Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 20/06/2011 18:12 (GMT+7)

Xã hội tri thức và bước đầu xây dựng xã hội tri thức ở Việt Nam

Cũng giống như mọi sự vật, xã hội có thể được tiếp cận từ nhiều góc độ. Từ mỗi góc độ ta lại có thể phân loại và phân cấp xã hội theo một hệ thống khác. Đứng từ góc độ của lý thuyết quan hệ sản xuất, chúng ta có các hình thái ý thức xã hội như xã hội cộng sản nguyên thủy, xã hội chiếm hữu nô lệ, xã hội phong kiến… Đứng từ góc độ tôn giáo người ta có thể nói đến xã hội Cơ Đốc giáo, xã hội Phật giáo, xã hội Nho giáo… Và đứng từ góc độ văn minh, người ta nói đến sự chuyển biến theo dòng lịch sử từ xã hội nông nghiệp lên xã hội công nghiệp, đến xã hội hậu công nghiệp hay xã hội thông tin, và tiếp đến sẽ là xã hội tri thức. Đó là chưa kể đến việc người ta có thể lấy tên gọi của dân tộc để đặt cho xã hội của một quốc gia: xã hội Mỹ, xã hội Nga, xã hội Trung Quốc, xã hội Việt Nam …

Tuy nhiên, các hệ thống xã hội khác nhau từ các góc độ tiếp cận khác nhau có thể không trùng khớp hoặc loại trừ nhau. Nghĩa là xã hội nông nghiệp không nhất thiết trùng khớp chỉ với xã hội phong kiến, xã hội thông tin hay xã hội tri thức không nhất thiết phải trùng khớp với xã hội tư bản hay với xã hội cộng sản. Nghĩa là ta phải quan niệm rằng các góc độ tiếp cận đa dạng chỉ có ý nghĩa bổ sung góc nhìn cho nhau mà thôi.

Xã hội tri thức là một khái niệm tương đối mới, cho nên khó có thể nói đến một sự thống nhất trong định nghĩa về xã hội tri thức. Từ những ý kiến khác nhau của các nhà nghiên cứu và của các tổ chức quốc tế khi xác định bản chất và đặc điểm xã hội tri thức, chúng ta có thể rút ra một quan niệm chung cho xã hội tri thức là: Xã hội tri thức là một kiểu xã hội dựa trên việc không ngừng sản xuất và sử dụng hàng loạt tri thức trong mọi lĩnh vực với sự trợ giúp của công nghệ thông tin và truyền thông hiện đại, để phát triển con người trên toàn hành tinh một cách công bằng, an sinh và bền vững. Việc sản xuất và sử dụng tri thức thông qua môi trường giáo dục - đào tạo và nghiên cứu - triển khai đã làm gia tăng giá trị của tri thức trong tất cả các ngành kinh tế, khoa học và công nghệ, được đặc trưng bằng những cái tên: kinh tế tri thức và công nghệ cao. Một kiểu xã hội như vậy có thể được xây dựng và phát triển ở mọi quốc gia, không phân biệt chế độ chính trị - xã hội.

Như vậy, cần phải hiểu xã hội tri thức hiện đại không chỉ từ góc độ kinh tế và công nghệ. Đang được thoát thai từ xã hội thông tin, xã hội tri thức mang ý nghĩa nhân quyền cao hơn, và vì thế ý nghĩa đạo đức nhân văn của nó cũng cao hơn. Theo tinh thần đó, những xã hội có nền kinh tế và quân sự phát triển cao không nhất thiết sẽ là xã hội tri thức. Chính vì thế mà trong bảng xếp hạng xã hội tri thức của Liên hợp quốc, Hoa Kỳ chỉ được xếp thứ 12, còn Nga và Trung Quốc không lọt được vào tốp 45.

Trên cơ sở của xã hội thông tin và khắc phục những khiếm khuyết của nó, một xã hội muốn trở thành một xã hội tri thức thì cần phải xay dựng cho mình được bốn cột trụ sau đây.

1. Cột trụ chính trị

Những nỗ lực để xây dựng hạ tầng cơ sở thông tin đầu tiên của xã hội thông tin hiện đại và của xã hội tri thức là thuộc về chủ trương của chính phủ. Không có chính sách và những quy định hợp lý, không có sự điều hành của chính phủ đối với hạ tầng cơ sở thông tin thì xã hội thông tin và sau đó là xã hội tri thức không thể hình thành được. Các nước đều có bộ bưu chính viễn thông hoặc bộ thông tin và truyền thông. Các mạng truyền thông quốc gia của các nước được hình thành đều nằm dưới sự chỉ đạo và điều hành của chính phủ. Mặt khác, việc xây dựng xã hội tri thức trước tiên là công việc của người dân các nước chứ không phải chỉ là công việc của khoa học và công nghệ. Và để đảm bảo cho người dân phát huy được tiềm năng của mình, chính phủ cần phải phát huy vai trò lãnh đạo theo tinh thần dân chủ và đảm bảo thực thi dân quyền và nhân quyền cho người dân. Cột trụ chính trị vì thế có vị trí quan trọng trong việc đảm bảo quyền con người và quyền dân chủ cho nhân dân để xây dựng một xã hội thông tin toàn cầu và xã hội tri thức trong tương lai.

2. Cột trụ kinh tế tri thức

Theo các nhà nghiên cứu, kinh tế tri thức là nền kinh tế [của] tri thứctập trung vào việc sản xuất và quản lý tri thức, hoặc là một nền kinh tế dựa trên tri thức["knowledge - based economy"]. Nghĩa thứ hai này thường được sử dụng nhiều hơn, nó đề cập đến việc sử dụng tri thức để tạo ra những lợi ích về mặt kinh tế. Khái niệm này đã được phổ biến nhờ cuốn sách The Age of Discontinuity; Guidelines to Our changing Society (1969)của Peter Drucker.

Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đã xác định khái niệm "kinh tế tri thức" là "nền kinh tế dựa trên tri thức, trực tiếp căn cứ vào việc sản xuất, phân phối và sử dụng tri thức và thông tin".

Từ ý kiến của đa số các nhà nghiên cứu, ta cũng có thể rút ra một đặc điểm nổi bật nhất của kinh tế tri thức là sự mở rộng không ngừng của khu vực thông tin và truyền thông. Sự mở rộng của khu vực này có thể được chia thành hai cấp độ: một là bản thân sự phát triển của khu vực thông tin và truyền thông đem lại lợi ích kinh tế vô cùng to lớn cho nền kinh tế tri thức; hai là sự phát triển của nó đã làm gia tăng vượt bậc hiệu quả kinh tế cho hầu hết các ngành nghề của nền kinh tế tri thức. Nhà nghiên cứu M.Porat đã gọi cấp độ thứ nhất là khu vực thông tin sơ cấp, còn cấp độ thứ hai là khu vực thông tin thứ cấp. Khu vực sơ cấp bao gồm việc sản xuất, phân phối và xử lý các sản phẩm và dịch vụ thông tin; khu vực thứ cấp thể hiện ở khối lượng phí tổn về thông tin cần thiết cho việc tổ chức của các công ty và cho việc điều phối các thị trường.

3. Cột trụ khoa học - công nghệ

Khoa học và công nghệ luôn là đòn bảy phát triển của mọi xã hội. Trong xã hội tri thức, vai trò của khoa học và công nghệ lại càng quan trọng hơn bao giờ hết. Hiện tại người ta đang nói đến cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba diễn ra vào thế kỷ XX, xuất hiện cùng với sự bùng nổ của các ngành công nghệ cao, đặc biệt là vào nửa cuối của thế kỷ XX, khi một loạt công nghệ mới ra đời như công nghệ vi điện tử, máy tính, quang điện tử, lade, vật liệu mới, hạt nhân, gen, tế bào,… Sự phát triển bùng nổ của các công nghệ cao này cũng chính là đặc trưng của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ mới, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại ở thế kỷ XX.

Khái niệm "công nghệ cao" chỉ mới xuất hiện từ những năm 70 - 80 của thế kỷ XX, khi một loạt công nghệ mới ra đời làm xóa nhòa ranh giới giữa khoa học và công nghệ. Tức là công nghệ cao là những công nghệ dựa vào những thành tựu khoa học mới nhất với hàm lượng tri thức và hàm lượng khoa học, sáng tạo cao nhất. Hiện người ta nói đến bốn công nghệ chính trong thời đại cách mạng khoa học - công nghệ mới, đó là công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu, công nghệ năng lượng và công nghệ thông tin.

Công nghệ thông tin là công nghệ mới nhất hiện nay và là loại công nghệ đặc trưng nhất góp phần làm hình thành và phát triển xã hội thông tin và xã hội tri thức. Trong thời đại ngày nay, trước yêu cầu chia sẻ tri thức của xã hội thông tin và tri thức, công nghệ thông tin luôn gắn chặt với công nghệ truyền thông, vì thế khi nói đến công nghệ thông tin, người ta thường gắn nó với truyền thông để gọi là công nghệ thông tin và truyền thông.

Sự hỗ trợ đắc lực của công nghệ thông tin và truyền thông cho tất cả các ngành nghề kinh tế - xã hội đã làm cho công nghệ này hiện đang chiếm vị trí hàng đầu trong nền kinh tế tri thức nói riêng và trong xã hội tri thức nói chung. Đặc biệt, với công nghệ internet và công nghệ web, lịch sử văn minh loài người đã bước sang một trang hoàn toàn mới, nó làm cho việc chia sẻ tri thức gần như không còn giới hạn về không gian và thời gian.

Tất cả những sự phát triển công nghệ trên đây cho thấy khoa học và công nghệ ngày nay đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Mặc dù với mức chi cho khoa học còn thấp trong tỷ lệ GDP 91 - 2%0, nhưng đóng góp của nó cho GDP lại lớn gấp rất nhiều lần (30 - 40%). Với lợi ích to lớn của khoa học như vậy, các nước phát triển hiện nay rất chú trọng đến lĩnh vực nghiên cứu và triển khai.

4. Cột trụ giáo dục và đào tạo

Ta đã thấy rằng trong xã hội thông tin và xã hội tri thức, thông tin và tri thức là những khái niệm chủ chốt. Nhưng thông tin và tri thức không tồn tại độc lập, bất biến, mà chúng luôn luôn chuyển hóa cho nhau. Và sự chuyển hóa đó được diễn ra trong môi trường và đường dẫn của giáo dục và đào tạo.

Một điều hoàn toàn có ý nghĩa đặc thù cho thời đại thông tin và tri thức hiện đại là khái niệm giáo dục cũng được hiểu theo một nghĩa mở rộng. Giáo dục không chỉ giới hạn trong phạm vi của môi trường chính quy, mà nó còn có nghĩa là tự giáo dục, tự đào tạo, tự học. Mà điều này lại chỉ có thể được thực hiện một cách có hiệu quả nhờ có công nghệ thông tin và truyền thông. Đó chính là lý do tại sao ngay từ khi khái niệm "xã hội thông tin" và khái niệm "xã hội tri thức" ra đời, thì người ta đã thấy xuất hiện một khái niệm rất mới: đó là khái niệm "xã hội học tập", với nghĩa là một hệ thống học tập suốt đời cho tất cả mọi người.

Hiện nay bên cạnh những thành tựu của một số quốc gia cho phép ta có thể nói đến sự xuất hiện của một số xã hội tri thức sơ khai, thì thế giới vẫn còn nhiều việc phải làm, nhất là trong lĩnh vực giáo dục, để biến thế giới thành ngôi nhà của các xã hội tri thức. Đó là lý do tại sao UNESCO rất có ý thức trong việc để xã hội tri thức ở dạng số nhiều trong bản Báo cáo Thế giới2005nổi tiếng của mình. Tất nhiên, số nhiều của xã hội tri thức ở đây còn có nghĩa là thế giới phải chấp nhận sự đa dạng văn hóa chứ không áp đặt sự đồng nhất hóa cho mọi dân tộc, mọi quốc gia.

Trong tinh thần tuân thủ các mục tiêu quốc tế về giáo dục, các quốc gia cũng tự đề ra chính sách giáo dục của riêng mình để khuyến khích giáo dục và đáp ứng quyền được giáo dục của mọi người dân. Hầu hết các nước đều thực thi chính sách giáo dục miễn phí cho học sinh tiểu học. Việt Nam cũng không nằm ngoài chủ trương đó.

Mặc dù ở nước ta, quan niệm về xã hội tri thức còn chưa đầy đủ, nhưng một số yếu tố quan trọng của nó cũng đã được thường xuyên nhắc đến như kinh tế tri thức, khoa học - công nghệ cao, xã hội học tập và hệ thống học tập suốt đời cho tất cả mọi người…

Ngay từ những năm cuối thế kỷ XX, khi internet mới trở nên phổ biến trên thế giới, thì Việt Nam đã quan tâm ngay đến loại hình dịch vụ công nghệ cao này. Từ năm 1993, Nghị quyết 49/CP của Chính phủ đã chỉ rõ quan điểm chiến lược về phát triển công nghệ thông tin: "Xây dựng những nền móng bước đầu vững chắc cho một kết cấu hạ tầng thông tin trong xã hội, (…) đồng thời xây dựng ngành công nghiệp công nghệ thông tin thành một trong những ngành mũi nhọn của đất nước, góp phần chuẩn bị cho nước ta có vị trí xứng đáng trong khu vực khi bước vào thế kỷ XXI". Ngay năm sau, năm 1994, Chính phủ đã thành lập Ban chỉ đạo Chương trình Quốc gia về Công nghệ thông tin; và 3 năm sau (ngày 19-11-1997) chúng ta đã khai trương dịch vụ mạng internet Việt Nam. Ngày 17-10-2000, Bộ Chính trị lại ra Chỉ thị 58-CT/TW về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin trong sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa giai đoạn 2001 - 2005. Trong bản Chỉ thị này, Bộ Chính trị đã nhắc đến việc tạo khả năng đi tắt đón đầu của công nghệ thông tin. Đến Đại hội IX năm 2001, Đảng lại nhắc lại sự cần thiết phải kết hợp công nghệ sinh học với công nghệ thông tin trong nông nghiệp và kinh tế. Có thể nói, công nghệ thông tin đã được Đảng và Nhà nước ta quan tâm rất sớm. Đảng ta cũng đã bắt đầu có ý thức về kinh tế tri thức từ đầu thế kỷ XXI. Đại hội IX của Đảng đã nhận định: "Thế kỷ XXI sẽ tiếp tục có nhiều biến đổi. Khoa học và công nghệ sẽ có bước tiến nhảy vọt. Kinh tế tri thức có vai trò ngày càng nổi bạt trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất". Cũng tại Đại hội IX, Báo cáo chính trị của Đảng đã đề ra chủ trương xây dựng "xã hội học tập".

Nhìn chung, qua các văn kiện của Đảng và các công trình thông tin và nghiên cứu ở nước ta trong khoảng 10 năm qua, những vấn đề và các yếu tố của xã hội tri thức đã được bàn đến khá nhiều. Cho nên, mặc dù khái niệm "xã hội tri thức" ít được nhắc đến và chưa được bàn đến một cách toàn diện và có hệ thống, nhưng những gì được nói đến cũng cho thấy nước ta đã chuẩn bị tinh thần để xây dựng hoặc gia nhập xã hội tri thức hiện đại.

Với chủ trương sẵn sàng gia nhập xã hội tri thức (tuy mới chỉ được xác định dưới tên gọi "kinh tế tri thức"), Đảng và Nhà nước ta đã đề ra những chính sách phát triển kinh tế xã hội cụ thể và đã thu được những thành tựu đáng khích lệ. Để có căn cứ hy vọng vào tương lai về một xã hội tri thức, chúng ta hãy điểm qua một số thành tựu phát triển kinh tế - xã hội trong thời gian qua.

Trong 10 năm qua, tốc độ tăng trưởng của chúng ta luôn đạt những con số ấn tượng. Từ năm 2000 đến nay, tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân một năm dao động ở mức 7%. Tính đến năm 2005, tỷ trọng giá trị nông - lâm - nghư nghiệp trong GDP còn 20,9%, công nghiệp và xây dựng 41%, dịch vụ 38,1%. Nhìn chung, các thành phần kinh tế đều phát triển. Như vậy, cơ cấu thành phần kinh tế của nước ta đang chuyển dịch theo xu hướng chung của kinh tế tri thức và xã hội tri thức.

Trong lĩnh vực giáo dục, chúng ta đã quan tâm đầu tư nhiều hơn và có tiến bộ đáng kể. Cơ sở vật chất được tăng cường, quy mô đào tạo được mở rộng, nhất là bậc đại học và trung học chuyên nghiệp và dạy nghề. Trình độ dân trí đã được cải thiện. Chúng ta đang cố gắng cải thiện chất lượng giáo dục. Nói đến kinh tế tri thức trong thời đại thông tin, không thể không nói tới một công cụ đặc trưng của nền kinh tế tri thức và cũng là của xã hội tri thức là thương mại điện tử. Chính phủ và các doanh nghiệp nước ta đã rất chú ý đến lĩnh vực này.

Thực tế, thương mại điện tử của nước ta mới được hình thành và phát triển từ những năm đầu của thế kỷ XXI . Luật Thương mại(sửa đổi) đã được Quốc hội Việt Nam thông qua và chính thức có hiệu lực từ 1-1-2006. Luật Giao dịch Điện tửcó hiệu lực từ 1-3-2006. Ngày 25-6-2007, Bộ Thương mại (nay là Bộ Công Thương) đã ra quyết định thành lập Hiệp hội Thương mại Điện tử Việt Nam, viết tắt tiếng Anh là VECOM (Vietnam E-Commerce Association). Đây là tổ chức chính thức của Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực thương mại điện tử, mang tính chất phi chính phủ và phi lợi nhuận, có mục đích đoàn kết các hội viên để phát triển lĩnh vực thương mại điện tử ở Việt Nam. Một số công ty đã mở các website thương mại và thanh toán di động.

Nhìn chung, nếu so sánh trên toàn cầu thì những thành tựu phát triển trên đây của chúng ta vẫn đứng ở hàng rất thấp. Đứng từ góc độ của xã hội tri thức, mức độ tăng trưởng của chúng ta chưa có tỷ lệ hàm lượng tri thức cao. Người ta tính rằng trong 10 năm qua, ở một số nước APEC, trong mức tăng trưởng kinh tế bình quân 6,8%/năm có sự đóng góp của vốn là 2,2%, lao động là 1,6% và đóng góp của nhân tố khoa học vàcông nghệ là 3%.Trong khi đó, mức đóng góp của nhân tố khoa học và công nghệ cho mức tăng trưởng 7% của Việt Namtrong giai đoạn 1996 - 1999 chỉ có 1,19%,còn mức đóng góp của nhân tố vốn chiếm tới 4,7%.

Vậy, nước ta có triển vọng tiến tới được xã hội tri thức không?

Trước hết phải khẳng định rằng cộng đồng quốc tế không quan niệm xã hội tri thức là một mô hình xã hội mang tính thuần túy chính trị. Nó là sự phát triển cao của lực lượng và trình độ sản xuất, của các lĩnh vực khoa học - công nghệ, của trình độ tổ chức xã hội để phục vụ cho sự phát triển bền vững của con người. Đồng thời chúng ta cũng có thể hiểu rằng sự phát triển đi lên xã hội tri thức không phải là một cuộc cách mạng và thay thế chế độ xã hội. Như thế, các xã hội tri thức với những đặc thù văn hóa và chế độ chính trị khác nhau vẫn có thể cùng tồn tại và hợp tác với nhau để thực hiện các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ của Liên hợp quốc và tạo thuận lợi cho sự ra đời của xã hội tri thức.

Trong tinh thần đó, nước ta có thuận lợi đầu tiên là một chế độ chính trị tiến bộ và ổn định. Chúng ta đang xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, với mục tiêu xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh. Những mục tiêu đó cũng chính là những mục tiêu của xã hội tri thức mà cộng đồng quốc tế đặt ra. Đây sẽ là một cơ sở vững chắc và một điều kiện rất thuận lợi để chúng ta hoàn toàn có quyền hy vọng vào khả năng xây dựng một xã hội tri thức mang bản sắc Việt Nam .

Bên cạnh đó, chúng ta có một nguồn tài nguyên thiên nhiên đa dạng và phong phú. Mặc dù nguồn tài nguyên thiên nhiên không còn được coi là yếu tố quan trọng hàng đầu như trước đây, nhưng vẫn là yếu tố thuận lợi đáng kể.

Cuối cùng không thể không nói đến một thế mạnh của nước ta là nguồn nhân lực trẻ dồi dào đang được đào tạo tốt hơn. Hiện tại, con người Việt Nam đang được phát triển theo chiều hướng tiến bộ. Trong những năm gần đây, giá trị tuyệt đối của chỉ số phát triển con người của Việt Nam theo UNDP luôn được tăng lên. Cho dù trước mắt vẫn còn một quãng đường dài với nhiều khó khăn thách thức, nhưng chúng ta có lý để hy vọng vào một tương lai tốt đẹp của xã hội tri thức đang chờ đón chúng ta.

Xem Thêm

Tạo thuận lợi hơn cho công tác tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế
Dự thảo Quyết định điều chỉnh, sửa đổi Quyết định 06/2020/QĐ-TTg ngày 21/02/2020 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức, quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam nhằm giải quyết những vướng mắc trong quy định hiện hành, tăng cường phân cấp và đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Để trí thức khoa học tham gia sâu hơn vào công tác Mặt trận
Hội thảo khoa học tại Hà Nội ngày 6/11/2025 đánh giá thực trạng sự tham gia, phối hợp của Liên hiệp Hội Việt Nam trong các hoạt động chung của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giai đoạn 2015-2025. Các chuyên gia thẳng thắn chỉ ra những thành tựu, hạn chế và đề xuất giải pháp cho giai đoạn tới.
Còn nhiều rào cản trong thực thi bộ tiêu chuẩn ESG
Hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) nói chung và DNVVN nói riêng trên địa bàn Thành phố Hà Nội gặp nhiều rào cản và thách thức trong thực thi tiêu chuẩn môi trường, xã hội và quản trị (ESG).
Đắk Lắk: Góp ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng
Ngày 13/6, Liên hiệp hội tỉnh đã tổ chức góp ý kiến đối với dự thảo kế hoạch tổ chức hội nghị lấy ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng và dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2025 – 2030.
Hà Giang: Góp ý dự thảo sửa đổi Luật Chất lượng sản phẩm
Ngày 13/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp hội) tỉnh đã tổ chức hội thảo góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hoá (CLSPHH). Tham dự hội thảo có lãnh đạo đại diện các Sở, ban ngành của tỉnh, các hội thành viên Liên hiệp hộivà các chuyên gia TVPB.
Đắk Lắk: Hội nghị phản biện Dự thảo Nghị quyết về bảo đảm thực hiện dân chủ cơ sở
Sáng ngày 27/5/2025, tại trụ sở Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (Liên hiệp hội) đã diễn ra Hội nghị phản biện và góp ý đối với Dự thảo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh Đắk Lắk về việc quyết định các biện pháp bảo đảm thực hiện dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh.
Phú Thọ: Lấy ý kiến về Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013
Sáng ngày 20/5/2025, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ (Liên hiệp hội) tổ chức hội thảo lấy ý kiến của đội ngũ trí thức, chuyên gia, nhà khoa học về dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.

Tin mới

Bí thư Châu Văn Minh dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ và tặng quà gia đình chính sách tại Quảng Trị
Nhân kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026), ngày 13/7, GS.VS Châu Văn Minh, Bí thư Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã dẫn đầu Đoàn công tác đến dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ tại tỉnh Quảng trị và thăm hỏi, tặng quà các gia đình chính sách, người có công với cách mạng có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn.
Tạp chí Việt Nam Hội nhập đạt chuẩn Tạp chí khoa học năm 2026
Vừa qua, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Quyết định số 2244/QĐ-BKHCN và Quyết định 2823/QĐ-BKHCN để công bố danh mục tạp chí đạt tiêu chuẩn khoa học Việt Nam năm 2026. Sự kiện này đánh dấu một bước tiến quan trọng trong quá trình chuẩn hóa hệ thống xuất bản học thuật nước nhà, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về chất lượng nghiên cứu, phản biện và các chuẩn mực công bố khoa học hiện đại.
Viện Chính sách, Pháp luật và Quản lý khẳng định vị thế là một tổ chức khoa học uy tín
Trong bối cảnh đất nước đang đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện thể chế phát triển và thúc đẩy đổi mới sáng tạo, hoạt động nghiên cứu khoa học về chính sách, pháp luật và khoa học quản lý ngày càng giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp luận cứ khoa học phục vụ quá trình hoạch định chủ trương, chính sách, cũng như hoàn thiện hệ thống pháp luật.
Đắk Lắk: Mở ra không gian phát triển, nhiều tiềm năng cho đội ngũ trí thức khoa học
Việc hợp nhất tỉnh Đắk Lắk và Phú Yên đã mở ra không gian phát triển mới với nhiều tiềm năng về kinh tế, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Trong bối cảnh khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực quan trọng của tăng trưởng, phát huy vai trò đội ngũ trí thức KH&CN là yêu cầu cấp thiết, tạo nền tảng cho sự phát triển nhanh, bền vững của tỉnh Đắk Lắk.
Nghị quyết 57/NQ-TW: Đột phá là đời sống của người dân được cải thiện rõ rệt hơn
Mọi hệ thống số, cơ sở dữ liệu và nền tảng số phải được thiết kế theo yêu cầu an toàn, an ninh ngay từ đầu; coi đào tạo kỹ năng số, năng lực đổi mới sáng tạo và ứng dụng AI là nhiệm vụ lâu dài. Khi những điều đó được thực hiện đồng bộ, Nghị quyết 57/NQ-TW sẽ tạo nền tảng quan trọng để Việt Nam bứt phá.
Thanh Hoá: Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2026
Ngày 10/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Thanh Hóa (Liên hiệp hội) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành mở rộng lần thứ VII, khoá VII, nhiệm kỳ 2024 - 2029; sơ kết 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026.
Lâm Đồng: Kết nối sức mạnh - Khơi thông nguồn lực phát triển năng lượng tái tạo
Chiều ngày 09/7, tại Đà Lạt, Hiệp hội Điện gió và Mặt trời tỉnh Lâm Đồng (Hội thành viên Liên hiệp Hội) tổ chức Hội nghị thường niên năm 2026 nhằm đánh giá kết quả hoạt động năm 2025 và 6 tháng đầu năm 2026, đồng thời đề ra phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm cho 6 tháng cuối năm.
Liên hiệp Hội tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Trị tăng cường trao đổi kinh nghiệm
Chiều ngày 09/7, Đoàn công tác Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (LHH) tỉnh Quảng Trị do Tiến sĩ Trần Văn Tuân – Chủ tịch Liên hiệp Hội làm Trưởng đoàn đã có buổi thăm, làm việc và trao đổi kinh nghiệm tại LHH tỉnh Hà Tĩnh. Tiếp và làm việc với đoàn có Tiến sĩ Bùi Khắc Bằng – Chủ tịch LHH tỉnh Hà Tĩnh cùng đại diện các ban chuyên môn.
Đắk Lắk: Liên hiệp hội sơ kết công tác 6 tháng đầu năm
Chiều ngày 09/7, Liên hiệp hội tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) nhằm sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và triển khai phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026; đồng thời cho ý kiến đối với các nội dung chuẩn bị Đại hội Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031.