Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 18/11/2010 20:40 (GMT+7)

Sáu nguyên nhân gây nên tình trạng hạn hán và thiếu nước trên lưu vực sông Hồng

Một là,mùa mưa năm 2009 kết thúc sớm, lượng mưa ở Bắc Bộ ít, nhiều ngày không mưa, nắng nóng kéo dài gây nên tình trạng cạn kiệt dòng chảy, thiếu nước trên lưu vực sông Hồng trong những tháng mùa khô 2009 - 2010. Ngay trong mùa lũ năm 2009, từ tháng 6 đến tháng 8 lượng mưa đã thiếu hụt nhiều so với trung bình nhiều năm (TBNN) nên đỉnh lũ năm các sông đều thấp hơn nhiều so với TBNN, phổ biến chỉ ở mức báo động 1, báo động 2.

Mùa mưa năm 2009 kết thúc sớm, lượng mưa ít, nhiều ngày không mưa kéo dài.

Do tác động của hiện tượng Elnino, tổng lượng mưa từ tháng 8/2009 đến tháng 2/2010 đo được tại các trạm chính ở Bắc Bộ đều thiếu hụt từ 70-90% so với TBNN, có nơi hoàn toàn không mưa; đặc biệt, có nơi thiếu hụt nhiều như tại Sa Pa, Hà Giang, Phú Thọ, Hòa Bình, Tên Yên, Phù Liễn (từ 500 đến trên 600mm).

Nền nhiệt độ các tháng mùa khô 2009 - 2010 cao hơn trung bình nhiều năm từ 2 đến 3,8 0C, nắng nóng kéo dài.

Nền nhiệt độ các tháng đều rất cao, đều vượt TBNN, đặc biệt, tại khu vực Hoàng Liên Sơn, nhiệt độ trung bình các tháng đầu năm 2010 đều cao hơn TBNN từ 2 đến 3,8 0C. Nhiệt độ không khí cao làm tăng lượng bốc hơi từ mặt đất, thảm thực vật, hồ ao làm tổn thất dòng chảy lớn, nhất là dòng chảy ngầm; lượng trữ ẩm trong đất giảm nhanh, gây hạn nông nghiệp, ảnh hưởng lớn đến cây trồng, sản xuất nông nghiệp.

Hai là, hoạt động của các nhà máy thủy điện phía Trung Quốc đã làm biến đổi chế độ dòng chảy phía Việt Nam, làm căng thẳng thêm tình trạng cạn kiệt, thiếu nước trên các sông trong mùa cạn 2009-2010.

Tại các địa điểm Đoàn kiểm tra đến làm việc, người dân địa phương cho biết mực nước sông lên xuống trong ngày, thông thường thấp vào buổi sáng, cao vào khoảng 4 giờ chiều. Tại công trình thủy điện Sơn La có hiện tượng nước dao động lên xuống rất nhanh với biên độ khoảng 10 - 20 cm trong vòng 2-3 tiếng, giống như hiện tượng nước thủy triều lên xuống. Tại tỉnh Lai Châu, trên dòng chính sông Đà và trên sông nhánh Nậm Na, mực nước dao động rất mạnh trong ngày, chênh lệch vệt nước để lại trên bờ lên tới 2 m. Tại Hà Giang, nước sông Lô dao động với biên độ khoảng 0,5m, là hiện tượng chưa từng xảy ra vào những năm trước đây. Nước sông Đà tại Mường Tè trở nên trong hơn nhiều so với trước đây do các hồ chứa Trung Quốc đã giữ lại phù sa, làm ảnh hưởng tới đời sống thủy sinh và các nguồn lợi thủy sản. Đại diện lãnh đạo, các cơ quan chức năng của tỉnh Lai Châu, Hà Giang, Lào Cai và các nhà máy thủy điện Hòa Bình, Sơn La đều có chung nhận xét rằng các nhà máy thủy điện phía Trung Quốc đã tích nước phía thượng nguồn sông Hồng nhưng lại không xả nước vào những thời điểm Việt Nam cần nước, làm cho việc sử dụng nước của Việt Nam trở nên bị phụ thuộc nhiều hơn vào Trung Quốc, làm ảnh hưởng đến an ninh nguồn nước của Việt Nam.

Ba là, chất lượng rừng không cao là một trong những nguyên nhân làm cạn kiệt sông, suối trong mùa khô.

Các tỉnh Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang đều cho rằng trong những năm gần đây, mặc dù hàng năm tỷ lệ che phủ rừng ở nhiều địa phương tăng lên nhưng chất lượng rừng không cao, chủ yếu là các rừng thưa, rừng nghèo. Diện tích rừng nguyên sinh, rừng nhiều tầng rừng phòng hộ đầu nguồn và các loại rừng có khả năng giữ nước, sinh thủy đã giảm sút, làm mất đi khả năng giữ nước tại vùng đầu nguồn, khi có mưa, nước sông lên nhanh, sau mưa vài ngày sông cạn nước, trong mùa khô các mó nước ngày càng ít. Rất nhiều dòng sông hiện nay đã hoàn toàn không có nước trong mùa khô, không giống những năm trước đây sông vẫn có nước liên tục, thậm chí có thể chèo thuyền đi lại được trong mùa khô.

Bốn là, các hồ chứa lớn trên sông Hồng xả nước và tích nước chưa hợp lý.

Trong mùa khô, các nhà máy thủy điện Hòa Bình, Tuyên Quang, Thác Bà vận hành theo yêu cầu của hệ thống điện, chưa quan tâm đầy đủ tới hạ lưu. Lưu lượng xả từ các hồ chứa quá nhỏ kết hợp với thời kỳ triều kém là nguyên nhân trực tiếp làm cho mực nước sông Hồng xuống mức 10 cm thấp nhất trong lịch sử vào 19 giờ ngày 21/02/2010.

Hiện nay, các nhà máy thủy điện Hòa Bình, Tuyên Quang, Thác Bà vận hành theo sự điều hành của Trung tâm điều độ điện quốc gia để đáp ứng yêu cầu của hệ thống điện: khi cần phát điện nhiều thì xả qua tuốc bin nhiều, khi phát điện ít thì xả ít. Chế độ vận hành theo yêu cầu điện như vậy đã tạo nên chế độ dao động dòng chảy bất thường ở hạ du, tạo ra những sóng xả âm (nước chảy ngược, giảm lưu lượng đột ngột), làm giảm mạnh mực nước ở hạ lưu, tạo dao động mực nước lên xuống rõ rệt từ 0,5 đến 1m ở hạ lưu, gia tăng tình trạng thiếu nước ở hạ du, nhất là vào các thời điểm các hồ chứa phát điện tối thiểu trùng với kỳ thủy triều kém.

Hiện tại, lưu lượng xả nhỏ nhất từ các nhà máy thủy điện nhỏ hơn rất nhiều so với lưu lượng nhỏ nhất đã xảy ra trong tự nhiên nên không bảo đảm duy trì dòng chảy tối thiểu cần thiết cho hạ du. Ví dụ, trước đây, khi chưa có hồ Tuyên Quang, lưu lượng nhỏ nhất quan trắc được tại đây (vị trí Na Hang) từ 1964 đến 2005 là 31 m3/s (tháng 8/1995) và lưu lượng nhỏ nhất trong các tháng 2, 3, 4, 5 tương ứng là 52, 38, 38, 37m3/s; trong khi đó quy trình vận hành của Công ty thủy điện Tuyên Quang quy định lưu lượng xả nhỏ nhất để đảm bảo dòng chảy môi trường phía hạ lưu công trình là 10m3/s, tức là nhỏ hơn 1/3 lưu lượng nhỏ nhất trong tự nhiên. Thực tế, nhiều ngày trong tháng 02/2010 nhà máy thủy điện Tuyên Quang chỉ xả khoảng 4 - 5 m3/s, rõ ràng một cách nhân tạo làm ảnh hưởng lớn tới chế độ dòng chảy ở hạ du mà trong điều kiện tự nhiên chưa bao giờ xảy ra.

Ngoài ra, dòng nước sau các hồ chứa vào mùa kiệt đều trong hơn do lượng phù sa lắng đọng ở thượng lưu nên gây xói lở, sạt bờ, làm biến hình ở các lòng sông hạ lưu như hiện tượng sạt lở ven sông ở Phú Thọ, Sơn Tây...

Mặt khác, các nhà máy thủy điện tích nước muộn vào cuối mùa lũ nên đã không tích đủ nước trong mùa khô. Trong mùa khô năm 2009 - 2010, các hồ chứa Hòa Bình, Tuyên Quang, Thác Bà đều đã không tích được đầy nước. Mực nước hồ Hòa Bình cao nhất chỉ ở mức 116,44 m - thấp hơn mực nước dâng bình thường (MNDBT) là 0,56 m; hồ Tuyên Quang 107,60 m (thấp hơn MNDBT là 12,4 m): hồ Thác Bà 53,4 m (thấp hơn MNDBT là 4,6 m). Bên cạnh nguyên nhân là lượng nước đến các hồ nhỏ, việc các hồ tích nước muộn cũng là nguyên nhân làm cho các hồ không tích được đủ nước trong mùa khô năm 2009 - 2010. Hiện nay, thời kỳ tích nước của các hồ phụ thuộc vào thời gian kết thúc mùa lũ chính vụ và lũ muộn được quy định trong Quy trình vận hành liên hồ chứa thủy điện Hòa Bình, Tuyên Quang, Thác Bà trong mùa lũ hàng năm đã được Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 80/2007/QD-TTG.

Thực tế vận hành những năm qua cho thấy, nếu các hồ tích nước theo đúng quy trình này là quá muộn để tích được đầy nước hồ trong điều kiện chế độ dòng chảy đã thay đổi do biến đổi khí hậu và do tác động của các hồ chứa phía Trung Quốc. Các hồ chứa Trung Quốc thường tích nước sớm hơn các hồ chứa phía Việt Nam, khoảng giữa tháng 7 (ở nước ta từ 20/8). Dòng chảy thượng nguồn tới sông Đà và sông Lô có khả năng giảm, mùa cạn có khả năng đến nhanh hơn.

Năm là, nước ngầm - nguồn cấp nước cho sông trong mùa khô bị suy giảm do khai thác quá mức.

Nước ngầm là nguồn cấp nước quan trọng cho sông trong mùa khô. Hiện nay, do bị khai thác quá mức, mực nước ngầm ở nhiều nơi đã bị hạ thấp nghiêm trọng. Tại Hà Nội, mực nước ngầm đang giảm xấp xỉ 1m/năm. Mặc dù chưa thể định lượng được mức độ ảnh hưởng của việc suy giảm mực nước ngầm đối với lượng nước sông trong mùa kiệt do không có các số liệu cụ thể, nhưng về mặt định tính có thể thấy rằng sự suy giảm nguồn nước ngầm đã góp phần làm gia tăng tình trạng cạn kiệt nước sông trong mùa khô.

Sáu là, đáy sông bị hạ thấp có thể là một trong những nguyên nhân làm gia tăng tình trạng mực nước sông ngày càng thấp đi.

Đường quan hệ mực nước - lưu lượng H~Q trong mùa kiệt các năm gần đây đều dịch sang bên phải; nghĩa là cùng một mực nước tại Hà Nội nhưng năm sau cần một lưu lượng lớn hơn năm trước. Ví dụ: ở mực nước 2,2m tại Hà Nội năm 2004 tương ứng với lưu lượng là 860 m 3/s; nhưng các năm 2005 - 2008 tương ứng tăng dần là 920, 935, 1.130, 1.140 m 3/s. Nguyên nhân của việc hạ thấp đáy sông có thể là do tác động của hệ thống hồ chứa thượng nguồn đã giữ lại phù sa bồi đắp sông, do việc khai thác cát trên sông hoặc nạo vét lòng sông.

Những giải pháp kiến nghị thực hiện.

Tình trạng cạn kiệt, thiếu nước trên lưu vực sông Hồng đang diễn ra hàng năm với mức độ ngày càng nghiêm trọng hơn. Liên tiếp từ năm 2000 đến nay, hàng năm mực nước sông Hồng tại Hà Nội đều đạt những trị số thấp nhất trong lịch sử. Nếu không có các giải pháp thích hợp thì trong những năm tới đây, sông Hồng sẽ còn tiếp tục lập thêm những kỷ lục cạn kiệt mới. Để từng bước giảm nhẹ, khắc phục tình trạng cạn kiệt và thiếu nước trên lưu vực sông Hồng, trước mắt cần thực hiện các giải pháp sau đây:

Tăng cường giám sát nguồn nước từ nước ngoài chảy vào Việt Nam và giám sát việc khai thác, sử dụng nước, đặc biệt là ở hạ du các hồ chứa. Trước mắt, cần cấp bách trang bị thiết bị quan trắc mực nước tự động tại các trạm sát biên giới Trung Quốc: M­ường Tè, Hà Giang, Lào Cai và hạ d­u sông Hồng tại Sơn Tây, Hà Nội. Hiện nay, các trạm này đang quan trắc thủ công và chịu tác động mạnh mẽ điều tiếtcáchồ chứa phía Trung Quốc, đặc biệt trong mùa cạn, biên độ dao động mực nư­ớc trong ngày rất lớn có khi gần 1-1,5m.

Thay đổi chế độ vận hành xả nư­ớc và tích nước của các hồ chứa: Trong mùa lũ, trong điều kiện nguồn nước biến động bất th­ường do tác động của biến đổi khí hậu và tác động của việc sử dụng nư­ớc phía Trung Quốc, cần xem xét tích n­ước các hồ sớm hơn vào cuối mùa lũ để có thể tích đ­ược đầy nư­ớc các hồ. Trong mùa kiệt, cần xây dựng chế độ vận hành của các hồ hợp lý, hài hòa giữa yêu cầu phát điện và các nhu cầu nư­ớc khác dư­ới hạ du và phù hợp với chế độ đòng chảy th­ượng nguồn và hạ du các hồ chứa. Đối với thời kỳ cấp nư­ớc, cầnkếthợp lợi dụng thời kỳ triều cư­ờng kết hợp với việc tăng xả nư­ớc của các hồ chứa để đảm bảo các công trìnhlấyđ­ược nư­ớc đểtướivà tránh n­ước xả chảy nhanh ra biển.

Ngoài việc tăng độ che phủ, cần quan tâm đến chất l­ượng rừng, chú ý trồng các loại cây có khả năng giữ nư­ớc, sinh thủy trong mùa khô.

Thực hiện các biện pháp bảo vệ và khôi phục nguồn n­ước ngầm đang bị suy giảm nhằm tăng nguồn cấp nư­ớc cho sông trong mùa khô.

Sử dụng n­ước hiệu quả hơn bằng cách thay đổi cơ cấu sử dụng nư­ớc, thực hiện các biện pháp sử dụng tiết kiệm n­ước.

Tăng c­ường hợp tác với Trung Quốc trong việc trao đổi số liệu khí t­ượng, thủy văn trong mùa kiệt và số liệu, quy trình vận hành các hồ chứa ở thư­ợng nguồn phía Trung Quốc.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Công bố Quyết định của Bộ Chính trị về công tác tổ chức và cán bộ
Sáng 1/4, tại Hà Nội, Bộ Chính trị tổ chức hội nghị công bố Quyết định của Bộ Chính trị về công tác tổ chức và cán bộ đối với 5 cơ quan. Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính dự hội nghị. Đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư trao các quyết định và phát biểu ý kiến chỉ đạo.
Tổng Bí thư Tô Lâm trao Huân chương Quân công hạng nhất và Huy hiệu Đảng tặng các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo
Chiều 30/3, tại trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã dự lễ trao Huân chương Quân công hạng nhất và Huy hiệu Đảng tặng Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ.
Đổi mới công tác tư vấn, phản biện: “Chìa khóa” để phát huy vai trò của đội ngũ trí thức
Giới chuyên môn nhận định, chuyển đổi số và AI sẽ tạo bước đột phá cho công tác tư vấn, phản biện nhờ sự giao thoa giữa trí tuệ chuyên gia, sức mạnh dữ liệu cùng các công cụ phân tích hiện đại. Tuy nhiên, thực tế hoạt động tư vấn phản biện hiện chưa theo kịp yêu cầu, đòi hỏi cấp thiết phải làm chủ các nền tảng số và phương pháp phân tích hiện đại để thu hẹp khoảng cách giữa tiềm năng và thực tiễn.
Hội thảo khoa học quốc gia “Phát triển kinh tế tư nhân ở Hải Phòng trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước”
Ngày 27/3/2026, tại Trường Đại học Hải Phòng đã diễn ra Hội thảo khoa học quốc gia với chủ đề: “Phát triển kinh tế tư nhân ở Hải Phòng trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước”. Hội thảo do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố, Trường Đại học Hải Phòng, Đại học Phenikaa, Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng đồng tổ chức.
Phú Thọ: Hội nghị tuyên truyền pháp luật và kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp
Ngày 28/3/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ phối hợp với Hội Luật gia tỉnh tổ chức Hội nghị tuyên truyền pháp luật và kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031.
Đắk Lắk: Ths. Đoàn Văn Thanh và Ths. Lê Văn Dần được bầu giữ chức Phó Chủ tịch Liên hiệp Hội
Chiều ngày 26/3/ 2026, tại Hội trường cơ quan, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh (Liên hiệp Hội) Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) với ba nội dung: Thực hiện quy trình công tác cán bộ; Sơ kết công tác quý I, triển khai nhiệm vụ công tác quý II và Trao quyết định công nhận tổ chức thành viên mới.
Gia Lai: Đánh giá kết quả bước đầu thực hiện Dự án Sa nhân tím
Ngày 25/3/2026, xã Bình Phú, tỉnh Gia Lai, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Gia Lai phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức Hội nghị sơ kết giữa kỳ Dự án “Hỗ trợ phát triển vùng nguyên liệu cây dược liệu sa nhân dưới tán rừng cho cộng đồng dân tộc thiểu số góp phần cải thiện sinh kế người dân, bảo tồn hệ sinh thái rừng, thích ứng biến đổi khí hậu tại xã Bình Phú, tỉnh Gia Lai”.
Hội Điều dưỡng Hải Phòng nâng cao chất lượng điều dưỡng, hướng tới sự hài lòng người bệnh
Ngày 25/3/2026, tại Bệnh viện Kiến An, Hội Điều dưỡng thành phố Hải Phòng tổ chức Đại hội Đại biểu lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031. Đại hội đánh dấu bước chuyển quan trọng sau khi hợp nhất Hội Điều dưỡng Hải Phòng và Hội Điều dưỡng Hải Dương trước đây, tạo nền tảng thống nhất, đồng bộ trong phát triển công tác điều dưỡng trên địa bàn thành phố.
Đảng ủy VUSTA trang trọng tổ chức Lễ trao tặng Huy hiệu Đảng và Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ (mở rộng)
Ngày 27/3, Đảng bộ Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) đã tổ chức Lễ trao tặng Huy hiệu Đảng đợt 03/02/2026 và Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ (mở rộng). Sự kiện không chỉ là dịp ghi nhận những cống hiến của các đảng viên lão thành mà còn là diễn đàn quan trọng đánh giá kết quả công tác Quý I, nhiệm vụ trọng tâm Quý II/2026 của Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam.