Về định hướng phát triển ngành titan Việt Nam
1. Tổng quan về quặng titan và ngành titan Việt Nam
Việt Nam có không nhiều quặng titan, trữ lượng tin cậy nguyên thuỷ có hơn 7 triệu tấn, tính cả cấp C2 có khoảng 14 triệu tấn ilmênit, khoảng 1,7 triệu tấn zircôn, trong đó quặng gốc chiếm 31,4%, chất lượng không cao, giá trị quặng tinh thấp. Các mỏ nằm rải rác dọc theo chiều dài của đất nước, khó cho việc khai thác và chế biến tập trung, đặc biệt là chế biến sâu với quy mô lớn.
Từ cuối thập kỷ 80, quặng sa khoáng Việt Nam bắt đầu được khai thác thủ công, cung cấp tinh quặng cho sản xuất que hàn trong nước. Từ năm 1990, nhiều tỉnh ven biển đã khai thác xuất khẩu. Tổng lượng quặng titan xuất khẩu theo thống kê chưa đầy đủ đã lên đến vài triệu tấn.
Do thuận lợi về mặt tài nguyên, công nghệ và thiết bị giản đơn, có thể giải quyết ở trong nước, vốn đầu tư không lớn, có thị trường, có lãi suất cao, nên khai thác, chế biến và xuất khẩu quặng titan Việt Nam ngày càng phát triển và có hiệu quả kinh tế đáng kể, đặc biệt có ý nghĩa kinh tế xã hội với nhiều địa phương dọc ven biển từ Thanh Hoá tới Bình Thuận.
Những năm gần đây, cùng với quặng tinh ilmênit đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, Trung Quốc mua gom cả quặng chưa qua tuyển tinh. Một số cơ sở khai thác tận thu chỉ đầu tư nửa vời, không tuyển riêng rẽ được hết các sản phẩm có ích, chủ yến bán ở dạng thô như bán thành phẩm.
Năm 2004, 2005 mỗi năm xuất khẩu gần nửa triệu tấn quặng titan và hàng chục ngàn tấn zircon. Với tốc độ khai thác, xuất khẩu quặng tinh như vừa qua thì trong thời gian (5 - 7) năm nữa nước ta sẽ cạn kiệt quặng titan và zircôn.
Với mục tiêu: Phát triển ngành titan Việt Nam bền vững ở tầm hiệu quả kinh tế - xã hội cao hơn, khắc phục sự phát triển thiếu quy hoạch khai thác và xuất khẩu bừa bãi khó kiểm soát lãng phí tài nguyên, huỷ hoại môi trường; đánh giá một cách khoa học tiềm năng tài nguyên hiện trạng và hiệu quả kinh tế - xã hội của ngành, nghiên cứu nhu cầu, thị trường trong và ngoài nước, từ đó định hướng và đề xuất các giải pháp đúng đắn cho điều tra, thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng quặng titan ở tầm hiệu quả kinh tế xã hội cao hơn; Bộ Công thương được Chính phủ giao nhiệm vụ xây dựng “Quy hoạch phân vùng thăm dò khai thác, chế biến và sử dụng quặng titan giai đoạn (2006 - 2015) có xét đến năm 2025”.
Các khoáng vật có ích chính trong quặng titan là ilmênit (FeTiO 3), rutin (TiO 2) và zircôn (ZrSiO 2).
Titan là một trong những kim loại chiến lược của thế kỷ XXI. Do có các đặc tính bền, nhẹ, chịu được nhiệt độ cao nên titan là kim loại không thể thiếu trong công nghiệp quốc phòng, hàng không và công nghiệp vũ trụ. Ngoài ra, titan còn được sử dụng trong các ngành thể dục - thể thao, y tế... Một hợp chất quan trọng của titan là titan điôxit (TiO 2). Nhờ các đặc tính không độc, độ che phủ cao, bền màu và bền hoá học, titan điôxit được sử dụng nhiều trong các ngành sản xuất sơn giấy, men sứ, cao su, da và sợi nhân tạo. Ngoài ra titan điôxit cao cấp còn được dùng trong lĩnh vực mỹ phẩm và dược phẩm.
Bột zircôn có giá trị kinh tế rất cao, thường được dùng trong công nghiệp men sứ, luyện kim, điện tử và hoá chất.
Ngành titan đang phát triển thiếu quy hoạch, mất cân đối, chưa có chế biến sâu đến sản phẩm có giá trị kinh tế cao, phải xuất khẩu quặng tinh nhưng đang phải nhập khẩu các chế phẩm từ quặng titan cho nhu cầu trong nước đối với mức tăng trưởng nhanh.
Công nghệ khai thác, tuyển thô và tuyển tinh quặng titan Việt Nam cơ bản đã phát triển ngang tầm khu vực. Việt Nam đang đứng trước cơ hội và nhu cầu chế biến sâu quặng titan, thay thế nhập khẩu để phát triển bền vững và hiệu quả kinh tế - xã hội cao hơn.
2. Tổng quan về tình hình khai thác và chế biến quặng titan trên thế giới.
Trữ lượng quặng titan trên thế giới có khoảng 1,4 tỷ tấn (tính theo TiO 2), trong đó ilmênit 1,3 tỷ tấn. Trung Quốc có trữ lượng quặng titan lớn nhất (350 tr. tấn theo TiO 2).
Mỗi năm cả thế giới sản xuất khoảng 6 triệu tấn quặng tinh titan. Khoảng 95% quặng tinh titan trên thế giới sử dụng cho mục đích sản xuất gần 5 triệu tấn bột màu (pigment) TiO 2.
Các nước có quặng titan đang khai thác cầm chừng và chủ yếu chế biến thành pigment, rutil nhân tạo hoặc xỉ titan.
Nhiều nước và vùng lãnh thổ không có hoặc ít quặng titan như Nhật, Đài Loan, Hàn Quốc, Malayxia, Singapore, Đức, Pháp... cũng đầu tư chế biến quặng titan thành những chế phẩm có giá trị cao hơn.
Trung Quốc là nước có nhiều quặng titan nhất thế giới, sản xuất trên nửa triệu tấn pigment mỗi năm, nhưng sản xuất quặng titan rất hạn chế, mua quặng ilmênit của Việt Nam để sản xuất pigment.
Do nhu cầu pigment tăng, nhất là năm 2004 và 2005, nên hầu hết các nhà máy pigment trên thế giới hoạt động hết công suất và sản lượng, giá pigment và nguyên liệu đều tăng. Triển vọng của ngành sản xuất nguyên liệu đầu vào cũng như sản xuất pigment rất khả quan, đặc biệt là khu vực Châu Á - Thái Bình Dương.
Tình hình thiếu hụt sản phẩm zircôn trên toàn cầu sẽ còn tiếp diễn gay gắt.
Ở Việt Nam , các ngành công nghiệp trong nước như: sơn, cao su, gốm sứ, hoá chất và sản xuất que hàn đều có nhu cầu các sản phẩm từ ilmênit và zircôn và đang tăng trưởng cùng với mức tăng trưởng của ngành xây dựng. Nhu cầu các chế phẩm từ quặng titan như sau:
- Nhu cầu bột màu TiO 2năm 2004 khoảng 10.000 tấn, hiện nay dự báo lên đến 15.000 tấn/ năm.
- Ilmênit hoàn nguyên và rutil làm que hàn khoảng 11.000 tấn/ năm (hiện sản xuất que hàn trong nước mới được đáp ứng khoảng45% nên còn phải nhập khẩu. Nếu sản xuất hoàn toàn thay nhập khẩu thì nhu cầu ilmênit sẽ cao hơn rất nhiều).
- Bột zircôn cho ngành gốm sứ: (6000 - 10.000) tấn/ năm.
Giá pigment TiO 2nhập khẩu hiện nay trung bình là (1700 - 2000) USD/ tấn, còn giá bột zircôn vào khoảng (1000 - 1400) USD/ tấn.
Trong khi đó nước ta đang khai thác, xuất khẩu mỗi năm khoảng nửa triệu tấn quặng titan và hàng chục tấn zircôn ở dạng quặng tinh với giá trị chưa bằng 10% so với giá trị sản phẩm chế biến sâu.
Cho dù phải nhập công nghệ, phải đầu tư lớn, trị trường cạnh tranh gay gắt, nhưng với xu thế thị trường mở, hội nhập như hiện nay thì cơ hội đầu tư chế biến sâu quặng titan thành pigment cho nhu cầu trong nước thay nhập khẩu là hoàn toàn khả thi và sẽ mang lại hiệu quả kinh tê xã hội (KTXH) tổng thể cao hơn, bền vững hơn.
Đầu tư chế biến sâu quặng titan sẽ đảm bảo hiệu quả KTXH tổng thể cao hơn vì:
- Ngành công nghiệp titan Việt Nam sẽ phát triển bền vững hơn, không phụ thuộc vào thị trường xuất khẩu quặng tinh và hoàn toàn chủ động được nguyên liệu cho các ngành công nghiệp liên quan.
- Sản xuất pigment và ilmênit hoàn nguyên, zircôn mịn thay thế nhập khẩu trong thời kì Quy hoạch trung bình với giá trị khoảng 100 triệu USD/ năm; doanh thu trung bình khoảng 123 triệu USD/ năm; lãi trung bình khoảng 12 triệu USD/ năm; thu hút hàng chục ngàn người lao động.
- Dự báo tiết kiệm chi phí ngoại tệ thay thế nhập khẩu các sản phẩm từ quặng titan cho các ngành công nghiệp khác theo từng thời kỳ như sau: (bảng 1)
![]() |
3. Định hướng phát triển ngành titan
3.1 Quan điểm
Khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm quặng titan, đảm bảo hiệu quả kinh tế - xã hội lâu dài và phát triển ngành bền vững, kết hợp với đảm bảo an ninh quốc phòng và bảo vệ môi trường sinh thái tại các địa bàn có quặng.
- Xây dựng và phát triển ngành khai thác và chế biến quặng titan một cách đồng bộ đến chế biến sâu thành các chế phẩm có giá trị cao, đáp ứng nhu cầu trong nước thay thế nhập khẩu; không xuất khẩu quặng thô; giảm dần và dừng xuất khẩu quặng tinh vào thời gian thích hợp gần nhất.
- Trung ương quản lý những mỏ quý có quy mô công nghiệp; sớm bàn giao những mỏ có quy mô nhỏ cho các địa phương quản lý và tổ chức khai thác chế biến theo định hướng chung.
- Dựa vào nội lực là chính, chỉ mua thiết bị và chuyển giao công nghệ cho sản xuất pigment, rutil nhân tạo và xỉ titan.
3.2 Định hướng về khai thác, chế biến
a Định hướng về khai thác
- Sắp xếp tổ chức lại các cơ sở khai thác và chế biến quặng titan tại các tỉnh theo hướng tập trung, giảm bớt đầu mối quản lý và hoàn thiện công nghệ khai thác và chế biến hiện có, đã được cấp phép tại các mỏ: Cây Châm, Cẩm Hoà, Kỳ Khang, Kỳ Xuân, Vĩnh Thái, Đề Gì, Hàm Tân. Các cơ sở hoạt động khoáng sản hợp lệ được khai thác, chế biến và xuất khẩu quặng tinh đến hết năm 2008.
- Ưu điểm thăm dò khai thác, giải phóng mặt bằng những khu vực được Nhà nước cho phép đầu tư xây dựng các công trình KTXH quan trọng.
- Sau năm 2008, kể cả ưu tiên khai thác giải phóng mặt bằng, khai thác đủ nguyên liệu cho chế biến sâu; không xuất khẩu quặng tinh.
- Nghiên cứu công nghệ, đầu tư đồng bộ từ khai thác tuyển và sản xuất điôxit titan tại Hà Tĩnh, Bình Thuận trước năm 2010, xỉ titan hoặc rutil nhân tạo tại Thái Nguyên vào (2010 - 2015).
b. Định hướng về chế biến
- Đầu tư mới nhà máy hoàn nguyên ilmênit ở Thái Nguyên, Bình Định và Quảng Trị (mỗi tỉnh một nhà máy) vào (2006 - 2008) và mở rộng theo nhu cầu từng giai đoạn.
- Đầu tư mới 01 nhà máy pigment 5.000 tấn sản phẩm mỗi năm ở Bình Thuận vào (2006 - 2009) và mở rộng lên 10.000 tấn/ năm vào 2015.
- Đầu tư mới 01 nhà máy xỉ titan hoặc rutil nhân tạo với công suất 20.000 T sản phẩm mỗi năm tại Thái Nguyên vào (2010 - 2015) và nâng cấp lên 40.000 tấn sản phẩm mỗi năm vào 2015, lên 60.000 T vào 2025.
- Giai đoạn (2006 - 2010), đầu tư mới 01 nhà máy pigment 30.000 tấn sản phẩm mỗi năm ở Hà Tĩnh và có thể mở rộng hoặc đầu tư thêm 01 nhà máy 30.000 T/n vào 2020 (ở Hà Tĩnh hoặc ở Thái Nguyên).
4. Các giải pháp và chính sách thực hiện
4.1 Các giải pháp chính
a. Giải pháp cụ thể về huy động vốn
Điều tra cơ bản, khảo sát địa chất: từ nguồn ngân sách Nhà nước.
Thăm dò địa chất, các công trình khai thác và chế biến sử dụng nguồn vốn vay tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, vay thương mại, nguồn vốn tự thu xếp của doanh nghiệp..
b. Quản lý và phát triển tiềm năng quặng titan
Sớm xây dựng hoàn chỉnh hệ thống quản lý dữ liệu bằng công nghệ số hoá nguồn quặng titan trên phạm vi cả nước để lưu trữ quốc gia.
Đẩy mạnh công tác điều tra toàn diện quặng titan và thăm dò bổ sung để chuẩn bị tài nguyên cho các dự án đưa vào khai thác giai đoạn (2006 - 2025) và có đủ cơ sở chắc chắn cho triển khai, điều chỉnh định hướng phát triển phù hợp hơn.
c. Về khai thác và sử dụng quặng titan
- Tập đoàn Công nghiệp Than - khoáng sản Việt Nam chỉ đạo việc đẩy nhanh tiến độ xây dựng Nhà máy liên doanh sản xuất pigment Bình Thuận.
- UBND tỉnh Hà Tĩnh chỉ đạo Tổng công ty Thương mại và khoáng sản Hà Tĩnh đẩy nhanh tiến độ BCNCKT và đầu tư xây dựng nhà máy pigment tại Hà Tĩnh.
- Đẩy mạnh việc hợp tác quốc tế trong lĩnh vực khoa học, công nghệ chế biến sâu quặng titan và các nguyên tố cộng sinh.
d. Giải pháp về cơ sở hạ tầng
Ưu tiên đầu tư xây dựng hệ thống đường bộ, cảng tại các vùng khai thác và chế biến sâu quặng titan.
4.2 Các chính sách
a. Về cơ chế quản lý nhà nước
Xây dựng chính sách sử dụng, kinh doanh xuất nhập khẩu quặng titan với phương châm sử dụng tiết kiệm và hợp lý tài nguyên, nâng cao hiệu quả kinh tế của việc khai thác, chế biến quặng titan, đảm bảo hài hoà sự phát triển kinh tế xã hội địa phương và nâng cao giá trị kinh tế của khoáng sản quặng titan.
b. Về tài chính
Tạo cơ chế và chính sách ưu đãi về tài chính, thuế, đất đai... đối với dự án đầu tư chế biến sâu. Khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư vào lĩnh vực điều tra, thăm dò, khai thác và chế biến quặng tuân theo quy hoạch phục vụ nhu cầu sản xuất trong nước. Tạo nguồn vốn ngân sách và tín dụng nhà nước để hỗ trợ cho công tác điều tra, thăm dò và đầu tư chế biến sâu quặng titan.
c. Về nguồn nhân lực
Có chính sách đào tạo, thu hút đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ khoa học chuyên ngành địa chất, tuyển khoáng và khai thác thực hiện các dự án điều tra, thăm dò, khai thác quặng titan và chế biến sâu trong nước.
d. Về hợp tác quốc tế
Nghiên cứu đổi mới chính sách và môi trường đầu tư nhằm kêu gọi đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực chế biến sâu với mục tiêu thu hút vốn, tiếp thu công nghệ mới.
- Đối với các dự án Nhà máy pigment Hà Tĩnh, Nhà máy xỉ titan Thái Nguyên có thể hợp tác đầu tư phần chế biến sâu với hình thức liên doanh, nhưng phía Việt Nam nắm cổ phần chi phối.
- Các dự án khai thác và chế biến quặng titan khác khuyến khích các doanh nghiệp trong nước tự làm, không liên quanh với nước ngoài.
5. Kiến nghị
Chính phủ sớm pháp chế hoá Quy hoạch titan đang được Bộ Công thương lập, hoàn chỉnh và chỉ đạo thực hiện để đảm bảo ngành titan phát triển bền vững với hiệu quả KTXH cao hơn.









