Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 01/03/2012 22:46 (GMT+7)

Tiềm năng đất đai vùng ven biển Việt Nam

Tiềm năng đất đai phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Vùng ven biển đồng bằng sông Hồng: Có nhiều thuận lợi về đất đai cho việc phát triển ngành nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp. Đất phù sa từ các con sông lớn như sông Hồng, sông Thái Bình bồi đắp hằng năm cho các khu vực đồng bằng ven sông, tạo cho vùng một diện tích đất phì nhiêu, màu mỡ thích hợp với việc trồng lúa nước, các cây màu hằng năm.

Các loại đất cát, đất mặn, đất phèn… là loại “đất xấu” của vùng, nhưng nếu cải tạo thì chúng trở thành những loại đất có tiềm năng để phát triển cây lương thực, cây màu, cây công nghiệp ngắn ngày và cây ăn quả. Diện tích đất đồi núi thuộc địa hình thấp là tiềm năng có thể khai thác sử dụng đất bãi bồi, sình lầy, đất cát ven biển, đất phèn, đất mặn là một tiềm năng rất lớn cho phát triển rừng ngập mặn, nuôi trồng thủy sản và các mục đích khác. Đất sông suối, bãi bồi ven sông và mặt nước chuyên dùng, đất lúa 1 vụ kém hiệu quả là tiềm năng cho nuôi trồng thủy sản bằng hệ thống lồng bè.

Vùng ven biển Bắc Trung Bộ: Giàu tiềm năng trong sản xuất nông nghiệp, đầu tư thâm canh, xen canh tăng vụ mở rộng diện tích gieo trồng, nâng cao hệ số sử dụng đất và hiệu quả trên một ha đất canh tác thông qua chuyển đổi cơ cấu cây trồng, bố trí lại mùa vụ, kiến thiết đồng ruộng.

Ngoài việc chăm sóc, bảo vệ vốn rừng hiện có, còn có thể mở rộng diện tích đất rừng trên cơ sở khoanh nuôi, trồng mới đất rừng phủ xanh đất trống đồi trọc, đất cồn cát, bãi cát ven biển và trồng rừng ngập mặn tại các vùng cửa sông và ven biển vùng bãi triều. Với quỹ đất hiện có, khả năng mở rộng diện tích đất lâm nghiệp các huyện ven biển tối đa khoảng 100.000 ha.

Với chiều dài hơn 670km bờ biển, trữ lượng hải sản phong phú và ổn định, đây chính là tiềm năng để khai thác nuôi trồng thủy sản nước mặn, lợ, ngọt của vùng Khu 4 cũ. Ngoài diện tích chuyên nuôi trồng thủy sản hiện có, đất nuôi trồng thủy sản tiếp tục được mở rộng bằng việc chuyển đổi diện tích đất lúa kém hiệu quả sang nuôi trồng thủy sản, khai thác đất mặt nước, bãi bồi ven sông, ven biển để nuôi trồng thủy sản. Ngoài ra, còn có thể nuôi xen canh trong đất trồng lùa, cói, khai thác mặt nước chuyên dùng vào nuôi trồng thủy sản.

Vùng ven biển Duyên hải Nam Trung bộ: Thuận lợi trong phát triển trồng cây lâu năm hiện đang là thế mạnh trong sản xuất nông nghiệp của vùng. Hiện nay, vùng có một số loại đất thích hợp để trồng cây hằng năm như: Đất mặn, đất xám bạc màu, đất phù sa, đất đỏ vàng… Do đặc thù thời tiết, vùng có thể trồng được những cây trồng mà nơi khác không có được.

Tiềm năng đất của vùng có rất nhiều nhóm đất thích hợp cho việc trồng rừng như: Nhóm đất mùn trên núi, nhóm đất xám bạc màu, nhóm đất đỏ vàng, nhóm đất mặn… Đặc biệt, đất mặn rất thích hợp cho việc trồng rừng bảo vệ đầu nguồn.

Với bờ biển dài, nhiều đầm phá… rất thuận lợi cho việc phát triển nuôi trồng thủy sản, nhất là các loài thủy sản ưa nóng như tôm hùm, tôm sú. Mùa khô, nước biển vùng trong sạch và có độ mặn cao, là nơi sản xuất giống hải sản tốt nhất Việt Nam .

Tài nguyên lớn nhất của vùng là kinh tế biển, bao gồm: Nguồn lợi hải sản (chiếm gấn 20% sản lượng đánh bắt của cả nước) và nuôi trồng thủy sản, với diện tích có thể nuôi trồng là 60.000 ha trên các loại thủy vực: Mặn, ngọt, lợ. Đất nuôi trồng thủy sản tiếp tục được mở rộng bằng việc chuyển đổi diện tích đất lúa kém hiệu quả sang nuôi trồng thủy sản, khai thác đất mặt nước, bãi bồi ven sông, ven biển. Ngoài ra, còn có thể nuôi xen canh trong đất trồng lúa.

Vùng ven biển Đông Nam bộ: Đất nông nghiệp trong vùng đang có xu hướng giảm. Trong tổng diện tích đất nông nghiệp, diện tích đất nhiễm phèn chiếm tỷ lệ khá cao, 31,8%, phần lớn đất đai có chất lượng trung bình.

Đất đai trong vùng thích hợp cho trồng lúa và một số cây trồng hằng năm khác như: Ngô, khoai, sắn… Đối với những khu vực trồng cây lúa không cho năng suất và sản lượng cao, nên chuyển đổi diện tích đất trồng lúa sang trồng các loại cây khác như rau, cây cảnh, nuôi thủy sản… nhân rộng mô hình sản xuất công nghệ cao nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất gấp nhiều lần so với trồng lúa hiện có.

Đất đai trong vùng phù hợp với việc trồng các loại cây ăn quả và cây công nghiệp dài ngày như cà phê, cao su, điều, hồ tiêu… Vùng có 8.860 ha đất đen, 50.000 ha đất đỏ vàng rất thích hợp với việc trồng cây lâu năm, cần đặc biệt quan tâm đến biện pháp chống xói mòn rửa trôi đất, tăng độ che phủ cho đất.

Hiện trong vùng có 76.690 ha đất lâm nghiệp. Tiềm năng đất đai để phát triển lâm nghiệp rất lớn đối với cây rừng vùng trũng thấp, phèn mặn, thực vật đặc trưng của vùng ven biển Đông Nam bộ. Vùng có Côn Đảo với 5.960 ha rừng, đây là vùng cuối cùng ở Việt Nam còn rừng nguyên sinh chưa bị xâm phạm; rừng ngập mặn Cần Giờ với trên 25.000 ha. Vùng rất giàu tiềm năng, với 171 km chiều dài bờ biển, trong đó tiềm năng đất nuôi trồng thủy sản là rất lớn. Vùng có 14.670 ha diện tích đất nuôi trồng thủy sản.

Vùng ven biển đồng bằng sông Cửu Long: Sản xuất lương thực quan trọng của cả nước, vùng có thế mạnh để phát triển nông nghiệp. Cơ cấu cây trồng có giá trị sản phẩm hàng hóa ngày càng tăng như lúa, ngô, đậu phộng, vừng, rau, đậu, đỗ, mía… cây ăn quả cũng tăng diện tích phù hợp với điều kiện sinh thái của các tiểu vùng, có giá trị sản phẩm hàng hóa.

Với lợi thế về điều kiện địa hình, khí hậu, đất đai, vùng có thế mạnh lớn về cây ăn quả và cây công nghiệp. Đất lâm nghiệp có ý nghĩa và vai trò khá đặc biệt trong việc bảo vệ môi trường sinh thái đất ngập mặn ven biển, bảo vệ nguồn gen và đa dạng sinh học và các động vật sống dưới rừng như tôm, cá, loài giáp xác…Tiềm năng đất để phát triển trồng rừng của vùng không còn nhiều, có thể khai thác trồng rừng từ đất chưa sử dụng khoảng 10.000 ha.

Thủy sản là ngành mũi nhọn đứng thứ hai sau ngành sản xuất lương thực của vùng, gắn phát triển thủy sản với sản xuất nông nghiệp, trồng rừng, xây dựng hệ thống thủy lợi và bảo vệ môi trường.

Tiềm năng đất đai cho phát triển cảng biển

Vùng ven biển đồng bằng sông Hồng: Có chiều dài bờ biển là 650 km, kéo dài từ Quảng Ninh đến Ninh Bình, đã hình thành nên các tuyến giao thông thủy nội địa quan trọng cùng với 20 cảng lớn và các điểm xếp dỡ hàng hóa ven theo các triển sông ở các tỉnh trong vùng, góp phần vào sự nghiệp phát triển nền kinh tế - xã hội.

Trong vùng có một số khu vực có mực nước sâu phù hợp cho việc phát triển cầu cảng nước sâu như càng Lạch Huyện – Hải Phòng. Phát huy lợi thế của vùng có nhiều kiểu đất ngập nước cửa sông, vũng vịnh, thuận lợi cho xây dựng và phát triển các cảng biển nên tập trung nâng cấp và mở rộng các cảng biển hiện có trong vùng như: Cái Lân, Cửa Ông (Cẩm Phả), Hòn Nét, Con Ong (vịnh Bái Tử Long), Vạn Gia (Móng Cái), cảng Hải Phòng…; nghiên cứu, đầu tư xây dựng các cảng tổng hợp tại khu đầm Nhà Mạc, cảng trên sông Bạch Đằng và cảng trên sông Chanh (Hải Phòng), các cảng phục vụ phát triển du lịch ở Hòn Miều, Cái Chiên…

Vùng ven biển Duyên hải Nam Trung bộ: Về đường biển, vùng có nhiều cảng biển quan trọng như cảng Đà Nẵng, Tiên Sa, Liên Chiểu (Đà Nẵng), Kỳ Hà (Quảng Nam)… tạo nên hệ thống cảng biển phục vụ cho phát triển kinh tế vùng và tạo thành con đường huyết mạch trên biển thông thương với khu vực và thế giới. Đặc biệt, cảng Kỳ Hà không những nằm ở cửa ngõ của khu kinh tế mở Chu Lai mà còn là điểm nhấn quan trọng để phát triển vùng kinh tế được gọi là mở của vùng nói riêng và cả nước nói chung, đồng thời cũng là cảng tiên phong cho việc phát triển Khu kinh tế mở Chu Lai. Ngoài cảng Kỳ Hà, vùng còn có cảng Quy Nhơn. Trong tương lai, cảng biển nước sâu Quy Nhơn không chỉ là cửa ngõ, xuất nhập khẩu hàng hóa của vùng hậu phương mà còn là cảng trung chuyển quan trọng giữa Đông – Tây và khu vực Đông Nam Á (với khả năng thiết lập cảng trung chuyển container công suất 500.000 container/năm).

Vùng ven biển đồng bằng sông Cửu Long: Tập trung xây dựng mới hoặc nâng cấp một số cảng biển đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế hướng ngoại. Chú trọng phát triển dịch vụ cảng biển và không gian biển. Xây dựng một số cảng biển địa phương trên cơ sở cân nhắc hiệu quả đầu tư, nhu cầu vận tải và mức độ phát triển kinh tế địa phương. Đầu tư phát triển đồng bộ hệ thống cảng biển, đội tàu, công nghiệp đóng mới, sửa chữa và dịch vụ hàng hải.

Cảng biển, luồng tàu là những khâu đột phá trong khai thác lợi thế kinh tế biển của ĐBSCL. Vùng ven biển ĐBSCL có 700 km bờ biển, chiếm 23% chiều dài bờ biển cả nước, khoảng 360.000 km 2vùng kinh tế đặc quyền, giáp Biển Đông và Vịnh Thái Lan, rất thuận lợi cho phát triển kinh tế biển, với hệ thống cảng biển: Mỹ Hóa, Trà Vinh, Hòn Chông, cảng An Thới, cảng bờ Dương Đông, Hàm Ninh… Tuy nhiên, việc xây dựng và phát triển hệ thống cảng biển cần gắn với công tác bảo vệ môi trường, đặc biệt là môi trường biển.

Theo quy hoạch, các cảng biển khu vực ĐBSCL sẽ được chia thành ba nhóm là nhóm cảng biển khu vực sông Tiền, nhóm cảng biển khu vực sông Hậu và nhóm cảng biển khu vực bán đảo Cà Mau và ven biển vịnh Thái Lan.

Tiềm năng đất đai phát triển du lịch, dịch vụ

Với lợi thế về điều kiện tự nhiên cũng như cảnh quan thiên nhiên, các vùng ven biển có nhiều thuận lợi để phát triển ngành du lịch và dịch vụ. Đặc biệt, tài nguyên du lịch biển là một ưu thế đặc biệt, mở ra triển vọng để khai thác phát triển tổng hợp.

Dọc bờ biển của vùng có nhiều danh lam thắng cảnh và bãi biển đẹp như: Vịnh Hạ Long, Cát Bà, Đồ Sơn,… Các bãi biển có địa hình khá bằng phẳng, nước trong, sóng gió vừa phải thuận lợi cho xây các bãi tắm và vui chơi giải trí.

Vùng còn có các danh thắng nổi tiếng như Vườn quốc gia Cát Bà, Bạch Long Vĩ, Bái Tử Long, Bạch Mã, khu bảo tồn thiên nhiên hồ Kẻ Gỗ, Vườn quốc gia Xuân Thủy, Núi Chúa – Ninh Thuận… với nhiều loài động thực vật quý hiếm không chỉ ở Việt Nam mà còn cả trên thế giới.

Bên cạnh các bãi biển đẹp, danh thắng nổi tiếng, các vùng ven biển còn có hàng trăm di tích lịch sử văn hóa nổi tiếng đã được Nhà nước xếp hạng là tài sản văn hóa quốc gia.

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Thế hệ trẻ và bản lĩnh chính trị trên không gian số: Chủ động đối thoại, phản biện và “phủ xanh” thông tin tích cực
Trong kỷ nguyên số, không gian mạng tác động sâu sắc đến nhận thức, tư tưởng của xã hội, đặc biệt là thế hệ trẻ. Trước tin giả, thông tin xấu độc và các luận điệu sai trái, thù địch, tuổi trẻ Việt Nam thông qua các diễn đàn chính luận đã khẳng định bản lĩnh chính trị vững vàng, chủ động đối thoại, phản biện các luận điệu sai trái và góp phần “phủ xanh” không gian mạng bằng những giá trị tích cực.
Phản biện để hoàn thiện, không phải để phủ định
Hoạt động tư vấn, phản biện (TVPB) của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã trở thành một phương thức quan trọng để tập hợp trí tuệ đội ngũ trí thức, cung cấp luận cứ khoa học tin cậy cho Đảng, Nhà nước. Để hiểu rõ hơn về sự phát triển, phương pháp tổ chức và những bài học thực tiễn từ hoạt động này, phóng viên đã có cuộc trao đổi với ThS Bùi Kim Tuyến, Trưởng ban TVPB, VUSTA
Liên hiệp Hội Việt Nam hợp tác với doanh nghiệp công nghệ, hiện thực hóa các mục tiêu chuyển đổi số
Ngày 28/9, tại Hà Nội, Lãnh đạo Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã có buổi trao đổi, làm việc với Công ty CP Tập đoàn Truyền thông StarWorld (Starworld Group) về các giải pháp chuyển đổi số, hướng tới xây dựng nền tảng công nghệ khoa học phục vụ chiến lược phát triển của VUSTA trong giai đoạn 2026 - 2031.
Phó Chủ tịch Trương Xuân Lam: Đưa khoa học, công nghệ vào giải quyết những bài toán thực tiễn ngành hàng không
Ngày 26/9, tại Hà Nội, Hội Khoa học và Công nghệ Hàng không Việt Nam tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ VII, nhiệm kỳ 2026-2031. Phát biểu tại Đại hội, GS.TS Trương Xuân Lam, Phó Chủ tịch LHHVN nhấn mạnh yêu cầu Hội tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, tập hợp và phát huy đội ngũ trí thức, đưa KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào giải quyết những vấn đề của ngành hàng không.
Ngày hội Đổi mới sáng tạo quốc gia 2026: Kết nối nguồn lực, thúc đẩy công nghệ
Theo Nghị định số 268/2025/NĐ-CP ngày 14/10/2025 của Chính phủ, ngày 1/10 hằng năm là Ngày hội Đổi mới sáng tạo quốc gia (INNOVATION DAY) do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì. Quy định này nhằm tạo một dấu mốc thường niên để lan tỏa tinh thần đổi mới sáng tạo trong xã hội, đồng thời thúc đẩy ứng dụng, phát triển và thương mại hóa công nghệ.
Liên hiệp Hội Việt Nam tổ chức chương trình làm việc, khảo sát thực tế tại Trung tâm Đa dạng Sinh học Mê Linh
Ngày 25/9, Cơ quan Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã tổ chức chương trình thăm, làm việc và khảo sát thực tế tại Trung tâm Đa dạng Sinh học Mê Linh (thuộc Viện Sinh học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam). Chương trình diễn ra với chủ đề “Trí thức khoa học và công nghệ với bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững”.
Hội Tự động hóa Việt Nam và Đại học Công nghệ Quế Lâm hợp tác tạo cơ hội phát triển công nghệ và chuyển đổi số
Hội Tự động hóa Việt Nam (VAA) và Đại học Công nghệ Quế Lâm (Trung Quốc) ký biên bản ghi nhớ, hướng tới xây dựng phòng thí nghiệm trọng điểm chung về ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số, đồng thời đưa kết quả nghiên cứu vào thử nghiệm, chuyển giao và ứng
Tuyên bố chung về quan hệ Đối tác Chiến lược giữa Việt Nam và Canada
Chuyến thăm cấp Nhà nước tới Canada của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thể hiện cam kết mạnh mẽ của lãnh đạo hai nước trong việc đưa quan hệ song phương bước vào kỷ nguyên mới hợp tác sâu rộng, thực chất và bền vững hơn. Trân trọng giới thiệu toàn văn Tuyên bố chung về quan hệ Đối tác Chiến lược giữa Việt Nam và Canada:
Trung thu – Một miền ký ức
…Tôi cũng không nhớ đã bao lần đón trung thu nữa, thế nhưng mỗi lần tháng Tám về, dắt con đi qua những phố thị đầy ắp đèn hoa, bánh kẹo trong tôi lại ùa về những cảm xúc khỏ tả, một miền ký ức sâu thẳm thân thương biết bao giờ trở lại ….
Kết luận số 83-KL/TW: Chuyển từ lợi thế tài nguyên sang làm chủ công nghệ vật liệu
Ngày 24/9, Ban Tuyên giáo Trung ương và Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp tổ chức Hội thảo tuyên truyền, phổ biến, quán triệt Kết luận số 83-KL/TW của Bộ Chính trị về phát triển công nghiệp vật liệu Việt Nam. Hội thảo tập trung làm rõ định hướng phát triển ngành vật liệu theo hướng làm chủ công nghệ, nâng cao giá trị gia tăng, tăng năng lực tự chủ và sức cạnh tranh.
Đồng chí Nguyễn Phi Long: Các đồng chí được trao tặng Huy hiệu Đảng là tấm gương sáng cho đảng viên, nhà khoa học trẻ
Sáng ngày 24/9, Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) đã trang trọng tổ chức Lễ trao tặng Huy hiệu Đảng đợt 02/9/2026. Đồng chí Nguyễn Phi Long, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương đã đến dự và phát biểu chúc mừng 111 đồng chí được trao tặng Huy hiệu Đảng.
Tư vấn, phản biện Đề án tăng cường hợp tác công - tư và phát triển y tế tư nhân, hiện đại hóa hệ thống y tế Tp. Bắc Ninh
Ngày 23/9/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật TP Bắc Ninh tổ chức Hội thảo tư vấn, phản biện: “Đề án tăng cường hợp tác công - tư và phát triển y tế tư nhân hiện đại hóa hệ thống y tế thành phố Bắc Ninh giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn 2045”.
Hội nghị BCH Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tháng 9/2026: Tập trung hoàn thành các nhiệm vụ trọng tâm cuối năm 2026
Chiều 23/9, Ban Chấp hành Đảng bộ Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ tháng 9/2026, nhằm đánh giá kết quả công tác 9 tháng đầu năm, xác định nhiệm vụ trọng tâm những tháng cuối năm; đồng thời triển khai một số nội dung quan trọng về công tác xây dựng Đảng, tổ chức cán bộ và thực hiện các nhiệm vụ sau Đại hội IX.
GS.VS Châu Văn Minh: Phát huy nguồn lực trí thức, đồng hành cùng Hà Tĩnh giải quyết những bài toán phát triển
Chiều 21/9, GS.VS Châu Văn Minh, Phó Chủ tịch không chuyên trách Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) đã thăm, làm việc với Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Hà Tĩnh (Liên hiệp Hội tỉnh Hà Tĩnh).