Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 07/04/2014 20:28 (GMT+7)

Chuyện những người mở đường của chiến dịch Điện Biên Phủ

"Dốc Pha Đin, chị gánh anh thồ

Đèo Lũng Lô, anh hò chị hát

Dù bom đạn xương tan, thịt nát

Không sờn lòng, không tiếc tuổi xanh"


Đã 60 năm trôi qua, nhưng những câu thơ trong bài  ''Hoan hô Chiến sỹ Điện Biên''của nhà thơ Tố Hữu nói về tinh thần kiên cường, anh dũng của những dân công và thanh niên xung phong tham gia đảm bảo giao thông, vận chuyển lương thực, vũ khí cho chiến dịch Điện Biên Phủ vẫn còn vang vọng trong tâm thức bao thế hệ.

Trong những ngày cả nước đang hướng về mảnh đất lịch sử Điện Biên Phủ, chúng tôi có dịp gặp lại những dân công và thanh niên xung phong đã từng trực tiếp tham gia mở đường, vận chuyển lương thực, bảo đảm giao thông trên tuyến đường huyết mạch từ Yên Bái qua Sơn La đến Điện Biên.

Gian nan mở đèo Lũng Lô

Theo Lịch sử Đảng bộ tỉnh Sơn La, để đảm bảo người và phương tiện cho chiến trường Điện Biên Phủ, Trung ương quyết định lấy thị xã Yên Bái là nơi tập kết mọi lực lượng và phương tiện cho mặt trận Điện Biên Phủ.

Tuyến đường 13 (nay là Quốc lộ 37) từ Yên Bái đến đèo Lũng Lô, qua phà Tạ Khoa, vượt đèo Chẹn rồi giao với đường 41 (nay là Quốc lộ 6) tại Ngã ba Cò Nòi (huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La) là con đường huyết mạch, độc đạo. Do đó, chủ trương của ta là quyết bảo vệ con đường này đến cùng; kết hợp bộ đội công binh, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến canh giữ và luôn đảm bảo lưu thông trên con đường này.

Đèo Lũng Lô có chiều dài 15km, nằm ở ranh giới giữa hai huyện Văn Chấn (tỉnh Yên Bái) và Phù Yên (tỉnh Sơn La). Trong kháng chiến chống Pháp, đèo Lũng Lô là một trong những đoạn đường huyết mạch để tiếp vận vũ khí đạn dược và lương thực phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ. 

Theo quyết định của Đảng, tuyến đường lên Tây Bắc được củng cố nhằm phục vụ chuyển quân, lương thực và khí tài cho chiến dịch Điện Biên Phủ. 

Để mở rộng và cải tạo đèo Lũng Lô, các đơn vị công binh và dân công của hai tỉnh Yên Bái và Sơn La đã tập trung sức lực mở đường. Chỉ trong một thời gian ngắn, hàng nghìn dân công thuộc các dân tộc, trong đó nhiều nhất là người Mường, người Tày đã tình nguyện đăng ký tham gia mở đường.

Từng tham gia mở đường trên đèo Lũng Lô, cụ Trần Văn Xẻ, dân tộc Mường, năm nay đã 94 tuổi ở bản Cơi (xã Mường Cơi, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La) nhớ lại, ngày đó, dân công địa phương cùng thanh niên xung phong và lực lượng công binh dù chỉ có những dụng cụ thô sơ nhưng vẫn không quản ngại khó khăn để nhanh chóng thông đèo Lũng Lô.

Trên các cung đường, tiếng mìn phá đá và tiếng cuốc, xẻng rền vang suốt đêm ngày. Khi đường được mở tới đỉnh đèo thì gặp phải vách đá dựng đứng chắn ngang. Nhiều người lo lắng phải mất nhiều tháng mới thông được đèo. Nhưng sau đó, nhờ quyết tâm của quân và dân ta, sau gần hai tháng, tuyến đường đã được thông, nối liền hai tỉnh Yên Bái và Sơn La. 

Làm đường trong đường kiện thiếu thốn lương thực, thực phẩm đã gian nan, nhưng nguy hiểm hơn cả là khi quân Pháp biết ta mở con đường chiến lược tiến vào Điện Biên Phủ, đã cho máy bay thường xuyên ném bom xuống công trường. Vì vậy, cứ khi nào nghe tiếng máy bay từ xa, mọi người lại chạy vào hầm hay vách núi để trú ẩn, đến khi máy bay đi, mọi người lại tiếp tục công việc bình thường như chưa có gì xảy ra. 

Vàonhững ngày máy bay Pháp tăng cường quần thảo ném bom, quân và dân ta chuyển sang làm vào buổi tối để đảm bảo an toàn. Gian khổ, nguy hiểm không làm nhụt chí những người tham gia mở đường.

Bộ đội cùng đồng bào các dân tộc Tây Bắc xẻ núi làm đường đưa xe pháo tiến vào áp sát tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. (Ảnh tư liệu TTXVN)


Làm đường vất vả nhưng khi dân công tải lương, tải đạn qua đèo còn vất vả hơn nhiều. Đường mở giữa rừng già nên khe nước, mạch nước rất nhiều, nền đường đá lởm chởm, người, phương tiện đi lại liên tục khiến con đường luôn lầy lội. 

Từ cuối năm 1953 đến khoảng đầu tháng 4/1954 là thời gian cao điểm của việc chi viện cho tiền tuyến. Lúc này, để tránh sự đánh phá của quân Pháp, lực lượng dân công, bộ đội ta thường phải đi vào ban đêm. 

Dù đi vào ban đêm nhưng để đảm bảo an toàn, dân công và thanh niên xung phong không được đốt đuốc mà phải lần theo bước chân của người đi trước. Cứ thế hàng đêm từng dòng người lại kìn kịt nối đuôi nhau qua đèo, đưa hàng ra mặt trận.


Kiên cường giữ phà Tạ Khoa

Nằm trên tuyến đường huyết mạch 13 đi qua huyện Bắc Yên, bến phà Tạ Khoa cũng được biết đến là một “điểm lửa” trong kháng chiến chống Pháp. 

Bến phà Tạ Khoa được xem là điểm xung yếu trên tuyến đường từ Yên Bái lên Điện Biên, bởi nếu bị đánh phá việc vận chuyển lương thực, vũ khí của quân ta ra chiến trường sẽ bị đình trệ do lúc này không có phương tiện nào khác để nối liền hai bờ của con sông Đà.

Năm nay đã 84 tuổi, nhưng cụ Hà Xuân Chiến, Chủ tịch Hội Cựu Thanh niên xung phong huyện Phù Yên vẫn còn nhanh nhẹn, minh mẫn. Cụ bồi hồi nhớ lại những ngày tuổi trẻ, vào đầu năm 1953 khi Đại đội Thanh niên xung phong C261 (Thuộc Tổng cục cung cấp, nay là Tổng cục Hậu cần) được thành lập, khi đó người thanh niên Hà Xuân Chiến và hơn 170 trai tráng ở các huyện Phù Yên, Bắc Yên, Yên Châu (tỉnh Sơn La) đã tình nguyện tham gia và trực tiếp phụ trách công việc đảm bảo an toàn cho tuyến đường 13.

Thời gian đầu, lực lượng thanh niên xung phong được giao nhiệm vụ đảm bảo an toàn giao thông ở đèo Chẹn (huyện Bắc Yên), rồi sau đó chuyển về làm tại bến phà Tạ Khoa. Ngày đó, phà còn thô sơ, chỉ được ghép bằng những tấm gỗ lớn và gắn thêm động cơ, mỗi lần vượt sông chỉ có thể chở được một chiếc xe ôtô. Con sông Đà lúc đó chưa bị ngăn dòng làm thủy điện như bây giờ nên vô cùng hung dữ, nhất là vào mùa mưa, dòng nước càng lớn và chảy xiết nên rất nguy hiểm. 

Đây là một điểm trọng yếu trên đường vận chuyển của quân ta, quân Pháp thường xuyên cho máy bay do thám và thả bom đánh phá. Vì vậy, để kẻ thù không phát hiện, lực lượng bảo vệ phải giấu phà xuống dưới lòng sông vào ban ngày và chỉ khi đêm đến mới cho phà nổi lên. 

Công việc hàng ngày của các thanh niên xung phong rất vất vả. Ban đêm, phà được dùng để đảm bảo giao thông qua sông nhưng khi trời bắt đầu rạng, mọi người phải dùng các sọt đá đặt lên phà cho phà chìm xuống sông. Đến khi trời nhá nhem tối, mọi người lại lặn xuống, lấy đá ra để phà nổi lên.

Gian khổ nhất là vào mùa Đông, thời tiết rất giá buốt nhưng những người có nhiệm vụ giữ phà vẫn phải ngâm mình trong dòng nước lạnh để đảm bảo an toàn cho những chuyến vượt sông.

Vì phà chỉ chạy vào ban đêm để đảm bảo an toàn cho người và hàng hóa, khí tài nên việc vận hành phà cũng hết sức khó khăn đối với những người lái phà khi ấy, nhất là với khoảng cách giữa hai bờ hơn 200m trong dòng nước chảy xiết.

Nhờ sự kiên cường, dũng cảm của những thanh niên xung phong nên phà Tạ Khoa không bị trúng bom lần nào.

Cựu thanh niên xung phong Hà Xuân Chiến cho biết thêm, ngày đó gian khổ nhất là việc không đủ lương thực thực phẩm để ăn uống hàng ngày. Những khi bị tắc đường hàng tháng trời, lương thực không chuyển lên kịp, mọi người chỉ còn cách vào rừng đào củ mài về để ăn thay cơm. Những người khỏe mạnh thì ăn những củ xấu, còn những củ to, ngon để dành cho thương binh hay những người đang ốm nặng.

Sống giữa rừng, thiếu lương thực và thường xuyên bị vắt cắn, ruồi vàng đốt..., nhưng gian khổ không hề làm nản lòng những thanh niên xung phong. Tuy khó khăn, thiếu thốn đủ bề, sức khỏe không đảm bảo nhưng mọi người vẫn hăng hái lao động với sự quyết tâm cao nhất để đảm bảo cho những chuyến xe đưa hàng ra mặt trận không bị ách tắc.

Với tinh thần và nhiệt huyết của tuổi trẻ, những dân công và thanh niên xung phong tham gia mở đường, bảo đảm giao thông trên tuyến đường 13 ngày ấy đã góp phần không nhỏ vào chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu.”

Giờ đây, họ đã ở tuổi xưa nay hiếm, nhưng những ký ức về một thời tuổi trẻ cống hiến hết mình vẫn không phai mờ trong tâm trí mỗi người. Tinh thần đó đã trở thành tấm gương sáng cho thế hệ sau noi theo và viết tiếp trang sử hào hùng của dân tộc bằng truyền thống kiên cường và bất khuất./.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Công bố Quyết định bổ nhiệm Giám đốc, Tổng biên tập Nhà xuất bản Tri thức
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức Hội nghị Công bố quyết định về công tác cán bộ. Tại hội nghị, TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã trao Quyết định bổ nhiệm bà Bùi Thị Thu Hằng, Phó Giám đốc phụ trách, Phó Tổng biên tập NXB Tri thức giữ chức vụ Giám đốc, Tổng biên tập NXB Tri thức.
Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành tháng 4/2026
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Đảng bộ Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (LHHVN) tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành nhằm đánh giá kết quả công tác, đồng thời triển khai các nhiệm vụ trọng tâm, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong công tác xây dựng Đảng và chuẩn bị cho Đại hội LHHVN nhiệm kỳ mới.
Nâng tầm sức mạnh văn hóa vùng Đất Tổ - Động lực quan trọng cho phát triển bền vững
Phát triển văn hóa và con người là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh, động lực cho phát triển nhanh bền vững. Quan điểm đó tiếp tục được khẳng định mạnh mẽ trong Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị. Nghị quyết nhấn mạnh văn hóa phải thấm sâu vào đời sống xã hội, gắn kết hài hòa với chính trị, kinh tế, môi trường, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia.
Chủ tịch Phan Xuân Dũng dự Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I
Ngày 23/4, Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031 đã thành công tốt đẹp. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng chúc mừng, đánh giá cao những nỗ lực rất lớn của Liên hiệp Hội tỉnh, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh TVPB, ĐMST&CĐS, lan tỏa tri thức KH&CN, phục vụ trực tiếp đời sống người dân địa phương.
Tuyên Quang: Thúc đẩy năng lực triển khai năng lực hoạt động KHCN, ĐMST và CĐS trong sinh viên
Ngày 21/4, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (KH&KT) tỉnh Tuyên Quang phối hợp với Trường Cao đẳng Tuyên Quang tổ chức Hội thảo tập huấn, phổ biến kiến thức “Thúc đẩy năng lực triển khai hoạt động khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong sinh viên” bằng hình thức trực tiếp và trực tuyến.
Đổi mới công tác phổ biến kiến thức KH&CN: Từ truyền thông một chiều đến hệ sinh thái tri thức mở
Những năm qua hoạt động phổ biến kiến thức của các tổ chức KH&CN trực thuộc Liên hiệp Hội Việt Nam đã được triển khai rộng rãi, đem lại hiệu quả cao trong thực tiễn. Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển mới, hoạt động này cần được đổi mới theo hướng hiện đại, tương tác và gắn chặt hơn với nhu cầu của xã hội.