Tác dụng của rừng ngập mặn trong việc phòng chống thiên tai ở vùng ven biển
Vào cuối thế kỷ 20, do sự bùng nổ về dân số và yêu cầu xuất khẩu nên phần lớn RNM ở miền bắc đã bị phá lấy đất trồng cói chế biến hàng xuất khẩu sang Liên Xô (cũ) và Đông Âu. Ở miền Nam rừng bị khai thác kiệt quệ để lấy gỗ tròn và hầm than xuất khẩu và làm đầm nuôi tôm. Bên cạnh đó việc phá RNM phòng hộ để sản xuất nông nghiệp, làm nơi đổ xỉ than, xây dựng cảng, khu dân cư, khu du lịch… đã góp phần đáng kể trong việc huỷ hoại RNM.
Hậu quả của những hoạt động kinh tế vì lợi ích trước mắt hoặc cục bộ đã tạo điều kiên cho thiên tai hoành hành, cuộc sống của cộng đồng ven biển luôn bị đe doạ.
Thực tế đã cho thấy nơi nào phục hồi và bảo vệ tốt RNM thì khi có bão kể cả những cơn bão lớn với tốc độ gió cấp 10, 11, 12 như trong năm 2005 thì đê vẫn an toàn. Trong lúc nơi có phủ bê tông vững chắc nhưng không có RNM như ở Cát Hải, Đồ Sơn, Hải Phòng bị sạt lở nặng, một số đoạn bị vỡ trong cơn bão số 2 năm 2005.
Do đó việc phục hồi các dải RNM, nghiên cứu các loài cây trồng thích hợp để giảm thiểu tác hại do thiên tai là việc làm hết sức cần thiết và cấp bách.
Thiệt hại do thiên tai
Trong những năm gần đây, ở một số nước ven bờ các đại dương đã hứng chịu những cơn bão khủng khiếp như bão Katrina ở Florida - Mỹ, bão Chanchu ở Trung Quốc, bão Damrey và gần đây nhất là bão Durial ở Việt Nam . Theo thống kê của Ban Phòng chống lụt bão và thiên tai Trung ương (CCFSC, 2002) thì thiệt hại do thiên tai ở Việt Nam năm 2002 là: 335 người chết, 34 người bị mất tích, 9.802 nhà bị đổ hoặc bị trôi, 46.490 ha lúa bị ngập, 31.283 m 3đê bị xói lở, 462 công trình thuỷ lợi nhỏ bị hỏng hoặc trôi mất.
Năm 2005 có 7 cơn bão đổ bộ vào Việt Nam, trong đó có 3 cơn bão lớn với sức gió từ 89 đến 133 km/giờ gây ra thiệt hại lớn.
Ở Nam Bộ nói chung và vùng ven biển đồng bằng sông Cửu Long nói riêng ít khi bị bão (trừ cơn bão Linda 1997), nhưng gió mùa đông bắc (gió chướng) kết hợp với triều cường và dòng triều mạnh đã gây ra xói lở nghiêm trọng ở nhiều địa phương. Tình trạng xói lở ngày càng tăng, một phần quan trọng là do rừng phòng hộ ven biển và ven sông nước lợ bị phá để làm đầm tôm nên khi các thuyền máy có công suất lớn hoạt động thì gây xói lở lớn ở 2 bờ, đặc biệt biệt là đê bao.
Phục hồi rừng ngập mặn ở một số địa phương
Từ cuối thế kỷ 20 do thiên tai ngày càng tăng nên Chính phủ Việt Nam đã quan tâm đến việc trồng rừng phòng hộ ven biển (chương trình 327 và 661); đặc biệt là nhờ sự hỗ trợ đầy thiện chí của một số tổ chức quốc tế (Ngân hàng thế giới) và các tổ chức phi chính phủ (NGO) nên diện tích RNM phòng hộ đã tăng đáng kể. Hơn 100.100 ha rừng trồng đã phát triển tốt ở 16 tỉnh ven biển làm giảm đáng kể các thiệt hại do thiên tai. Các dải RNM có tác dụng làm tăng nguồn lợi thuỷ sản ven bờ, cung cấp cua giống cho các đầm, nuôi dưỡng tôm, cua bố mẹ và những loài hải sản quan trọng khác. Nhờ có RNM phục hồi mà cuộc sống của cộng đồng ven biển được cải thiện rõ rệt. Ở 8 tỉnh phía Bắc và mũi Cà Mau, nhờ nguồn lợi cua giống mà nhiều gia đình đã vượt qua nghèo đói, một số hộ đã giàu lên nhanh. Cũng nhờ mùn bã của các RNM cung cấp thức ăn cho hải sản mà nghề nuôi vạng, nghêu trên bãi cát trước RNM ở các tỉnh ven biển phát triển mạnh.
Sau các cơn bão lớn năm 2005, một số địa phương đã quan tâm nhiều hơn đến việc phục hồi RNM. Quảng Ninh là tỉnh đầu tiên xây dựng dự án “Qui hoạch bảo vệ phát triển RNM thời kỳ 2006 – 2015” với vốn đầu tư là hơn 30 tỷ đồng trong đó vốn của nhà nước: 20.894.239 triệu, vốn vay và tự có là 900 triệu để bảo vệ và trồng lại 23.879 ha RNM phòng hộ và 9.658 ha rừng đặc dụng.
Các địa phương ven biển khác cũng rất muốn phục hồi RNM phòng hộ, nhưng khó khăn lớn nhất hiện nay là nhiều nơi không còn đất để trồng do phần lớn các hợp đồng thuê đất dài hạn để làm đầm tôm còn có hiệu lực; nhiều hộ không muốn trả lại đất dù năng xuất tôm suy giảm hoặc do dịch bệnh dang phải bỏ hoang. Nếu nhà nước không có biện pháp cương quyết lấy lại đất và tạo điều kiện cho những hộ dân chuyển đổi nghề thì rất khó thực hiện qui hoạch phục hồi, phát triển rừng phòng hộ chắn sóng ven biển.
Tác dụng của rừng ngập mặn trong việc phòng chống giảm nhẹ thiên tai
Hệ thống rễ dày đặc của các loài RNM có tác dụng rất lớn trong việc bảo vệ đất ven sông, ven biển và cửa sông. Chúng vừa ngăn chặn có hiệu quả hoạt động công phá bờ biển của sóng, đồng thời là vật cản làm cho trầm tích lắng đọng, giữ hoa, lá, cành rụng trên mặt bùn và phân huỷ tại chỗ nên bảo vệ được đất. Bên cạnh đó một số loài cây tiên phong như mắm biển, mắm trắng, bần trắng sinh trưởng trên đất bồi non có khả năng giữ phù sa, mở rộng đất liền ra phía biển như vùng tây nam mũi Cà Mau, dọc sông Đồng Tranh (Cần Giờ – TPHCM), các bãi bồi ở cửa sông Hồng. Một số đảo nhỏ trên dải ven bờ cũng được nâng cao nhanh nhờ thảm thực vật ngập mặn như Cồn Ngạn, Cồn Lu ở Giao Thuỷ - Nam Định, Cồn Trong, Cồn Ngoài ở cửa sông Ông Trang – Cà Mau.
Kết quả khảo sát của Phân viện Điều tra qui hoạch rừng Nam bộ (2006) cho thấy diện tích đất bồi ven biển đồng bằng sông Cửu Long khá lớn. Nhiều nơi có RNM phòng hộ thì tốc độ bồi lắng nhanh hơn. Điển hình là việc hình thành 3 hòn đảo nhỏ ở cửa sông Ông Trang. Đảo Cồn Tong hình thành năm 1960, có diện tích là 122 ha. Ban đầu chỉ có mắm trắng, là cây tiên phong đến định cư, tạo môi trường thuận lợi cho các loài khác phát tán vào trong trên đảo. Theo kết quả điều tra của Trung tâm nghiên cứu rừng ngập Minh Hải đã có 22 loài cây ngập mặn sinh sống, động vật đáy cũng phong phú. Đảo Cồn Ngoài hình thành muộn hơn, khoảng năm 1980, có diện tóch là 149 ha. Đến nay thảm thực vật gồm 2 loài tiên phong là mắm trắng và bần trắng đã phủ kín đảo.
Khi RNM chưa bị tàn phá nhiều thì quá trình xâm nhập mặn diễn ra chậm và phạm vi hẹp vì khi triều cao nước đã lan toả vào trong những khu RNM rộng lớn; hệ thống rễ dày đặc cùng với thân cây đã làm giảm tốc độ của dòng triều, tán cây hạn chế tốc độ gió.
Nhưng trong những năm gần đây, do phá hầu hết RNM ở ven biển để đắp bờ làm ruộng sản xuất cây nông nghiệp, đặc biệt là việc đắp những dãy bờ lớn để làm đầm tôm quảng canh làm thu hẹp phạm vi phân bố của nước triều ở ven biển, cửa sông. Do đó mà nước mặn theo dòng triều lên, được gió mùa hỗ trợ đã theo các dòng sông vào sâu trong đất liền với tốc độ lớn.
Nước mặn vào sâu kèm theo sóng đã gây ra xói lở bờ sông và các chân đê. Mặt khác nước mặn sẽ thẩm thấu qua thân đê vào đồng ruộng khiến cho năng suất bị giảm, tình trạng thiếu nước ngọt đã ảnh hưởng đến sản xuất và sử dụng trong sinh hoạt.
Tác dụng của RNM trong việc bảo vệ bờ biển, đê biển
Từ đầu thế kỷ trước, nhân dân ở các vùng ven biển phía Bắc đã biết trồng một số loài cây ngập mặn như trang ( Kandelia obovata) và bần chua ( Sonneratia caseolaris) để bảo vệ đê biển và vùng cửa sông. Mặc dầu thời kỳ đó đê chưa được bê tông hoá và xây kè như bây giờ nhưng nhiều đê không bị vỡ khi có bão vừa (cấp 6 – 8). Đó là nhờ các vành đai rộng RNM chắn sóng, thảm cỏ và dây leo dày đặc trên mái đê bảo vệ cho đê không bị xói lở. Mặt khác thân đê được đắp bằng loại đất thịt và nén chặt, không có tình trạng độn đê bằng cát và cành lá cây. Các đồng cói được chuyển sang nuôi tôm xuất khẩu và phần lớn diện tích RNM chống sóng còn lại dọc ven biển Việt Nam đã biến thành các loại đầm tôm, đầm cua.
Một số địa phương thực hiện nghiêm túc chương trình trồng rừng của Chính phủ và các tổ chức phi chính phủ (NGO) thì đê điều, đồng ruộng được bảo vệ tốt. Tháng 9 năm 2000, cơn bão số 4 (Wukong) với sức gió 89 – 102 km/giờ đổ bộ vào huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh, nhờ các dải RNM trồng ở 9 xã vùng nước lợ nên hệ thống đê sông Nghèn không bị hư hỏng. Nhân dân thị xã Hà Tĩnh có nhận xét: Nếu không được Quỹ Cứu trợ Nhi đồng Anh (SCF – UK) giúp đỡ trồng RNM thì đê Đồng Môn đã bị vỡ và thị xã Hà Tĩnh đã bị ngập sâu, thiệt hại do cơn bão này sẽ khôn lường.
Tháng 7 năm 1996, khi cơn bão số 2 (Frankie) với sức gió 103 – 117 km/giờ đổ bộ vào huyện Thái Thuỵ, tỉnh Thái Bình nhờ có các dải RNM rộng nên đê biển, bờ nhiều đầm không bị hỏng. Trong lúc huyện Tiền Hải do phá phần lớn RNM nên hầu hết các bờ đầm đều bị xói lở hoặc bị vỡ. Năm 2005 vùng ven biển huyện Thái Thuỵ - Thái Bình tuy không nằm trong tâm bão số 7 (Damrey) nhưng sóng cao ở sông Trà Lý đã làm sạt lở hơn 200 m đê nơi không có RNM thôn Tân Bồi xã Thái Đô trong lúc phần lớn tuyến đê có RNM ở xã này không bị sạt lở vì thảm cây dày đặc đã là giảm mạnh cường độ sóng. Qua khảo sát ở một số địa phương có RNM phòng hộ nguyên vẹn như một số xã ở Đồ Sơn (Hải Phòng), Thái Đô (Thái Bình), Giao Thuỷ (Nam Định), Hậu Lộc (Thanh Hoá) thì những nơi này đê biển hầu như không bị sạt lở trong cơn bão số 2, 6 và 7.
-----
(*)Trung Tâm Nghiên cứu Hệ sinh thái Rừng ngập mặn.
(**) Trường Đại học Hải Phòng.








