miền bắc Pháp hay mái bằng kiểu Địa Trung Hải; biệt thự vùng Alsace miền đông - bắc với vách có đố gỗ, nhà có vọng lâu vùng Provence… Một số kiến trúc phá cách đầu thế kỷ XX cũng xuất hiện, như biệt thự Schneider bên bờ Hồ Tây (Philippe Papin, Sđd). Một số nhà nghiên cứu kiến trúc Pháp (như Christian Pedelahore de Lodi) nhận xét rằng kiến trúc ở các khu phố này hơi “táp nham”, không theo một phong cách nhất quán. Nhưng theo tôi chính trong sự lựa chọn tùy hứng đó lại làm nên cái đa dạng của kiến trúc thành phố. Những ai quan tâm đến nghệ thuật kiến trúc, chắc sẽ tìm thấy ở đây nhiều phong cách kiến trúc khác nhau, mà không cần phải sang bên Tây mới được chiêm ngưỡng.
Nhưng đồ sộ nhất trong những kiến trúc Pháp là Nhà hát thành phố, đứng sừng sững đầu đường Tràng Tiền, được coi như là “Champs - Élysées” của thành phố thuộc địa, với những bậc thang bằng đá, lớn hơn nhiều nhà hát của các thành phố lớn nước Pháp. Phỏng theo mẫu của Opéra Garnier ở Paris, được hoàn thành năm 1911 sau hơn 10 năm xây dựng, đến nay vẫn là nhà hát đẹp nhất của nước ta, mà những nhà hát của Sài Gòn hay Hải Phòng cũng do người Pháp dựng nên, không thể sánh được.
Tháng 7 - 1921, một hội đồng gồm các quan chức thành phố và thầy thuốc đã biểu quyết quy định từ nay các nhà xây dựng trong khu phố Tây phải có thể tích ở trên 100 m 3và mật độ mỗi người dân phải có 25 m 3nhà ở, cùng với một cái sân bên ngoài tối thiểu là 50 m 2. Tất cả các nhà phải cách tường rào ngăn cách với nhà bên cạnh hơn 2m. Đấy chính là chỗ khác nhau giữa các phố Tây với phố ta, không có cảnh nhà cửa chen chúc chật chội.
Sự vận dụng phong cách Pháp kéo dài cho đến những năm 1920. Đến lúc này, dưới ảnh hưởng của kiến trúc sư Ernest Hébrard, người đầu tiên được Giải thưởng lớn Rome năm 1904, nhà cầm quyền Pháp đã chấp nhận một “phong chách Đông Dương” với những ngôi nhà có nhiều mái lồng vào nhau và đầu nóc cong lên, với rất nhiều cửa và hàng cột thon thả, những ô văng lợp ngói hình bán nguyệt, xen kẽ giữa đá và gỗ. Đó là sự tìm tòi kết hợp giữa hai phong cách Á và Âu, tạo nên những kiến trúc độc đáo mà ngày nay ta còn thấy ở trường Đại học Đông Dương, 1927 (nay là Đại học Dược), Bảo tàng Viện Viễn Đông Bác cổ, 1931 (nay là Bảo tàng lịch sử), Nha Tài chính Đông Dương, 1931 (nay là Bộ Ngoại giao).
Làn sóng kiến trúc đó sẽ được thay thế khi trường Mỹ thuật Đông Dương ra đời năm 1927, với một phân ban kiến trúc, đã đào tạo nên gần 100 kiến trúc sư (KTS) người Việt. Trong khi những tòa nhà công thương dành cho các KTS Pháp, thì KTS Việt lại vẽ kiểu cho những ngôi nhà tư của giới thượng lưu và trung lưu bản xứ. Một số đã tạo nên sự kết hợp hài hòa hơn giữa hai phong cách Âu - Á, phù hợp với khiếu thẩm mỹ và điều kiện khí hậu của địa phương. Ngày nay ta vẫn có thể thấy những ngôi nhà đó náu mình một cách kín đáo trên các con đường nhỏ giữa phố Huế và đường Bà Triệu, đem lại cho thành phố một dáng vẻ độc đáo. Đáng chú ý là khu Đông Dương học xá xây dựng từ năm 1938 phía nam thành phố nằm bên ngoài đê La Thành (sau này trở thành trường Đại học Bách khoa đầu tiên của Hà Nội) và những biệt thự quanh hồ Haleais (Thiền Quang) do các KTS Việt Nam vẽ kiểu, xây dựng trong những năm cuối của thế chiến thứ hai, là sự kết hợp thành công giữa hai phong cách kiến trúc Âu và Á. Dù theo phong cách nào, chỉ trong một khoảng thời gian ngắn ngủi, các KTS của Hà Nội đã xây nên gần 200 biệt thự. Đó không phải là một con số nhỏ. Có lẽ vì vậy mà đến nay các “ngôi nhà thuộc địa” đó vẫn được dư luận thừa nhận là đẹp, và những kiến trúc đó được coi là di sản của thành phố.
Sự hình thành một lối sống mới
Những thay đổi về cấu trúc của thành phố thời thuộc địa đã kéo theo sự thay đổi của lối sống thị dân. Tất nhiên, những đổi thay đó còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, chủ yếu là đời sống kinh tế, sự ra đời của tầng lớp thị dân mới, ảnh hưởng của văn hóa phương Tây đem lại những đổi mới trong văn hóa dân tộc… Nhưng dù sao, nhịp sống mới của đô thị vẫn đem lại nhiều đổi thay trong tâm thức con người, dù hay dù dở, nó vẫn là một lối sống mới của người dân Hà Nội:
- Trước hết là rời bỏ sinh hoạt chu kỳ theo tâm thức của người dân làng xã. Hà Nội đã trở nên một thành phố theo đúng nghĩa của nó, thời gian chu kỳ của sinh hoạt làng quê không còn nữa, mà đã chuyển thành sinh hoạt tuyến tính của thời hiện đại. Chợ không còn họp theo phiên, mà diễn ra mọi ngày trong tuần, có khác chăng là ngày chủ nhật có đông hơn đôi chút. Tuy nhiên, các hội đình, hội làng của Hà Nội xưa mặc dầu bắt đầu phai nhạt, nhưng vẫn tồn tại dai dẳng bên cạnh các ngày hội mới như ngày “Hội Cát tó” (quốc khánh Pháp 14 tháng 7), hội chợ (foire), chợ phiên (kermesse)…
- Người dân không còn ứng xử theo tập quán, mà biết ứng xử theo pháp luật - dù là pháp luật thực dân, còn nhiều sự phân biệt đối xử. Chỉ cần một bốt Hàng Trống, về sau thêm bốt Hàng Đậu và bốt Hàng Lọng, mà vẫn duy trì được trật tự đường phố. Cụ Hoàng Đạo Thúy kể lại chuyện Hà Nội xưa, còn nhắc đến thầy đội xếp đầu phố Hàng Gai, chuyên bắt phạt những người dân quê lên thành phố, vào… đái bậy ở ngõ Tô Tịch. Trật tự vệ sinh thành phố trở thành một yêu cầu bắt buộc với mọi người dân, chuyện lấn chiếm vỉa hè và cơi nới nhà của vốn quen thuộc trong nếp sống của người Việt xưa đang bị mất dần.
- Sự ra đời các phố Tây tạo nên cái đối lập giữa hai thế giới của tầng lớp thượng lưu (cả Pháp lẫn Việt) với tầng lớp bình dân. Nhưng có đúng như vậy không? Thực ra tầng lớp tư sản bản xứ vẫn còn chiếm số đông ở khu phố phường xưa. Vậy đây là đối lập giữa hai phong cách của khu nhà ở (biệt thự) và công sở, với khu buôn bán mang tính bình dân hơn.
Trong khu phố cổ, có sự cộng sinh giữa hai tầng lớp người giàu và người nghèo. Người giàu có nhu cầu mua sắm, người nghèo làm dịch vụ bán hàng và sửa chữa cho người giàu. Vì vậy trong khu phố cổ, người có tiền thường được thụ hưởng những dịch vụ do người nghèo đem lại. Đó cũng là điều mà hiện nay người dân phố cổ vẫn thừa hưởng, khác với những khu chung cư cao cấp mới mọc ra ở ngoại vi thành phố.
Còn trong khu phố Tây, người ta sống ở một thế giới khác. Ngoài đường không có ăn mày, không có trẻ em đánh giày đi lang thang, không có người bán hàng rong. Mọi sinh hoạt diễn ra theo cung cách… bên Tây! Không phải chỉ có người Pháp, mà tầng lớp thượng lưu người Việt cũng phải Âu hóa theo kiểu đó. Đấy cũng là cái mà ở các khu biệt thự cao cấp hiện nay người ta đang muốn thực hiện. Nhưng liệu không biết có làm được không?
- Cuối cùng ta cũng nên rút ra một bài học về quản lý đô thị. Chỉ với một bộ máy đơn giản, nhất là cảnh sát không đông như ngày nay, mà chỉ trong thời gian không dài lắm, hơn 50 năm thôi, thành phố Hà Nội đã chuyển được từ một đô thị phương Đông, lộn xộn, thiếu qui củ, để trở thành một đô thị theo chuẩn mực của phương Tây. Vậy động lực nào đã làm nên cái đó. Tôi không dám đi sâu vào phân tích mọi khía cạnh xã hội, mà chỉ muốn nhấn mạnh đến mặt văn hóa, đó là sự thích nghi nhanh chóng của người Hà Nội với lối sống mới, tạo cho mình một phong cách sống phù hợp với hoàn cảnh mới. Đó là cái làm nên văn hóa ứng xử của người Hà Nội xưa.
Điểm lại một số nét trong những thay đổi về lối sống của người Hà Nội dưới thời thuộc địa, chúng ta hãy xem cái gì là khả thủ, cái gì là lỗi thời, để từ đó mà tìm ra một lối đi cho văn hóa đô thị hiện nay, điều mà nhiều nhà nghiên cứu văn hóa vẫn đang băn khoăn.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.
Phát huy vai trò nòng cốt của trí thức KH&CN tỉnh Cà Mau
Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031 tổ chức thành công thực sự đã mở ra một không gian mới để hội tụ sức mạnh, tâm huyết và trí tuệ của đội ngũ trí thức tỉnh nhà, định hình con đường kiến tạo và phát triển trong kỷ nguyên mới của đất nước.
Công bố Quyết định bổ nhiệm Giám đốc, Tổng biên tập Nhà xuất bản Tri thức
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức Hội nghị Công bố quyết định về công tác cán bộ. Tại hội nghị, TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã trao Quyết định bổ nhiệm bà Bùi Thị Thu Hằng, Phó Giám đốc phụ trách, Phó Tổng biên tập NXB Tri thức giữ chức vụ Giám đốc, Tổng biên tập NXB Tri thức.
Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành tháng 4/2026
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Đảng bộ Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (LHHVN) tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành nhằm đánh giá kết quả công tác, đồng thời triển khai các nhiệm vụ trọng tâm, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong công tác xây dựng Đảng và chuẩn bị cho Đại hội LHHVN nhiệm kỳ mới.
Nâng tầm sức mạnh văn hóa vùng Đất Tổ - Động lực quan trọng cho phát triển bền vững
Phát triển văn hóa và con người là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh, động lực cho phát triển nhanh bền vững. Quan điểm đó tiếp tục được khẳng định mạnh mẽ trong Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị. Nghị quyết nhấn mạnh văn hóa phải thấm sâu vào đời sống xã hội, gắn kết hài hòa với chính trị, kinh tế, môi trường, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia.
Chủ tịch Phan Xuân Dũng dự Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I
Ngày 23/4, Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031 đã thành công tốt đẹp. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng chúc mừng, đánh giá cao những nỗ lực rất lớn của Liên hiệp Hội tỉnh, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh TVPB, ĐMST&CĐS, lan tỏa tri thức KH&CN, phục vụ trực tiếp đời sống người dân địa phương.
Tuyên Quang: Thúc đẩy năng lực triển khai năng lực hoạt động KHCN, ĐMST và CĐS trong sinh viên
Ngày 21/4, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (KH&KT) tỉnh Tuyên Quang phối hợp với Trường Cao đẳng Tuyên Quang tổ chức Hội thảo tập huấn, phổ biến kiến thức “Thúc đẩy năng lực triển khai hoạt động khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong sinh viên” bằng hình thức trực tiếp và trực tuyến.