Bảo vệ môi trường trong chiến lược phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững
Những quyết sách của Đảng
Trong bài học kinh nghiệm về phát triển nhanh và bền vững, Đảng ta chỉ rõ: phải thật sự coi trọng chất lượng, hiệu quả tăng trưởng và phát triển bền vững. Phát triển nhanh đi đôi với nâng cao tính bền vững, hai mặt tác động lẫn nhau, được thể hiện ở cả tầm vĩ mô và vi mô, ở cả tầm ngắn hạn và dài hạn. Tăng cường huy động các nguồn lực trong và ngoài nước, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả các nguồn lực để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế. Trong khi khai thác các yếu tố phát triển theo chiều rộng, phải đặc biệt coi trọng các yếu tố phát triển theo chiều sâu, phát triển kinh tế tri thức. Phải gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, phát triển toàn diện con người, thực hiện dân chủ, tiến bộ và công bằng xã hội, tạo nhiều việc làm, cải thiện đời sống, khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xóa đói, giảm nghèo. Từng bước thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng. Phải coi trọng bảo vệ và cải thiện môi trường ngay trong từng bước phát triển…
Để thực hiện chiến lược phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững, Đảng ta đề ra các quyết sách gắn nhiệm vụ bảo vệ môi trường với phát triển kinh tế - xã hội. Đổi mới cơ chế quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. Thực hiện nghiêm lộ trình xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trường. Hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường; xây dựng chế tài đủ mạnh để ngăn chặn, xử lý các hành vi vi phạm. Khắc phục suy thoái, khôi phục và nâng cao chất lượng môi trường. Thực hiên tốt chương trình trồng rừng, ngăn chặn có hiệu quả nạn phá rừng, cháy rừng; tăng diện tích các khu bảo tồn thiên nhiên. Khai thác có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, bảo đảm môi trường và cân bằng sinh thái. Chú trọng phát triển kinh tế xanh, thân thiện với môi trường. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu, dự báo, đánh giá tác động để triển khai thực hiện có hiệu quả các giải pháp phòng, chống thiên tai và Chương trình quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu, nhất là nước biển dâng. Tưng cường hợp tác quốc tế để phối hợp hành động và tranh thủ sự giúp đỡ của cộng đồng quốc tế cho công tác bảo vệ tài nguyên và môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu. Nhà nước tăng cường đầu tư, đồng thời có các cơ chế, chính sách ưu đãi để đẩy mạnh xã hội hóa, huy động các nguồn lực bảo vệ môi trường.
Nhiều chỉ thị, nghị quyết của Đảng đã nhấn mạnh: Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân. Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân. Bảo vệ môi trường là một nội dung cơ bản không thể tách rời trong đường lối, chủ trương và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tất cả các cấp, các ngành, là cơ sở quan trọng bảo đảm phát triển bền vững, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Coi phòng ngừa và ngăn chặn ô nhiễm là nguyên tắc chủ đạo kết hợp với xử lý ô nhiễm, cải thiện môi trường và bảo tồn thiên nhiên. Kết hợp phát huy nội lực với tăng cường hợp tác quốc tế trong bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.
Chúng ta cần tránh việc lặp lại những lỗi lầm về môi trường và khai thác tài nguyên của các quốc gia khác đã mắc phải trong quá khứ như là những "lời nguyền của tài nguyên". Vì vậy, phát triển kinh tế không chỉ đi đôi với bảo vệ môi trường mà còn phải gắn liền, có tính liên kết hữu cơ với bảo vệ môi trường. Không thể có sự phát triển kinh tế bền vững mà thiếu việc chăm lo bảo vệ môi trường, khai thác hợp lý tài nguyên. Quan điểm này của Đảng phải được quán triệt sâu sắc và phải được thể hiện trong mọi quy hoạch, kế hoạch, dù ở quy mô hay loại hình nào. Bảo vệ môi trường cần được gắn với trách nhiệm của mọi tổ chức, cá nhân và mọi người dân theo nguyên tắc "mình vì mọi người, mọi người vì mình". Văn hóa môi trường cần được sớm hình thành bên cạnh văn hóa công sở, văn hóa thôn xóm, văn hóa doanh nghiệp.
Bảo vệ môi trường phải chú trọng giải quyết tốt hàng loạt mâu thuẫn giữa lợi ích trước mắt và lâu dài, cục bộ và tổng thể. Công tác này đòi hỏi phải tập trung, kiên trì, giải quyết một cách hài hòa mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm công bằng xã hội và bảo vệ môi trường, tiến hành đồng bộ các biện pháp một cách thường xuyên, liên tục với quyết tâm cao nhất. Ngày nay, giữ gìn môi trường là một tiêu chí quan trọng trong sản phẩm kinh tế, nhất là sản phẩm xuất khẩu; một yếu tố của hội nhập kinh tế quốc tế. Bảo vệ môi trường nhằm bảo đảm quyền con người được sống trong môi trường trong lành, an toàn. An ninh sinh thái là một bộ phận của an ninh quốc gia. Vì vậy, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài, khó khăn mang tính toàn cầu; là yếu tố bảo đảm ổn định chính trị và an ninh quốc gia, nâng cao khả năng cạnh tranh của các sản phẩm và dịch vụ, đẩy mạnh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Thành tựu và những khó khăn, thách thức đang đặt ra
Từ nhiều năm qua, thấu suốt quan điểm của Đảng, các ngành, các cấp, các địa phương đã nỗ lực phấn đấu đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong công tác bảo vệ môi trường. Hệ thống chính sách, thể chế từng bước được xây dựng và hoàn thiện, phục vụ ngày càng có hiệu quả cho công tác bảo vệ môi trường cũng như cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Mức độ gia tăng ô nhiễm, suy thoái và sự cố môi trường đã từng bước được hạn chế; công tác bảo tồn thiên nhiên và bảo vệ đa dạng sinh học đã đạt được những tiến bộ rõ rệt. Điều kiện vệ sinh môi trường ở nông thôn và thành thị đang từng bước được cải thiện. Đại bộ phận cán bộ, đảng viên và người dân nhận thức được biến đổi khí hậu sẽ tác động nghiêm trọng đến sản xuất, đời sống và môi trường trên phạm vi toàn thế giới, trong đó có Việt Nam . Do đó, các cấp ủy đảng, chính quyền và người dân thời gian qua đã chủ động, tích cực đối phó quyết liệt với biến đổi khí hậu, bảo vệ tài nguyên, môi trường. Những thành tựu này góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế - xã hội, phục vụ các mục tiêu, chiến lược phát triển bền vững của Đảng.
Bên cạnh những thành tựu rất đáng khích lệ, chúng ta vẫn phải thừa nhận một thực tế là, chất lượng môi trường đang xấu đi rất nhanh. Ô nhiễm lan rộng, mức độ trầm trọng hơn. Tài nguyên thiên nhiên bị khai thác tràn lan, quá mức, thiếu sự kiểm soát. Nguồn nước mặt, nước ngầm nhiều nơi bị suy thoái, cạn kiệt, đã xuất hiện các "dòng sông chết". Hầu hết các khu công nghiệp, khu chế xuất chưa có hệ thống xử lý chất thải tập trung, còn nhiều cơ sở gây ô nhiễm môi trường chưa được xử lý triệt để. Đa dạng sinh học suy giảm mạnh, gây mất cân bằng sinh thái ở nhiều nơi. Biến đổi khí hậu kéo theo triều cường, thiên tai, thảm họa diễn biến phức tạp, khó lường. Chỉ tính riêng năm 2009, đã có 11 cơn bão, triều cường ảnh hưởng đến nước ta, làm chết 435 người; làm đổ trôi 13.354 ngôi nhà; làm ngập úng, hư hại 237.799 ha lúa; làm vỡ 9.424 ha ao, hồ nuôi tôm cá; làm sạt, trôi, bồi lấp 3.033.202m 3đất công trình thủy lợi và 10.321.193m 3đất công trình giao thông… ước tính tổng thiệt hại là 23.300 tỉ đồng. Thực tế này vẫn đang tiếp tục diễn ra hàng năm, đe dọa nghiêm trọng sự phát triển bền vững của đất nước.
Công tác bảo vệ môi trường hiện nay đang đứng trước nhiều thách thức đáng quan tâm, như: thách thức giữa yêu cầu bảo vệ môi trường với lợi ích kinh tế trước mắt trong đầu tư phát triển; thách thức giữa tổ chức và năng lực quản lý môi trường còn nhiều bất cập trước những đòi hỏi phải nhanh chóng đưa công tác quản lý môi trường vào nền nếp; thách thức giữa kết cấu hạ tầng, kỹ thuật bảo vệ môi trường lạc hậu với khối lượng chất thải đang ngày càng tăng lên; thách thức giữa nhu cầu ngày càng cao về nguồn vốn cho bảo vệ môi trường với khả năng có hạn của ngân sách nhà nước và sự đầu tư của doanh nghiệp và người dân cho công tác bảo vệ môi trường còn ở mức rất thấp; đặc biệt nổi lên là thách thức giữa yêu cầu bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững của đất nước.
Cùng với mục tiêu ưu tiên của đất nước là đạt được sự tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững, Đảng ta cũng nhận thức được rằng, kiểm soát và giảm hậu quả của thiên tai là một vấn đề then chốt và đã đề ra chủ trương, kế hoạch hoạt động đó mới chỉ tập trung vào những điều kiện khắc nghiệt của khí hậu ở hiện tại hơn là ứng phó với biến đổi khí hậu trong tương lai, kể cả những thiên tai và sự bất ổn có thể làm tổn hại đến sự phát triển bền vững của đất nước. Chúng ta đã đạt được một số kết quả nhất định và đã nhận được sự hưởng ứng, hỗ trợ của nhiều tổ chức quốc tế và nhiều nước trên thế giới. Nhưng đây mới chỉ là bước đầu của công cuộc ứng phó với biến đổi khí hậu, công việc này đòi hỏi phải có sự tham tích cực, bền bỉ, lâu dài của toàn hệ thống chính trị; đồng thời phải tranh thủ sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế, các nhà tài trợ.
Hiện nay, cả nước ta có hơn 1.500 làng nghề và hơn 200 khu công nghiệp. Các khu công nghiệp và làng nghề đã và đang có những đóng góp rất quan trọng trong phát triển kinh tế và xã hội của đất nước. Song, những khu vực này cũng là nguồn gây ô nhiễm môi trường chủ yếu và muốn hạn chế nguồn ô nhiễm này, chúng ta cần rất nhiều giải pháp, từ chính sách, pháp luật đến công nghệ, kinh phí và ý thức trách nhiệm của các doanh nghiệp và mọi người dân. Mặt khác, đô thị hóa đang diễn ra rất nhanh; tăng dân số và tình hình di dân tự do diễn ra khá phức tạp; nhu cầu sử dụng nguyên liệu và tiêu hao năng lượng ngày càng tăng. Những đặc điểm này tác động mạnh đến môi trường và việc khai thác tài nguyên thiên nhiên của nước ta.
Những vấn đề bức xúc về môi trường trên đây là do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân khách quan, nhưng nguyên nhân chủ quan vẫn là chính. Thể chế, chính sách về bảo vệ môi trường và phát triển bền vững vẫn chưa theo kịp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Kinh tế phát triển theo chiều rộng, dựa nhiều vào khai thác tài nguyên. Nhiều ngành, lĩnh vực sản xuất còn sử dụng công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Tư duy coi trọng tăng trưởng kinh tế, xem nhẹ trách nhiệm bảo vệ môi trường vẫn còn phổ biến. Đầu tư của Nhà nước, doanh nghiệp và người dân cho bảo vệ môi trường chưa đáp ứng được yêu cầu. Thể chế và hệ thống tổ chức quản lý nhà nước còn nhiều bất cập, thiếu nhân lực, nhất là ở các địa phương. Khâu tổ chức thực hiện còn nhiều yếu kém. Thiếu cương quyết trong xử lý các vụ việc vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường. Chúng ta vãn chưa khai thác, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả nguồn lực tài nguyên cho phát triển bền vững.
Giải pháp cơ bản, cấp thiết
Đảng ta đề ra mục tiêu, chiến lược phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững; phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) đạt bình quân 7-8%/năm. GDP binh quân đầu người đạt khoảng 3.000 USD. Có một số lĩnh vực khoa học, công nghệ, giáo dục, y tế đạt trình độ tiên tiến, hiện đại; cải thiện chất lượng môi trường; chủ động ứng phó có hiệu quả với thiên tai, biến đổi khí hậu, đặc biệt là nước biển dâng… Tốc độ tăng trưởng cao là cần thiết, nhưng sẽ kéo theo một lượng lớn tài nguyên thiên nhiên được khai thác và chất thải từ sản xuất, tiêu dùng ngày càng tăng. Điều này cho thấy, phát triển kinh tế không thể bằng mọi giá, mà phải gắn liền với bảo vệ tài nguyên, môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu.
Để tiếp tục thực hiện thắng lợi những mục tiêu bảo vệ môi trường trên quan điểm phát triển nhanh và bền vững của Đảng, trong thời gian tới, chúng ta cần tập trung giải quyết một số nhiệm vụ cơ bản, cấp thiết sau:
Thứ nhất, xây dựng văn hóa ứng xử thân thiện với môi trường, đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục pháp luật, nâng cao nhận thức, xây dựng các chuẩn mực, hình thành ý thức, hành vi ứng xử thân thiện với thiên nhiên, môi trường. Lấy chỉ số đầu tư hiệu quả cho môi trường, kết quả bảo vệ môi trường cụ thể để đánh giá. Tiêu chí môi trường phải trở thành tiêu chí cơ bản trong các hoạt động bình chọn, xét thi đua, khen thưởng.
Thứ hai, chú trọng công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường, đặc biệt, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật, trong đó, đặt trọng tâm đối với các khu công nghiệp, khu chế xuất và các cơ sở gây ô nhiễm môi trường trên phạm vi cả nước. Cần có sự phối hợp đồng bộ giữa các cấp, các ngành trong quá trình thanh tra, kiểm tra; và phải coi trọng dân là "tai mắt" trong thanh tra. Kết quả thanh tra, kiểm tra được công bố công khai, rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng.
Thứ ba,kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội với bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu. Chưa bao giờ chúng ta có cơ hội lớn như tại thời điểm này để lựa chọn mô hình tăng trưởng bền vững hơn. Chúng ta phải chuyển dịch nhanh, mạnh các ngành, các khu vực kinh tế hiện đại, tính cạnh tranh cao và ít gây ô nhiễm môi trường hơn; tập trung đầu tư chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý ở các vùng chậm phát triển; xây dựng và triển khai các dự án theo cơ chế phát triển sạch.
Thứ tư, coi trọng yếu tố môi trường trong tái cơ cấu kinh tế, tiếp cận các xu thế tăng trưởng bền vững và hài hòa trong phát triển ngành, vùng phù hợp với khả năng chịu tải môi trường, sinh thái cảnh quan, tài nguyên thiên nhiên và trình độ phát triển. Đã đến lúc "nói không" với tăng trưởng kinh tế bằng mọi giá. Tăng trưởng kinh tế phải đồng thời với bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu. Bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu cũng phải thay đổi theo hướng có lợi cho tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo ra công ăn việc làm, hỗ trợ để đất nước phát triển nhanh hơn, bền vững hơn.
Thứ năm, tiếp tục kiện toàn hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về môi trường theo hướng hiện đại, đủ năng lực thực hiện nhiệm vụ ngày càng phức tạp, nặng nề, đáp ứng yêu cầu. Bên cạnh đó, tạo cơ chế phối hợp, hợp tác và huy động mọi thành phần kinh tế, toàn xã hội và tranh thủ sự hỗ trợ của quốc tế cho công tác bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu. Đẩy mạnh xã hội hóa, tạo điều kiện để các thành phần kinh tế, các tổ chức xã hội, mọi người dân tham gia bảo vệ môi trường, làm kinh tế từ môi trường.
Thứ sáu, đẩy mạnh kinh tế hóa, chuyển đổi quyết liệt cơ chế nặng về "bao cấp", "xin - cho", nặng về kiểm soát hành chính trong quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường sang cơ chế thị trường nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, nâng tầm đóng góp của ngành tài nguyên và môi trường trong nền kinh tế quốc dân. Nhờ những đánh giá, dự báo mới nhất, chúng ta biết được Việt Nam là nước giàu về tài nguyên thiên nhiên với trữ lượng các loại khoáng sản ti-tan-zircon, bô-xít, sắt, đá vôi, đất hiếm hàng hàng đầu thế giới. Tuy vậy, tài nguyên khoáng sản chỉ mang lại lợi ích to lớn cho đát nước khi chúng ta có kế hoạch khai thác, sử dụng hợp lý, bền vững.
Thứ bảy, cần bổ sung, hoàn thiện các quy định và cơ chế quản lý về bảo vệ môi trường khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế, cụm công nghiệp, làng nghề, các lưu vực sông, môi trường nông thôn, miền núi, biển và hải đảo. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện hành, tiến tới xây dựng bộ luật môi trường, chuẩn bị cơ sở pháp lý cho ứng phó với biến đổi khí hậu theo hướng thống nhất, công bằng, hiện đại và hội nhập. Hệ thống pháp luật về môi trường phải tương thích, đồng bộ trong tổng thể hệ thống pháp luật chung của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.








