Chiều sâu tư duy trong nghi lễ Êđê
Quan niệm muôn vật có 2 bộ phận đối lập, chúng tôi gọi là lưỡng lập (dualisme), khá phổ biến trong người Êđê. Vật có 2 loại Cái và Đực. Chiêng có chiêng cái và chiêng đực. Hai thứ đó đối lập nhau về vị trí đặt, chiêng ana ở đầu này của dàn chiêng, chiêng mdu đặt ở đầu kia dàn chiêng; đối lập về cách diễn tấu, ana được treo lên để đánh và mdu được đặt nằm kề lên một vật mềm.
Trong sự đối lập đó, giống cái chiếm vị trí chủ đạo (mẫu hệ). Chiêng ana án ngữ ngay ở gian khách và trước cửa vào như một bà chủ nhà. Chiêng mdu khuất kín ở cuối hàng chiêng. Do được treo lên, chiêng ana có âm vang bao trùm toàn bộ. Ngược lại, do đặt kê lên một vật mềm, mdu tiếng không vang.
Ngoài chiêng ra, các nhạc cụ khác như đing năm, đàn brố, đing buốt klé, đàn gông,... đều có sự phân chia thành 2 nhóm cái, đực (hliêng/khơk) như vậy. Hai nhóm đối lập đó hợp thành nhạc cụ, sự hòa tấu của âm thanh cái và đực thành âm nhạc. Trống có 2 mặt, làm bằng 2 loại da trâu, trâu cái và trâu đực. Mặt da trâu cái là mặt cái, mặt da trâu đực là mặt đực. Có mặt đực, mặt cái tiếng trống mới vang.
Trong nghệ thuật tạo hình có sự đối lập và hòa hợp giữa màu nóng/màu lạnh, màu đen/màu trắng, màu xanh/màu đỏ, phía trước/phía sau, bên phải/bên trái, chiều ngang bằng/chiếu thẳng đứng, phần rỗng/phần đặc...
Đối với con người, có rất nhiều phong tục tập quán xác định rõ sự khác nhau giữa nam/nữ, mẹ/cha, họ gái/họ trai. Giới nữ, người mẹ, họ gái... luôn luôn giữ vai trò chủ đạo trong sinh hoạt bình thường và trong nghi lễ. Cũng như ở các dân tộc anh em, tư duy lưỡng lập Êđê quán xuyến trong nghi lễ và tạo thành các hệ thống biểu tượng lưỡng lập và chính nghi lễ là sự điều hòa các mối quan hệ đối lập trong xã hội và tự nhiên.
Lễ cưới và sự điều hòa nữ/nam
Thông thường trai gái chưa thành vợ chồng không được chung đụng với nhau. Trong lễ hỏi chồng có nghi thức nắm vòng đồng. Đến ngày đã chọn, ông mai đại diện cho nhà gái, đưa một chiếc vòng đồng sang nhà trai (vòng này đã cúng thần, xin thần chứng giám). Một người cao tuổi bên họ trai cầm chiếc vòng, hỏi ý kiến chàng trai. Nếu chàng trai đồng ý thì nắm tay vào vòng đồng.
Trong lễ thỏa thuận có nghi thức trao vòng, tổ chức ở nhà trai. Sau khi đại diện nhà trai, nhà gái thỏa thuận, cô dâu chú rể trao vòng cho nhau trước sự chứng kiến của thần linh và 2 gia đình. Sau đó nhà gái trao cho nhà trai 8 vòng đồng, 1 bát đồng, 1 cái chăn. Vòng (cũng như nhẫn cưới) là biểu tượng của tình yêu, là lời hứa thủy chung. Nghi thức cầm vòng và trao vòng tạo nên sự hòa hợp và gắn bó giữa gái và trai, giữa họ gái và họ trai.
Sau khi trao vòng, không những hòa hợp mối quan hệ trai gái mà mối quan hệ này chuyển sang một phạm vi khác, quan hệ vợ chồng, không được tự tiện thay đổi. Luật tục Êđê khẳng định điều này.
Lễ tang và sự điều hòa sống/chết
Trong lễ tang Êđê có những biểu tượng vật thể và hành động đối lập nhau như một nghịch lý. Bên cạnh tiếng khóc đau lòng trước sự mất mát người thân lại có cảnh múa hát vui vẻ, trong đó cả trai gái hát giao duyên. (Trong lễ tang người Jrai, thậm chí còn có rước sinh thực khí quanh nhà mồ, cùng đám người đi theo sau người mang biểu tượng sinh thực khí, chòng ghẹo cười đùa).
Cũng trong lễ tang, rượu huyết trâu từng dùng để bôi lên đầu già làng để cầu sức khỏe cho bản thân ông cùng toàn buôn và bôi lên chân bà mẹ, cầu cho thai nhi được khỏe; nay lại được bôi lên quan tài. Cũng như vậy, hình trăng non được vẽ lên quan tài, mà hình đó thường được khắc lên đầu cầu thang để đón chào khách lên nhà.
Sự lẫn lộn, đối lập này cần được giải mã
Đây không phải là một sự lộn xộn ngẫu nhiên mà là thể hiện một quan niệm nhất quán, có hệ thống trong tang lễ Êđê. Bằng việc sắp đặt các biểu tượng có ngữ nghĩa đối lập bên nhau, người Êđê đã đem sức sống đến cho cái chết. Múa hát, đặc biệt là hát giao duyên, là niềm vui, được đem đến bên cái buồn để điều hòa chúng. Rượu huyết và trăng non (chứ không phải trăng già), biểu tượng của sức sống, phát triển, được vẽ lên quan tài người chết để điều hòa sự sống và cái chết.
Không chỉ có thế. Lửa được đồng khởi nổi lên trong lễ mừng nhà mới, nay được đốt trên mồ. Trước khi bỏ mả người ta trồng cây chuối tươi tốt trên mồ và thả một con gà khỏe mạnh nơi nhà mồ. Các tượng mồ, ngoài tính sinh động của nó đem lại sức sống, còn có nhiều tượng người ngối bó gối, ôm cằm. Có cách giải thích đó là tượng người ngồi khóc. Đồng thời còn có cách giải thích có tính triết lý sâu xa hơn là biểu tượng của bào thai, tượng trưng cho sự sinh đẻ - tương lai, đối lập với cái chết đang hiện diện nơi đây.
Đem sự sống đến cho cái chết, đó là một cách điều hòa âm dương trong lễ tang Êđê. Ngoài ra còn có nhưng biểu tượng hành động coi như người chết sinh hoạt như đang sống. Việc chia mọi thứ của cải cho người chết, kể từ thứ quý như chiêng ché đến những đồ dùng thông thường như áo quần, gùi, vỏ bầu... và việc phụ nữ nắm những nắm cơm nhỏ bỏ vào huyệt là biểu trưng của phương thức ứng xử này.
Cuối cùng, có một hành động nghi lễ mà trong mỗi lễ bỏ mả chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến một người nhưng rất quan trọng. Đó là lễ tắm rửa cho người góa (đàn ông hoặc đàn bà). Đây là phương thức làm cho cái chết không còn ám ảnh đến cái sống. Nghi thức tắm rửa phải thực hiện vào bước cuối cùng, khi mọi việc cơ bản của lễ tang đã hoàn tất. Nó đánh dấu một sự chuyển đổi quan trọng trong cuộc đời người chịu tang. Trước khi tiến hành nghi thức này, người chịu tang đang bị ràng buộc chặt chẽ với người chết. Nếu lúc này có bất kỳ một hành động yêu đương tình ái gì thì người góa bị buộc tội là “bước qua đầu người chết” và bị luật tục phạt rất nặng.
Ngay sau lễ tắm rửa, người góa trở nên hoàn toàn tự do và họ có thể lau nước mắt hòa vào đám đông cùng múa hát, sau đó có thể yêu đương, kết hôn... Đây là phương thức điều hòa thứ ba trong tang lễ Êđê, được gọi là làm cho cái chết không ám ảnh người sống.
Các biểu tượng hành động, điều hòa sống chết trên đây được bắt nguồn từ một quan niệm truyền thống của người Êđê. Đồng bào tin rằng ngay sau khi chết, hồn vẫn quanh quẩn ở khu nhà mồ. Vì vậy phải chăm sóc hồn, “giữ mả”. Sau khi “bỏ mả”, hồn được thoát và về với tổ tiên ở buôn Atau. Ở đây hồn biến hóa 7 lần, cuối cùng thành giọt sương. Giọt sương, qua lễ đặt tên, nhập vào một đứa trẻ trong họ hàng, cộng đồng. Lê Trung Vũ gọi đây là vòng đời khép kín, với không gian 3 điểm và thời gian 7 lần biến hóa .Theo Tô Ngọc Thanh, khảo sát ở người Bana, thì 7 lần đó là: Người chết biến thành hổ. Hổ bị đâm chết hóa thành mèo rừng. Mèo rừng chết hóa thành chồn. Chồn chết hóa thành cheo cheo. Cheo cheo chết hóa thành chuột. Chuột chết hóa thành chuột dũi. Chuột dũi chết hóa thành giọt sương sớm .
Như vậy, đời người là một chu trình liên tục, trong đó lễ bỏ mả là một khâu quan trọng trong chu trình đó, nhằm xúc tiến sự vận hành để tiến tới bước hồn trở lại thành người, mới và trẻ. Và trong cái chết, xét về quá trình, có cái sống, nói cách khác, chết là để chuẩn bị cho một cuộc sống mới.
Tóm lại, trong lễ bỏ mả, thông qua sự đối sánh các biểu tượng đối lập, người Êđê ứng xử đối với cái chết bằng cách điều hòa sống/chết, với các phương thức, đem sức sống đến cho cái chết, coi như người chết còn sinh hoạt như sống và xoá bỏ sự ám ảnh của cái chết đối với cái sống . ( Đây không phải là thuyết luân hồi của Phật giáo). Quan niệm này chung cho nhiều dân tộc Tây Nguyên. Và trở lại vấn đề được đặt ra từ đầu, như vậy, nghịch lý trong lễ tang chính là sự biểu hiện một quan niệm vận động uyển chuyển, biện chứng có lý giữa sống và chết.
Trên đây, chúng tôi nói về lễ cưới và lễ tang. Ngoài ra nhiều nghi lễ khác đều là biểu tượng điều hòa các mối quan hệ lưỡng lập. Lễ cầu mưa điều hòa mối quan hệ giữa nóng ẩm và khô nóng, hạn và lụt để mưa thuận gió hòa, ( Cầu thần đổ nước xuống. Để mọi loài sống lại. Mưa xuống, cây lúa xanh tươi, người người no đủ).Lễ cầu sức khỏe điều hòa mối quan hệ giữa bệnh tật và sức khỏe. ( Ơ Yàng! Hãy về dự lễ cùng buôn làng chúng tôi. Ban sức khỏe cho già làng và mọi người. Cứng như sắt, bền như đồng).Lễ cầu mùa điều hòa giữa no đủ và đói nghèo ( Rẫy nương nhiều lúa bắp. Heo bò đầy đàn đầy bãi).
Như vậy, nghi thức không những chỉ biểu đạt những ý niệm nguyện vọng tốt đẹp về cuộc sống của đồng bào, mà còn nhằm điều hòa các mối quan hệ đối lập, bao gồm đối lập giữa con người với nhau và giữa con người với thiên nhiên, nhằm đem lại mọi sự hài hòa của xã hội và đồng thời đem lại sự hài hòa trong con người về các phương diện cốt yếu của cuộc sống: cuộc sống vật chất, tinh thần và tâm linh.
Trên đây là chiều sâu ý nghĩa nhân sinh và triết lý trong nghi lễ của đồng bào Tây Nguyên, mà nếu chỉ nhìn bề ngoài thì dễ đánh giá là lạc hậu và dung tục.
Trên cơ sở hiểu biết như vậy, chúng ta nên tiến hành thận trọng công tác vận động nếp sống mới. Chúng ta không nặng về biện pháp hành chính mà giải thích vận động đồng bào giữ lại những điều tốt, giảm bớt lãng phi thì giờ công của, cần tăng cường vận dụng các tri thức để nâng cao sản xuất, bao gồm tri thức bản địa, truyền thống và tri thức hiện đại. Về sức khỏe phối hợp chặt chẽ Đông – Tây y.








