Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ bảy, 22/11/2008 00:06 (GMT+7)

Chùa Một Cột dựng từ thời nào?

“Văn bia trong chùa dựng năm Cảnh Trị thứ 3 (1665) đời vua Lê Huyền Tông, do Tì khưu Lê Tất Đạt soạn có đoạn ghi: Nước Việt ta xưa trong thành Long Biên có cái hồ hình vuông… Năm Hàm Thông đời Đường (nước ta trong thời gian này bị nhà Đường đô hộ) dựng một cột đá ở giữa hồ. Trên cột xây một toà lầu ngọc, trong đó đặt tượng Quan Âm để thờ cúng. Đến khi triều Lý xây dựng kinh đô ở đây, cũng noi theo dấu cũ, ngày càng sùng kính linh thiêng. Khi vua Lý Thái Tông chưa có hoàng tử, thường đến đó cầu nguyện. Một đêm, vua nằm mộng thấy Phật Bà Quan Tâm vời lên trên lầu, ôm một đứa bé đặt vào lòng. Tháng đó hoàng hậu có mang hoàng tử. Vua bèn cho dựng thêm một ngôi chùa ở bên phải chùa Một Cột và cũng gọi theo tên chùa Một Cột là Diên Hựu để mở rộng việc thờ cúng, làm sáng rõ sự tôn sùng… Trải qua ba bốn đời vua nối tiếp nhau dựa trên cơ sở cũ, sửa sang thêm và đều hưởng hạnh phúc lành như cát sông Hằng”. Từ trên cơ sở đó, sách này kết luận:

“Như vậy, chùa Một Cột khởi thuỷ xây dựng từ thời thuộc Đường, trên một trụ đá ở giữa hồ nước. Đến triều Lý đã cho tu sửa lại ở chỗ cũ. Vua Lý Thái Tông đến đó cầu nguyện, có được hoàng tử nối ngôi, đã đặt tên cho chùa là Diên Hựu (Phúc lành dài lâu)”.

Vời lòng tự tôn dân tộc, độc giả hẳn hoài nghi điều này và có sự phản ứng, còn chúng tôi thấy đó là điều sai lầm. Nhưng để cải chính lại luận điểm sai lầm trên thì không phải đơn giản, vì đó là Văn bia của cố nhân. Cho nên, chúng tôi đã dành thời gian lục tìm các tư liệu có liên quan đến chùa Một Cột, kể cả tư liệu về nước ta thời kì thuộc Đường do Cao Biền làm Thái thú, và truyền thuyết về sự tích “bất hảo” của nhân vật này: y có phép phù thuỷ, cưỡi diều đi trên mây,, nhìn vị trí “long mạch” của nước ta, rồi cho chôn trụ đồng để trụ yểm…nhằm khẳng định chùa Một Cột xây dựng vào thời nhà Lý. Đó là tiêu chí của bài khảo cứu này:

- Đại Việt Sử ký toàn thư ghi: Kỉ Sửu Thiên Cảm Thánh Vũ năm thứ 6 (1049) mùa đông tháng 10 dựng chùa Diên Hựu… Trước đây vua chiêm bao thấy Phật Bà Quan Âm ngồi trên toà sen, đưa tay dắt vua lên toà. Khi tỉnh dậy, vua đem việc ấy nói với bầy tôi. Có người cho đó là điềm không lành. Nhà sư Thiền Tuệ khuyên vua làm chùa, bằng cách dựng cột đá ở giữa ao, làm toà sen trên cột như vua đã thấy trong mộng, cho các nhà sư đi lượn vòng quanh tụng kinh cho nhà vua sống lâu. Vì thế gọi là chùa Diên Hựu (phúc lành dài lâu).

- Nguyễn Đăng Thục dẫn sách La Thành cổ tích dân vịnh của tiến sĩ Trần Bá Lãm (1788) cho chúng ta biết thêm về lịch sử chùa Một Cột như sau: Chùa ở tại xã Nhất Trụ, huyện Vĩnh Thuận. Thời xưa đất ấy bỏ hoang, chưa có xóm trại. Cao Biền khi sang đô hộ An Nam, bảo đất ấy là chỗ sườn rồng chạy, sai đóng cột đồng vào đấy để cắt đứt long mạch của nước ta. Về sau, dân đến ở đông đúc, thành xóm làng gọi là xã Một Cột … Vua Lý Thái Tông tuổi đã cao mà chưa có người nối nghiệp, đêm nằm mộng thấy đến thôn Một Cột, gặp Phật Quan Âm Bồ Tát gọi vua bảo: … Đất này rất linh, cột đồng làm thương tổn đến long mạch đã lâu rồi, nên kịp huỷ đi thì vận nước lại lâu thêm mấy đời nữa, bằng không thì hết rồi đấy.Nói xong, Đức Phật vời vua lên đài vàng, ẵm tiên đồng ban cho. Tỉnh mộng, vua sai xây chùa ở phía Tây làng để thờ Quan Âm Bồ Tát, đổi niên hiệu thành Diên Hựu, huỷ bỏ đồng trụ âm phủ, năm sau sinh hạ Hoàng tử.

- Chúng tôi đã đến thăm chùa Một Cột (2002) và trao đổi với nhà sư trụ trì của chùa Thích Tâm Kiên, ông nói: Lời của nhà chùa truyền lại, chùa Một Cột xây dựng từ thời nhà Lý, ở giữa một cái hồ nước hình vuông.

Biểu tượng của chùa Một Cột

Chùa Một Cột cho đến nay đã có gần một ngàn năm và trải qua nhiều đợt trùng tu tôn tạo, song chỉ thay đổi phần cấu trúc quần thể hoành tráng của hành lang ở bên ngoài, còn cái tinh thần cốt lõi của ngôi chùa, kể từ nhà Lý cho đến nay vẫn là chùa Một Cột (Nhất Trụ). Hình tượng một bông sen mọc lên giữa một hồ nước trong xanh hình vuông – chính cái đặc biệt đó của ngôi chùa đã khiến các nhà nghiên cứu văn hoá ngày nay nảy ra nhiều ý nghĩa khác nhau.

Nguyễn Đăng Thục, đã liên tưởng chùa Một Cột với hình tượng Linga Yôni (hình ảnh kết hợp âm dương của Ấn Độ giáo và Chămpa). Trong cuốn Lịch sử tư tưởng Việt Nam , ông viết: Chùa Một Cột là một công trình hợp sáng rất thần tình, vì nó đã hoá trang linh phù Linga – Yôni của Chiêm Thành. Hình tượng một bông sen xuất hiện giữa đầm nước, trên cái cuống bằng đá đồ sộ, đội một ngôi điện nhỏ mái cong, nhắc nhở dân chúng cái hình ảnh ngôi nhà sàn cao của Văn minh Đông Sơn.

Không những hình tượng bông sen, mà ngay kiểu kiến trúc bằng gỗ nhỏ của ngôi chùa có hình đao rồng trên một chiếc cột, cũng gây sự chú ý cho các nhà nghiên cứu đi tìm nguồn gốc của chùa Một Cột qua hình ảnh của những ngôi nhà sàn trên trống đồng Đông Sơn. Nhà nghiên cứu Chu Quang Trứ đưa ra ý kiến cho rằng: Chùa Một Cột mang hình bông sen nhô lên giữa hồ nước là một sáng tạo về nghệ thuật kiến trúc, trên cơ sở phát huy kiểu nhà mái tròn khắc ở mặt trống đồng Ngọc Lũ và Hoàng Hạ. Nhà dân tộc học Nguyễn Khắc Tụng (1978) lại chứng minh chùa Một Cột có nguồn gốc từ miếu thờ thần cây Hương. Và theo TS. Ngô Văn Doanh thì chùa Một Cột cấu trúc ở thời Lý là một đàn tràng Mađala Phật giáo có những chức năng thần bí:

- Là một kiến trúc đánh dấu nơi Đức Phật Quan Âm làm phúc (mách bảo phá đồng trụ âm phù của Cao Biền, ban con trai cho nhà vua).

- Là nơi linh thiêng thờ Phật Quan Âm.

- Vật phá âm khí đồng trụ của Cao Biền.

- Nơi làm lễ cầu trường thọ cho nhà vua và các nghi lễ Phật giáo khác.

Đặc điểm cấu trúc chùa Một Cột: trên mái ở bốn góc đều dựa theo hình “đao rồng” của nhà sàn trên trống đồng Đông Sơn. Đó là tính dân tộc trong bản sắc văn hoá Việt cổ.

Tóm lại, qua những ý kiến vừa trích của các tác giả nói về chùa Một Cột, có thể nói, tính biểu tượng của chùa mang bản sắc dân tộc. Những ý kiến cần được chú ý là ý kiến của Nguyễn Đăng Thục coi chùa Một Cột là biểu tượng Linga Yôni (vì rằng ở Ấn Độ Linga Yôni được hoá thân thành thần Siva), hoặc ý kiến của G.S Chu Quang Trứ cho rằng chùa Một Cột mang hình bông sen nhô lên giữa hồ nước là một sáng tạo về nghệ thuật kiến trúc, trên cơ sở phát huy kiểu nhà mái tròn khắc ở mặt trống đồng Ngọc Lũ và Hoàng Hạ và ý kiến của G.S Nguyễn Khắc Tụng coi hình ảnh chùa Một Cột có nguồn gốc từ miếu thờ thần cây Hương. Thần cây Hương cũng như miếu Cây hương và miếu Trò Trám là biểu tượng của vật “thiêng” Nõ Nường, sau hoá thành Thần Đồng Cổ của Đại Việt, như Linga của Ấn Độ biến thành thần Siva.

Về nhân vật Cao Biền

Theo chuyện dân gian Hà Nội, Cao Biền trong thời kỳ làm Thái thú ở nước ta, đóng ở thành Long Biên. Y có phép phù thuỷ, thường cưỡi diều bay trên mây, phát hiện thấy đường rồng chạy ra Hồ Tây nên đã cho đóng trụ đồng để yểm.

Theo Lê Trần Minh, trong các thời nhiệm chức của các quan đô hộ xứ phương Bắc thì Cao Biền (đến La Thành năm 866) là kẻ mưu mô và thâm hiểm hơn cả. Là một thầy phong thuỷ. Cao Biền đã đi thăm thú nhiều nơi. Sách cũ ghi rằng, từ Châu Hoan (Thanh Hoá) trở ra đến đất ta, Cao Biền đã phát hiện 632 huyệt chính (huyệt Phát Đế) và 1517 huyệt bàng (huyệt Phát Quan), rồi vâng lệnh vua Đường, Cao Biền đã cố công yểm những huyệt đó, hòng triệt tận gốc hiền tài của nước ta. Việc làm đó của Cao Biền hẳn đã khiến cho không ít nho sĩ của ta lưu tâm để ý và quyết tâm lần tìm theo dấu để triệt phá.

Nhận xét

- Qua hình ảnh biểu tượng của chùa Một Cột (miếu Cây Hương) mang bản sắc văn hoá Đại Việt, và hình đao rồng trên mái ngôi chùa là dựa theo kiểu hình mái nhà cong trên trống đồng Ngọc Lũ và Hoàng Hạ…

- 3 cứ liệu, trong đó có 2 cứ liệu trong sử sách đó là Đại Việt Sử kí toàn thư và sách La Thành cổ tích dân vịnh của Tiến sĩ Trần Bá Lãm và cứ liệu thứ 3 lời lưu truyền tại chùa đều nói chùa Một Cột xây dựng từ đời Lý.

- Nước ta thời thuộc Đường với Thái thú cai trị, trong đó tiêu biểu là Cao Biền. Y đã chôn trụ đồng để yểm các huyệt của ta , song đã có sự nhầm lẫn cho rằng “Y cho xây toà lầu ngọc, trên một cột trụ giữa hồ, trong đó thờ Phật Bà Quan Âm”. Điều sai lầm này không riêng gì ở chùa Một Cột, chúng tôi để ý một số nơi và thấy nhiều ngôi chùa của ta đều có tư tưởng “vọng ngoại” này.

Tại chùa Phật Tích ở Bắc Ninh, trong một lần Hội âm nhạc Hà Nội về tham quan, sư thầy Thích Đức Tuyên trụ trì chùa giới thiệu, tượng bộ xương trong khám sau chùa là Thuyết Công Hoà Thượng người Trung Quốc, sau khi Ngài đi thuyết giáo từ Sài Gòn ra, rồi viên tịch tại chùa vào thế kỷ XVII. Đó là hiện tượng xảy ra ở những ngôi chùa lớn, không chỉ thế, ngay cả ở ngôi miếu nhỏ như, miếu thờ Nõ Nường ở Tứ Xã Phú Thọ cũng thế. Ngôi miếu này có tên tục là bà Đụ Đị tên nôm là Nõ Nường (sinh thực khí) và tên chữ là Ngô Thị Thanh Thanh. Ở đó người ta cũng coi bà Ngô Thị Thanh Thanh là con ông Ngô Quang Điện người Trung Quốc. Khi đến nghiên cứu Trò Trám (1994), chúng tôi đã đề nghị Ban quản lý Di tích xoá bỏ hiểu biết sai lầm này.

Nếu kể ra thì rất nhiều nơi như thế, đó là do, từ Đại Việt Sử kí toàn thư phần Ngoại kỉ cũng cho Lạc Long Quân và Âu Cơ là có dòng dõi với Đế Minh Trung Quốc.

Tóm lại, phải chăng do người Việt tự ti nên đã lấy cái uy linh cao đạo của nước lớn đặt vào trong chùa của mình. Trong khi đó lại bỏ quên đi một nền văn hoá do Tổ tiên chúng ta tạo dựng nên, chỉ tính từ thời Đông Sơn, đó là thạp Đào Thịnh, Thần Đồng Cổ Ngọc Lũ, Hoàng Hạ… Ngoài ra, kinh đô bao giờ cũng có vật linh.

Chùa Một Cột là vật linh “hèm” bảo vệ kinh đô Thăng Long, đồng nghĩa với Cột đá thề trên núi Nghĩa Lĩnh, chùa Một Cột ở Hoa Lư, song khi xây xong kinh đô Thăng Long thì chưa có bản thiết kế, cho nên vua Lý Thái Tổ lấy đền Bạch Mã làm vật linh tạm thời. Đến năm 1049, đời vua Lý Thái Tông, bản thiết kế về chùa Một Cột, vật linh bảo vệ Thăng Long, do nhà sư Thiên Tuệ chấp bút mới xong và được nhà vua chấp thuận. Còn chuyện nhà vua nằm mơ thấy Phật Bà Quan Âm dắt lên toàn sen là huyền thoại, người ta cho thêm vào để huyền bí hoá một vật linh .

Tóm lại, thuyết cho rằng chùa Một Cột xây dựng từ thế kỷ thứ VIII đời nhà Đường là không đúng. Vào thời điểm đó, ở vùng hồ ấy, Thái thú Cao Biền cho chôn đồng trụ để yểm long mạch của ta thì đúng hơn. Trần Bá Lãm trong La thành cổ tích dân vịnh cũng dẫn lại lời của Đức Phật nói: “Đất này rất lính, cột đồng làm thương tổn đến long mạch đã lâu rồi, nên kíp huỷ đi thì vận nước lại lâu thêm mấy đời nữa, bằng không thì hết rồi đấy”.

Như vậy chùa Một Cột được xây dựng vào đời nhà Lý, chứ không phải đời nhà Đường.

Điều này cần có một cuộc Hội thảo để làm sáng tỏ và khẳng định vấn đề.

Xem Thêm

Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
VUSTA góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi)
Chiều 19/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Tổng hội Y học Việt Nam tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách, bảo vệ quyền lợi của người hiến, bảo đảm công bằng trong điều phối tạng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của y học ghép tạng Việt Nam.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.

Tin mới

GS.VS. Châu Văn Minh: Tăng cường kết nối khoa học, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân
Ngày 25/10/2026, tại Hà Nội, GS.VS. Châu Văn Minh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam), đã tham dự và phát biểu tại Hội nghị khoa học “Cập nhật các tiến bộ mới trong quản lý bệnh tiêu hóa và gan mật”, kết hợp kỷ niệm 8 năm thành lập Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật.
TECHFEST Việt Nam 2026 đưa sản phẩm công nghệ đến gần người dân
TECHFEST Việt Nam 2026 sẽ diễn ra tại Hà Nội từ ngày 13 đến 15/11, khu vực hồ Hoàn Kiếm và phố đi bộ là trung tâm với mô hình không gian mở, đưa các hoạt động trình diễn công nghệ, triển lãm sản phẩm khởi nghiệp và kết nối đầu tư đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.