Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 28/11/2007 00:27 (GMT+7)

Đặc điểm của vật đố trong câu đố người Việt

1.Vật đố có hai đặc điểm, là tính phổ biến và tính khái quát.

1.1.Tính phổ biến của vật đố

Phạm vi của vật đố rất phong phú, đa dạng. Những sự vật, hiện tượng, sự việc được đem ra đố hầu hết là những thứ, những việc mà ai cũng từng hay, từng biết. Mỗi khi đưa ra đố cái mà đối phương chưa từng nghe thấy, thì cuộc chơi đố nhau bị huỷ bỏ ngay, vì đã vi phạm yêu cầu về sự công bằng của trò chơi (khi đố về một thứ xa lạ với đối phương, thì ngươpì đó đã nắm chắc phần thắng, sự thú vị của trò chơi do nhiều bất công nay làm mất đi: trò chơi trở thành lối độc diễn vô vị, và không còn gọi là trò chơi nữa).

Cũng do chính từ đòi hỏi vừa nói mà số câu đố về một loại sự vật chỉ một thiểu số người nào đó biết được, thường diễn ra hạn chế trong số ít người ấy, và tất nhiên, mức độ lưu truyền cũng hãn hữu. Chẳng hạn, đố về tên các vị thuốc bắc thì các thầy thuốc nắm rõ, đố về tên các quân của cỗ bài tổ tôm, bài tới, bài tây, thì chỉ người hay chơi các loại bài này mới rành, đố về tên các nhân vật trong sử sách, kinh truyện thì số người có học (vốn không nhiều) mới có khả năng giải đáp... Và thực tế sưu tầm cũng cho thấy, các loại câu đố trên không được bao lăm, thậm chí có vùng không tìm thấy câu nào.

Trừ những vật đố thuộc tự nhiên (sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, giới sinh vật; như đố về “trăng”, “sao”, “sông”, “núi”, “sâm”, “sét”, “cây chuối”, “cây tre”, “cây rau sam”, “quả đu đủ”, “buồng cau”, “con sâu róm”, “con rắn”, “con cóc”, “con trâu”, “con chim chốc mào”, “con cá trê”...), những vật đố thuộc văn hoá (việc người làm, thức người ăn, các công cụ, vật dụng do con người tạo nên để lao động, sinh hoạt, đáp ứng cho nhu cầu cuộc sống) phản ánh việc làm và điều kiện vật chất của người Việt xưa. Tính phổ biến của vật đố được đặt trong hoàn cảnh sinh thành của chúng (hoàn cảnh ra đời của câu đố), nghĩa là đặt trong điều kiện văn hoá xã hội đất nước vào thời kì thuần nông nghiệp, tự cung tự cấp trước đây (có thể là thời kì dài từ khi hình thành nhà nước độc lập đến hết thế kỉ XIX, và giai đoạn bản lề là thế kỉ XX).

Còn đặt vào thời điểm hiện nay (đầu thế kỉ XXI), thì có những việc làm đã hoàn toàn lùi vào quá khứ, như : “rao mõ”, “kéo xe tay”,... Có những việc làm vừa mới rời đi, có thể có nơi vẫn còn tiếp diễn, như: “ươm tơ”, “kéo sợi”, “dệt vải”, “xay lúa”, “giã gạo”, “bắt chấy bỏ miệng cắn”, “mang nùn (con cúi) đi xin lửa”,... Có những việc làm mà địa bàn của chúng đang phải thu hẹp dần, như: “gánh nước”, “lợp nhà tranh”,... Số công cụ, vật dụng cũng theo đó mà nhiều thứ chỉ còntìm thấy với tư cách vật đố (và có thể có ở các nhà bảo tàng), như: “cái khố”, “cái tơi”, “cái vạch” (của nghề may tay), “hòn đá lấy lửa”, “đồng tiền cổ”,... ; hoặc còn lưu lại trong dân gian, nhưng ngày càng hiếm đi, như: “cái khung cửi”, “nồi ươm kén”, “cái xe đạp nước”, “cái quạt thóc” (quạt hòm), “cái cối xay lúa”,...; và những thứ do mức tiện lợi hạn chế hay thị hiếu thay đổi mà không còn được ưa chuộng, như: “cái yếm”, “cái đãy”, “đôi bông tai” (hình cái hoa, phía trước là nụ xoè cánh, phía sau là cuống thắt eo ở giữa), “cây bút muỗng”, “cái gáo bằng sọ dừa”,...

2.2 Tính khái quát của vật đố

a. Sự vật đem ra đố phải là một sự vật mà trong cảm quan ngôn ngữ của người Việt có được sự phân biệt với các sự vật khác trong cùng một chủng loại. Thí dụ, vật đố “cái cày”, phân biệt với “cái bừa”, “cái trục”, “cái cuốc”, cùng là những nông cụ; vật đố “cây ngô”, phân biệt với “cây mía”, “cây dừa”, “cây chuối”, cùng là những cây trồng; vật đố “con bò”, phân biệt với “con trâu”, “con dê”, “con lợn”, cùng là những vật nuôi; vật đố “con rắn” phân biệt với “con thỏ”, “con nhím”, “con rùa”, cùng là những con vật hoang dã,...

Chúng đồng thời cũng phân biệt với sự vật ở cấp chủng loại lớn hơn, bao hàm chúng, và phân biệt với sự vật ở cấp chủng loại bé hơn mà chúng bao hàm. Trở lại thí dụ trên, có vật đố là “cái cày”, “cái bừa”,..., “cây ngô”, “cây mía”,..., “con bò”, “con trâu”,..., “con rắn”, “con thỏ”,...,mà không có vật đố thuộc chủng loại bao hàm chúng (theo thứ tự các nhóm) là “nông cụ”, “cây trồng”, “vật nuôi”, “vật hoang dã”; có vật đố là “cái cuốc”, “cây chuối”, “con lợn”, “con rùa”, nhưng không có vật đố thuộc chủng loại bé hơn mà chúng bao hàm, kiểu như: “cuốc bàn (cuốc tượng)”, “cuốc năm (cuốc năm răng)”, “cuốc ba (cuốc ba răng)”, “cuốc chim”, “cuốc xếp”,... (thuộc “cái cuốc”); “chuối tiêu”, “chuối đá”, “chuối cau”, “chuối mốc”, “chuối sứ”, “chuối ba lùn”,... (thuộc “cây chuối”);; “lợn cỏ”, “lợn lòi”, “lợn rừng”, “lợn vòi”,... (thuộc “con lợn”); “rùa đầm”, “rùa hộp”, “rùa mốc”, “rùa múi khế”, “rùa nắp”, “rùa nít”, “rùa núi”,... (thuộc “con rùa”).

Thử đối sánh điều vừa trình bày ở các con vật với cách phân loại động vật học tiếng Việt (gồm bốn cấp: loài, giống, họ và tổng loại), qua một phân tích cụ thể dưới đây: ( hỡnh 1)

Chúng ta thấy cấo độ chủng loại mà vật đố sử dụng là cấp độ giống. Vật đố hầu như không ở cấp độ họ (các họ: “chim”, “cá”, “thú”, “rùa rắn”, “cóc nhái”, “sâu bọ”,...) và ít gặp ở cấp độ loài (như với họ chim, giống chim khướu, gồm các loài: khướu bạc má, khướu đất, khướu bụi, khướu mun, khướu nâu,...).

Nếu đối sánh với các mục từ của một quyển từ điển tiếng Việt, loại phổ thông, thì tên vật đố tương ứng với tên mục từ (có điều cần lưu ý, là trong từ điển, tên mục từ, như với động vật chẳng hạn, có thể chỉ ghi tên giống mà không kừm tên họ; thí dụ, ghi “bồ nông”, “chích hoè”, “khướu”, “sơn ca”, “trả”, “trĩ”, “vẹt”, mà không ghi “chim bồ nông”, “chim chích choè”, “chim khướu”,...).

Những điều trên cho thấy: vật đố được thể hiện ở mức khái quát, chung cho một loạt đối tượng sự vật, hiện tượng, trong tầm nhận thức cơ bản của mọi người.

b. Có hai trường hợp đặc biệt khi xét vấn đề theo chủng loại, cũng cần đặt ra, đó là trường hợp có nhiều hơn một vật đố với cùng một lời đố ở cấp độ giống, và trường hợp vật đố ở cấp độ loài.

+ Xét các trường hợp có nhiều hơn một vật đố với cùng một lời đố, dưới đây:

- Vật đố có thể là “cây ngô” hay “cây chuối”,..., với lời đố sau:

“Sừng sững mà đứng giữa trời, Chồng con không có chịu lời chửa hoang”.

- Vật đố có thể là ”củ tỏi” hay ”củ hành”,..., với lời đố sau:

”Bằng trái quýt,

Dưới đít có lông.

Đến ngày giỗ ông,

Đem ra làm thịt”.

- Vật đố có thể là “trai”, “sò”, “hến”,..., với lời đố sau:

“Không chân, không tay,Không đầu, không mắt;áo giáp một cặp Che kín toàn thân’

- Vật đố có thể là “rùa”, “ba ba”, “giải”,..., với lời đố sau:

“Chân vịt, thị gà, da trâu, đầu rắn  “.

- Vật đó có thể là “dam” (đam). “ghẹ” (vọ vọ), “cua”,..., với đố sau:

“Mình nhỏ mà khá chắc,Nhanh chậm đều đi ngang;Không xây mà có gạch, Để trong bụng sẵn sàng”.

- Vật đố có thể là “cóc”, “nhái”, “chẫu chàng”,..., với lời đố sau:

“Đi ngồi, đứng ngồi, nằm ngồi”.

- Vật đố có thể là ”con khỉ”, ”con vượn”, ”con tinh tinh”,..., với lời đố sau:

“Tạo hoá, tạo hình, tạo chơi, Là người, lại chẳng phải người.

Tay chân, mặt mũi, kia .... đều đủ, Cắc cớ sau trôn gắn chiếc đuôi”.

Có hai con vật khác biệt nhau khá lớn là “con trâu” và “con voi” lại trở thành vật đố của hai lời đố có sự sai biệt nhau rất nhỏ như sau:

“Bốn cột đình mà rinh tảng đá,

Hai ông tướng tá, hai bà quạt chơi ‘ (con trâu) ;

“Bốn cột đình mà rinh tảng đá,

Hai ông cầm giáo, hai bà quạt chơi’ (con voi).

Trên đây là những trường hợp đặc biệt, tuy vật đố cùng ở cấp độ giống, nhưng gặp các sinh vật mà giữa chúng có những nét tương đồng về vóc dạng, đặc điểm hay tập tính, thì lời đố đã không tách bạch được. Tính khái quát của vật đố được nhận ra rất rõ.

+ Cũng có một số vật đố ở cấp độ loài : thí dụ, vật đố là  ‘quả dưa hấu’ (lời đố: ‘ngoài xanh, trong đỏ hồng hồng ; Vua quan cũng chuộng, mẹ chồng cũng yêu ; Mùa hè lắm kẻ nâng niu : Mùa đông lắm kẻ dập vùi duyên ta’), vật đố là ‘quả dưa chuột’ (lời đố: ‘To bằng cổ tay ; Nắm vừa một nắm ; Dài thẳng một gang ; Xanh xanh, đỏ đỏ, vàng vàng’), vật đố là ‘quả dưa gang’ (lời đố : ‘Mình xanh mà chạy chỉ vàng ; Bước cẳng ra đàng chín ngó mười trông ; Lăm xăm bước tới chợ đông ; Một trăm quân tử đều bồng trên tay’, vật đố là ‘con kiến lửa’ (lời đố : ‘Mình mặc áo đỏ ; Mà có sáu chân ; Đi xa về gần ; Chuyên môn đào đất), vật đố là ‘con sò huyết’ (lời đố : ‘Khum khum như cái bàn tay ; Mồm thì mồm dọc, ngậm ngay hột hồng ; Hai bên có hai hàng lông ; ở giữa hột hồng đỏ loét đỏ loe’), vật đố là ‘con ốc xà cừ’ (lời đố: ‘Ruột không lấy làm quý ; áo quý vô cùng ; Sống ở biển Đông ; Người có công mò bắt’),...

Một số vật đố là sinh vật ở cấp độ loài cho thấy có sự linh hoạt trong sinh hoạt đố nhau nói riêng, trong tiếng Việt nói chung. Sự linh hoạt này thể hiện mức độ quan tâm ra sao đối với sự vật chung quanh (như ‘quả dưa’ có thể nhận được sự quan tâm nhiều hơn ‘quả sung’ chẳng hạn). Và như vậy, tính khái quát của vấn đề vẫn không có gì thay đổi.

c. Mặt khác, tính khái quát cũng được hiểu ở sự không xác định của vật đố. ‘Cái cày’ của vật đố là cái cày nói chung, chẳng những không chỉ một cái cày cụ thể nào mà ngay cả một loài cày dùng để cày đất khô, loại cày dùng để cày ruộng nước, loại cày của một vùng quê nào đó, cũng không phải là vấn đề đặt ra. Các sự vật, hiện tượng khi trở thành vật đố đã bị tước đi những khía cạnh có tính chất cá biệt, cụ thể để chỉ còn mang những đặc điểm khái quát về chủng loại mà chúng tham gia.

3. Hai đặc điểm của vật đố vừa trình bày, phần nào cho thấy đặc trưng của thể loại (mặt mạnh cũng như mặt hạn chế). Đồng thời, cùng góp phần làm rõ hơn điều mà các nhà nghiên cứu đi trước đã cảm nhận, phác thảo, nhưng chưa xác định.
                                                                     

Nguồn : Tạp chí Ngôn ngữ - Đời sống   số 10 (132). 2006

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Thủ tướng Lê Minh Hưng lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Philippines
Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa Philippines Ferdinand Romualdez Marcos Jr, Chủ tịch ASEAN năm 2026, ngày 7/5, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Minh Hưng dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu, Philippines từ ngày 7 đến 8/5/2026.
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.