Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 26/07/2012 21:03 (GMT+7)

Biển với người Việt

1. Là một quốc gia có dải bờ biển trải dọc theo bờ Tây Thái Bình Dương, tự bao đời, biển đã là môi trường sống, môi trường tiếp giao văn hóa của người Việt. Cùng với các không gian núi rừng và châu thổ, biển đã góp phần hợp thành, định diện truyền thống, bản sắc văn hóa, cơ sở kinh tế, tư duy... của nhiều cộng đồng cư dân Việt Nam.

Trong tâm thức của người Việt, Đông Hải - Biển Đông là không gian thiêng gắn với thời lập quốc. Bao thế hệ người Việt đã hoài niệm về Cha rồng - Mẹ tiên, về công lao sinh thành, mở cõi của các bậc Thủy tổ. Từ biển, Lạc Long Quân đã về với đất liền, hiển linh như một Nhân thần, diệt trừ yêu quái, giáo hóa dân chúng, dạy cho dân biết cấy lúa, làm nghề thủ công.

Trong không gian biển rộng lớn của người Việt, dường như ngay từ điểm khởi nguyên, do tác động của những điều kiện Địa - Văn hóa, Địa - Kinh tế đã sớm hình thành một sự phân lập mềm giữa các không gian văn hóa trên cơ sở địa vực. Theo đó, nếu như vùng biển Đông Bắc sớm có nhiều mối liên hệ với khu vực Đông Bắc Á đặc biệt là trung tâm văn hóa Hoa Nam thì ở phương Nam, chủ nhân các nền văn hóa Sa Huỳnh, Champa, Óc Eo - Phù Nam cũng có nhiều mối giao lưu mật thiết với vùng hải đảo Đông Nam Á cũng như Tây Nam Á. Môi trường văn hóa, kinh tế biển đã tạo nên những động lực mạnh mẽ cho sự hưng khởi của nhiều nền văn hóa, nhiều quốc gia khu vực.

2.Đến thế kỷ XI - XV, cùng với việc khẳng định chủ quyền, cương vực lãnh thổ ở phía Bắc, phía Tây, nhà Lý rồi nhà Trần đã thực thi nhiều biện pháp để vươn mạnh ra khai phá, khẳng định chủ quyền vùng Đông Hải. Trong ý nghĩa đó, "Biển Giao Chỉ”, "Biển Giao Châu” xưa đã thực sự trở về với người Việt, do người Việt làm chủ. Việc vương triều Lý, vua Lý Anh Tông (cq:1138-1175) quyết định khai mở trang Vân Đồn năm 1149, là một cống hiến to lớn đối với lịch sử dân tộc. Nhà Lý đã thiết lập thành công một trung tâm kinh tế đối ngoại, bảo đảm an ninh ở vùng biển đảo Đông Bắc, khẳng định chủ quyền của quốc gia Đại Việt trước đế chế Tống (960-1279) hùng mạnh. Đích thân vua Anh Tông đã nhiều lần đi tuần các hải đảo, xem khắp hình thế núi sông, tìm hiểu cuộc sống cư dân vùng biển đảo, cho vẽ bản đồ và ghi chép phong vật. Vào thời Lý, Trần, hoạt động của các trung tâm kinh tế đối ngoại như hải trang Vân Đồn đã tạo nên thế đứng chân vững chắc cho kinh tế Đại Việt. Các thương cảng Việt Nam là điểm đến thường xuyên của thương nhân khu vực như Trung Hoa, Champa, Chân Lạp, Siam, Java, Ấn Độ, Tây Á...

Đến thế kỷ XVI-XVIII, các thương cảng Việt Nam vẫn tiếp tục là điểm đến của nhiều đoàn thương thuyền khu vực, quốc tế. Điều quan trọng là, cùng với các thương nhân truyền thống, Biển Đông đã dậy sóng bởi sự hiện diện của nhiều tập đoàn thương nhân phương Tây được tổ chức thành các Công ty Đông Ấn. Nhận thức rõ những biến đổi của tình hình kinh tế, chính trị thế giới, chính quyền Lê - Trịnh ở Đàng Ngoài và đặc biệt là chúa Nguyễn ở Đàng Trong... đã thực thi nhiều chính sách khuyến thương mạnh mẽ. Trong vòng 2 thế kỷ, nền kinh tế Đại Việt trong đó có kinh tế ngoại thương đã có những chuyển biến, phát triển trội vượt. Nhiều thương cảng, trung tâm kinh tế mới xuất hiện.

Qua các hoạt động kinh tế đối ngoại, chính quyền và giới doanh thương Việt Nam đã tiếp thu được nhiều tri thức, kinh nghiệm trong giao thương quốc tế. Mặt khác, họ cũng đã chứng tỏ năng lực hội nhập với thị trường khu vực. Không chỉ dừng lại ở việc giao thương, buôn bán, ở Đàng Trong chúa Nguyễn còn cho lập các đội Hoàng Sa, Bắc Hải... để tổ chức khai thác biển, vươn ra các đảo xa ở đại dương. Chính quyền chúa Nguyễn và sau đó đến thế kỷ XIX là một số vị vua đầu triều Nguyễn, đã tiếp tục tổ chức khai thác, xác định tọa độ, vẽ bản đồ, dựng bia chủ quyền... trên các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Tổ quốc Việt Nam.

3.Trong hệ thống thương mại châu Á, Việt Nam có nhiều hải cảng thuận lợi cho sự phát triển kinh tế đối ngoại. Cùng với vùng biển đảo Đông Bắc, các thương cảng ven biển miền Trung đã góp phần giúp thương nhân một số quốc gia Đông Nam Á hải đảo, Tây Nam Á đã có thể đến Đại Việt, Trung Quốc, Nhật Bản... Trong ý nghĩa đó, hoạt động của các Con đường tơ lụa (Maritime silk roads) với hai tuyến chính là Đông dương châm lộ và Tây dương châm lộ hình thành từ thời Hán (206TCN - 220), hưng thịnh thời Đường (618 - 907), mở rộng và không ngừng hoàn thiện vào thời Tống, đã thâm nhập sâu vào nhiều thị trường khu vực. Trong khoảng thời gian đó, và trước đó, cũng nhờ có những hoạt động giao thương tích cực với thị trường châu Á rộng lớn đặc biệt là với vùng Nam Ấn mà các cảng thị Phù Nam đã đạt đến độ hưng thịnh chỉ sau một thời gian tương đối ngắn. Biển cả và giao thương biển đã đem lại sinh lực, động lực phát triển mạnh mẽ cho vương quốc Phù Nam. Cùng với việc khai thác nguồn tài nguyên vùng hạ lưu sông Mekong, của một số vùng đất, vương quốc lệ thuộc, kinh tế thương mại biển đã tạo nên sự hưng khởi cho văn hóa Óc Eo - Phù Nam. Nhờ có kinh tế công thương mà chỉ hơn một thế kỷ sau khi ra đời, vương quốc biển Phù Nam đã trở thành một quốc gia cường thịnh. Văn hóa Óc Eo - Phù Nam là một trong số ít các nền văn hóa phát triển sớm, rực rỡ bậc nhất ở Đông Nam Á thời cổ đại.

Có thể nói, trong lịch sử, trên các không gian biển Việt Nam đã từng là nơi diễn ra nhiều hoạt động giao thương trong nước - quốc tế, vùng - liên vùng hết sức sôi động. Bên cạnh kinh tế nông nghiệp, thủ công nghiệp, kinh tế thương mại, trong đó có ngoại thương, đã luôn đóng vai trò quan trọng, góp phần tạo nên sự hưng thịnh của kinh tế Việt Nam trong nhiều thời kỳ lịch sử. Đặt Việt Nam trong không gian kinh tế biển Đông Nam Á, trong mối liên hệ với khu vực thị trường Đông Bắc Á và Tây Nam Á có thể khẳng định rằng, chủ nhân của các nền văn hóa cổ, các chính thể quân chủ đã không chỉ chú tâm xây dựng xã hội nông nghiệp, khai thác tự nhiên mà còn quan tâm đến sự phát triển của kinh tế công thương, phát triển kinh tế biển.

Thấu hiểu truyền thống, đánh giá khách quan những hạn chế, ưu thế, vị thế biển trong lịch sử dân tộc sẽ giúp chúng ta có thêm niềm tin, kinh nghiệm, tri thức để thực hiện thành công Chiến lược biển Việt Nam đồng thời góp thêm cơ sở cho cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo, bảo vệ an ninh, kinh tế biển, củng cố mối quan hệ hợp tác, hữu nghị với các quốc gia khu vực.


Xem Thêm

Phát triển nhân lực trẻ cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược
Bộ Khoa học và Công nghệ được giao nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách phát triển nhân lực trẻ chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, hàng không vũ trụ và năng lượng nguyên tử, với thời hạn hoàn thành trong quý IV/2026.
Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

GS.VS. Châu Văn Minh: Tăng cường kết nối khoa học, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân
Ngày 25/10/2026, tại Hà Nội, GS.VS. Châu Văn Minh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam), đã tham dự và phát biểu tại Hội nghị khoa học “Cập nhật các tiến bộ mới trong quản lý bệnh tiêu hóa và gan mật”, kết hợp kỷ niệm 8 năm thành lập Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật.
TECHFEST Việt Nam 2026 đưa sản phẩm công nghệ đến gần người dân
TECHFEST Việt Nam 2026 sẽ diễn ra tại Hà Nội từ ngày 13 đến 15/11, khu vực hồ Hoàn Kiếm và phố đi bộ là trung tâm với mô hình không gian mở, đưa các hoạt động trình diễn công nghệ, triển lãm sản phẩm khởi nghiệp và kết nối đầu tư đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.