Diệp Hạ Châu viêm gan siêu vi B
Tên khoa học Phyllanthus urinaria, thuộc họ Thầu dầu: Euphorbiaceae.
Ngoài ra, còn có một cây nữa gần giống và cùng họ là Diệp Hạ Châu đắng với tên khoa học là Phyllanthus ninuriL. mà ở Ấn Độ gọi là cây Chanca Piedra. Cả hai cây này đều có tính dược giống nhau.
Diệp Hạ Châu có vị đắng, tính mát, tác dụng thanh can (mát gan), nó được nhiều nước trên thế giới sử dụng để chữa trị nhiều chứng bệnh. Ở Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam dùng để chữa chứng mụn nhọt, đinh râu, tiêu chảy, đau thận… ở Pháp dùng để chữa sỏi thận, sỏi mật, đặc biệt là viêm gan. Ở Brasil người ta nghiên cứu nó có tác dụng giảm đau mạnh.
Từ những năm 1980 đến nay, nhiều nhà khoa học trên thế giới đã đi sâu nghiên cứu cây Diệp Hạ Châu. Ở Nhật Bản và Ấn Độ đã nghiên cứu và xác định tác dụng điều trị đối với bệnh gan, là do Diệp Hạ Châu có chứa một số enzime và các hoạt chất Phyllanthin, Hypophyllthin và Triacontanal. Các hoạt chất glucoside này đã ức chế men Aldose reductase (AR). Vào cuối những năm 1980, tại Ấn Độ, Break Stone đã gây được sự chú ý đối với toàn thế giới về tác dụng chống lại virus viêm gan B của cây Diệp Hạ Châu. Đây là một phát hiện hết sức quan trọng về giá trị chữa bệnh của cây thuốc này. Chúng ta biết rằng virus viêm gan B không chỉ tồn tại trong giai đoạn cấp tính, mà chúng còn tồn tại trong cơ thể và có thể tiến tới gây ung thư gan. Các nghiên cứu cho thấy có tới 90% bệnh nhân bị ung thư gan đã từng mắc bệnh viên gan siêu vi B. Viêm gan siêu vi B là bệnh hiểm nghèo thường gặp nhất trên thế giới do siêu vi khuẩn B gây ra. Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO) đến đầu thế kỷ 21 này ước tính có 400 triệu người trên thế giới mang mầm bệnh viêm gan do siêu vi B, trong đó có 85% số người này (340 triệu) sống ở Đông Nam Á. Việt Nam là một trong những quốc gia có tỷ lệ nhiễm siêu vi B cao nhất thế giới với 16 triệu người và sẽ có khoảng 4 triệu người (25%) chuyển sang viêm gan mãn tính, dẫn đến xơ gan và ung thư gan nếu không được chữa trị tích cực.

Thật đáng sợ nếu biết rằng diễn biến bệnh thường kéo dài trong khoảng 10 - 20 năm và 85% người bệnh có thể chuyển sang mãn tính và 15% chuyển thành xơ gan. 






