Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 13/12/2010 18:40 (GMT+7)

Sử dụng chất thải của quá trình sản xuất và tái chế chất thải xây dựng để sản xuất gạch không nung

Để sản xuất ra 40 tỷ viên gạch nung từ nay đến 2020 phải tiêu tốn 60 triệu tấn than. Riêng năm 2020 phải sử dụng 63 triệu tấn than. Việc sản xuất gạch nung, đặc biệt là lò đứng thủ công thải ra khí quyển lượng lớn khí CO2, SO2 độc hại ảnh hưởng lớn đến môi trường sống, sức khỏe.

Nhằm giảm thiểu tác động môi trường do sản xuất gạch nung gây ra, mới đây Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định số 121/2008 ngày 29/8/2009, phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển vật liệu xây dựng đến năm 2020. Trong phần định hướng Quy hoạch phát triển vật liệu xây dựng không nung đến năm 2020 đã xác định:

Phát triển sản xuất và tái chế chất thải xây dựng vật liệu xây dựng không nung từ các nguyên liệu như xi măng, đá mạt, cát và tro xỉ nhiệt điện, theo hướng công nghệ hiện đại quy mô lớn, kích thích lớn và nhẹ để thay thế dần gạch xây sản xuất từ đất sét nung.

Tỷ lệ gạch không nung trong tổng số gạch xây đến năm 2010 chiếm 10-15%; năm 2015 chiếm 20-25%; năm 2020 chiếm 30-40% tổng số gạch xây sản xuất trong nước. Gạch không nung dần thay thế gạch nung, từng bước khắc phục ô nhiễm môi trường, giảm dần sử dụng tài nguyên đất sét và than cho việc sản xuất gạch nung.

Ngay từ giữa thế kỷ XX, trước áp lực tận thu tài nguyên, giảm thiểu ô nhiễm môi trường của bãi thải và các nhà máy tuyển than, các nhà khoa học trên thế giới đã triển khai nghiên cứu các tính chất cơ bản của đá xít, so sánh với đất sét chế biến sản xuất thử nghiệm gạch từ nguồn đá xít thải. Kết quả đã cho thấy gạch được sản xuất từ đá xít thải có chất lượng tương đương so với gạch sản xuất từ đất sét và có thể sử dụng cho các công trình xây dựng công nghiệp, giao thông và dân dụng. Do giá thành sản xuất gạch từ đá xít thải là tương đối cao, nhưng để ưu tiên giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường, tận thu và tiết kiệm tài nguyên, chính phủ nhiều nước trên thế giới đã ban hành các chính sách hỗ trợ về miễn giảm thuế và khuyến khích sử dụng gạch được sản xuất từ đá xít thải các nhà máy tuyển than.

Ở CHLB Nga: Công nghệ sản xuất từ nguyên liệu đá xít thải đã được áp dụng tại các nhà máy tuyển than Abasebxki, Karagandiski, Novokuznheski vùng Luski. Thành phần khoáng vật chủ yểu có trong đá xít thải gồm: Sio2 51,41%; Al2O3 16,36%; Fe2O3 8,37% MKN 22,57%. Sản phẩm gạch có độ bền nén 110 – 120 kg/cm2 được cung cấp cho công ty xây dựng dân dụng và công nghiệp.

Ở CH Pháp, Occidental Industries (OCI) là công ty nổi tiếng thế giới về chuyển giao công nghệ sản xuất gạch từ xít thải. Với nguyên liệu đá xít có thành phần cỡ hạt 0 – 0,5mm chiếm tỷ lệ hơn 80% và độ tro từ 90-92%, sản phẩm gạch được sản xuất theo công nghệ OCI có độ bền nén đến 300 kg/cm2.

Trung Quốc là nước triển khai áp dụng rộng rãi công nghệ sản xuất gạch từ xít thải. Ngay từ năm 1990, Trung Quốc đã chủ trương phát triển công nghệ sản xuất vật liệu xây dựng từ xít thải với khẩu hiệu: “sản xuất gạch không cần đất sét, đốt gạch không cần than”. Hiện nay, có 3 trung tâm chuyên tư vấn chuyển giao công nghệ sản xuất gạch từ xít thải mỏ ở Bắc Kinh, Hắc Long và Sơn Đông. Các nhà máy sản xuất gạch từ xít thải nổi tiếng như Hao Tai, Long Quan ở Bắc Kinh có công suất 50 triệu viên/năm. Chất lượng gạch có độ bền nén đạt từ 250-300 kg/cm2. Giá thành sản xuất khoảng 0,2 – 0,3 nhân dân tệ/viên (2)

Những lợi ích tái chế vật liệu xây dựng cũng như tro xỉ làm gạch không nung:

Giảm thiểu chất thải thông qua việc tái sử dụng, tái chế và hay giảm nguyên liệu.

Kéo dài tuổi thọ của các bãi chôn lấp thông qua việc giảm thiểu lượng chất thải chôn lấp;

Giảm chi phỉ vận chuyển;

Nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng và giúp tiết kiệm năng lượng; vì thế giảm phát thải liên quan đến việc tạo ra những nguyên liệu này.

Cung cấp một số giải pháp tạo ra lợi nhuận và có chi phí thấp hơn so với việc trực tiếp chôn lấp chất thải xây dựng:

Chi phí có khả năng thấp hơn hay không phải trả cho việc chôn lấp;

Là một nguồn doanh thu cho việc bán hay tái sử dụng vật liệu xây dựng (3)

Đối với nhà máy nhiệt điện:

Khi có xưởng tuyển, tro xỉ của nhà máy nhiệt điện sẽ được xử lý ngay tại đầu nguồn thải. Tro xỉ nguyên khai được phân tuyển thành xỉ don, tro tuyển và than tuyển trong môi trường nước, không phát tán bụi vào môi trường. Các nguy cơ gây ô nhiễm môi trường bị hạn chế và kiểm soát được.

Việc xử lý sản phẩm truyển sẽ thuận lợi hơn rất nhiều so với khi chưa được tuyển. Sẽ có quy định chặt chẽ cho việc vận chuyển sản phẩm tro tuyển và than tuyển đến nơi tiêu thụ và bảo quản sản phẩm, kiểm soát triệt để nguồn phế thải này.

Với ưu điểm và hiệu quả kinh tế kỹ thuật trong sản xuất, sử dụng vật liệu không nung như tiết kiệm năng lượng, đất canh tác, bảo vệ môi trường, an ninh xã hội được đẩy mạnh sẽ làm thay đổi thói quen sử dụng vật liệu xây dựng của người tiêu dùng. Chắc chắn sản phẩm gạch không nung sẽ có bước phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới.

Sử dụng gạch xây không nung (bê tông nhẹ, bê tông chưng áp sản xuất từ tro xỉ) cho nhà cao tầng có hiệu quả kinh tế khá cao. Trong hỗn hợp này (tro tuyển, xi măng, vôi, thạch cao, bột nhôm), thành phần chính, chiếm đến 70% khối lượng. Nhu cầu tro tuyển đạt chất lượng để cung ứng cho thị trường sản xuất gạch không nung, gạch bê tông nhẹ và bê tông chịu áp là rất lớn.

Nguồn của các chất thải dùng cho sản xuất gạch không nung.

Chất thải ra từ:

Việc phá dỡ các kết cấu cũ và xuống cấp;

Xây dựng các tòa nhà mới;

Đào đường nhựa;

Các hoạt động bao gồm: nhà văn phòng, nhà ở, đường xá, cầu, hệ thống tàu điện ngầm…

Một phần của dòng chất thải này được trộn lẫn vào dòng chất thải sinh hoạt làm nó kềnh càng, chiếm diện tích trong các bãi chôn lấp, và giảm lượng chất thải có thể xử lý bằng phương pháp vi sinh hoặc công nghệ thu hồi năng lượng.

Tại các nhà máy nhiệt điện sử dụng than, trong quá trình đốt tạo ra lượng tro và xỉ rất lớn, chiếm khoảng 30% đến 35% lượng than sử dụng. Trong đó khoảng 20% xỉ hình thành rơi xuống đáy lò thành xỉ đáy lò còn gọi là xỉ don, phần còn lại khoảng 80% theo khói lò gọi là tro bay.

Các chất thải không gây ô nhiễm môi trường có thể sử dụng làm nguyên liệu để sản xuất vật liệu xây dựng như xỉ lò cao luyện gang thép, phế thải sản xuất gạch ngói và sành sứ, thủy tinh…

Khi sản xuất H2SO4 từ pyrit, xỉ than của quá trình nung thiêu pyrit chủ yếu là sắt nâu có thể dùng làm phụ gia cho sản xuất xi măng.

Đất đá khai thác hầm lò có kích thước và độ cứng nhất định có thể tận dụng làm vật liệu xây dựng hoặc làm đường giao thông hoặc các quặng thải không chứa các nguyên tố độc hại gây ô nhiễm môi trường có thể dùng để sản xuất các vật liệu xây dựng.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.
Phát huy vai trò nòng cốt của trí thức KH&CN tỉnh Cà Mau
Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031 tổ chức thành công thực sự đã mở ra một không gian mới để hội tụ sức mạnh, tâm huyết và trí tuệ của đội ngũ trí thức tỉnh nhà, định hình con đường kiến tạo và phát triển trong kỷ nguyên mới của đất nước.
Công bố Quyết định bổ nhiệm Giám đốc, Tổng biên tập Nhà xuất bản Tri thức
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức Hội nghị Công bố quyết định về công tác cán bộ. Tại hội nghị, TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã trao Quyết định bổ nhiệm bà Bùi Thị Thu Hằng, Phó Giám đốc phụ trách, Phó Tổng biên tập NXB Tri thức giữ chức vụ Giám đốc, Tổng biên tập NXB Tri thức.