Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 28/06/2013 22:40 (GMT+7)

“Phong cách Chánh Lộ” trong lịch sử điêu khắc Chăm

Thật ra, việc thu thập những tác phẩm điêu khắc Chăm đã bắt đầu từ những năm cuối thế kỷ XIX bởi một số người Pháp yêu thích khảo cổ học, quan tâm đến nền văn hoá Chăm, đặc biệt là những người làm việc tại EFEO và những đồng nghiệp Việt Nam. Một bức ảnh chụp vào đầu thế kỷ XX cho thấy địa điểm được chọn để tập trung các hiện vật là một gò đất có nhiều cây lớn, rải rác đây đó ngoài trời là các mảng bệ thờ, tượng đá. Đến những năm đầu thế kỷ XX, một số hiện vật điêu khắc Chăm đã được chuyển đi Pháp, một số khác được chuyển đến các bảo tàng tại Hà Nội và Sài Gòn, tuy vậy phần lớn những tác phẩm tiêu biểu vẫn lưu lại Đà Nẵng, cho đến hiện nay.

Ý tưởng về xây dựng một nhà bảo tàng cho các tác phẩm điêu khắc Chăm đã manh nha từ năm 1902 với một đề án của Khoa Khảo cổ thuộc EFEO. Quá trình xây dựng đề án và vận động để đề án được thực hiện có sự đóng góp lớn của kiến trúc sư – chuyên gia khảo cổ Henri Parmentier, một trong những người đầu tiên tiến hành sưu tầm, nghiên cứu di sản văn hoá Chăm một cách có hệ thống và khoa học.

Vào khoảng những năm 1950-1960, bảo tàng được mở rộng theo đồ án của kiến trúc sư Nguyễn Bá Lăng, tăng thêm các sảnh trưng bày, song vẫn bắt nhịp với kiến trúc tổng thể, mang phong cách Gothique, hài hoà vào không gian xung quanh. Sau lần cải tạo và mở rộng vào năm 2002, bảo tàng có tổng diện tích gần 7 ngàn m 2, trong đó phần trưng bày chiếm 2 ngàn m 2, giới thiệu khoảng 500 hiện vật nghệ thuật, phân theo các gian tương ứng với các khu vực địa lý nơi chúng được phát hiện, gồm 4 phòng (Mỹ Sơn, Trà Kiệu, Đồng Dương, Tháp Mẫn) và 6 hành lang (Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Kon Tum, Quảng Bình và Bình Định). Hiện nay Bảo tàng điêu khắc Chăm là một điểm tham quan thu hút nhiều nhà nghiên cứu và du khách trong và ngoài nước khi đến Đà Nẵng.

Hành lang Quảng Ngãi tại Bảo tàng này trưng bày 14 hiện vật niên đại từ cuối thế kỷ X đến giữa thế kỷ XI, hầu hết được khai quật và mang về từ Chánh Lộ và một số địa phương khác của tỉnh Quảng Ngãi. Cũng xin nhắc lại rằng, Chánh Lộ là tên người đời đặt cho một cụm phế tháp Chăm, nằm trong khu vực làng Chánh Lộ, nay thuộc phường Trần Phú – thành phố Quảng Ngãi. Tháp đã bị đổ nát từ lâu và đến năm 1904 thì được H. Parmentier khai quật và tìm thấy khoảng 100 hiện vật có dáng dấp của một phong cách nghệ thuật riêng mà về sau nhà nghệ thuật học và nghiên cứu Chăm J. Boisselier gọi là “phong cách Chánh Lộ” mang những đặc điểm chuyển tiếp giữa phong cách Mỹ Sơn A1 và phong cách Tháp Mẫm trong dòng chảy kiến trúc – điêu khắc Chăm. Tượng thần Uma, phù điêu Sarasvarti và tượng nữ thần Laksmi là ba hiện vật rất đáng lưu ý ở hành lang Quảng Ngãi.

Tượng nữ thần Uma cao 84cm, rộng 23cm, chất liệu đá sa thạch, có niên đại khoảng thế kỷ X, tìm thấy ở làng Đông Phước, nay thuộc xã Bình Thanh Tây, huyện Bình Sơn, năm 1901. Đây là một tượng tròn, tư thế đứng thẳng. Khi mới phát hiện, tượng đã bị mất 2 cánh tay và 2 bàn chân, đến khoảng trước năm 1972, phần đầu cũng bị mất. Tuy vậy, pho tượng vẫn toát lên vẻ đẹp nữ tính, quyến rũ và duyên dáng, hai bầu vú tràn đầy sức sống với ba nếp nhăn ước lệ bên dưới, liền với phần bụng. Phần thân dưới của nữ thần khoác chiếc sarong đặc biệt, có hai lớp với nhiều chi tiết trang trí phong phú, tinh tế, chạy từ thắt lưng xuống mắt cá chân.

Uma (còn có nhiều tên gọi khác như: Parvati, Durga, Sati, Gauri, Chamunda và Kali) là vợ của thần Siva và là vị nữ thần vừa phức tạp vừa có quyền lực cao nhất trong số các vị nữ thần của Ấn Độ giáo. Henry Parmentier đãm iêu tả khá kỹ về bức tượng này trong tác phẩm Cathalogue Le musée de Cam de Tourane (1919), khi tuyệt tác chưa bị mất phần đầu. Bảo tàng Chăm Đà Nẵng ghi chú xuất xứ pho tượng ở làng “Đông Phúc” là chưa thật chính xác; có lẽ đọc nhầm âm Hán Việt trong các bản ghi chép Hán tự hoá tên làng này.

Phù điêu Sarasvati là một hiện vật có giá trị, cao 100cm, rộng 91cm, chất liệu đá sa thạch, niên đại ước khoảng thế kỷ XI, tìm thấy trong cuộc khai quật Chánh Lộ năm 1904. Sarasvati là nữ thần tri thức, âm nhạc và nghệ thuật, vợ của thần Brahma. Nữ thần thường xuất hiện trong tranh, tượng nghệ thuật và thần thoại với phong cách duyên dáng, giàu nữ tính, cưỡi trên lưng ngỗng Hamsa hoặc ngồi trên một đài sen, có bốn vật báu cầm tay gồm: quyển sách (biểu tượng của văn chương, học thuật), đàn vina (biểu tượng cho sự am tường nghệ thuật), chuỗi tràng hạt pha lê (biểu tượng cho sức mạnh tinh thần) và lọ nước thiêng (biểu tượng của năng lực sáng tạo và sự thanh tẩy). Sarasvati còn là nữ thần của sông ngòi, tượng trưng cho sự màu mỡ và thịnh vượng.

Tác phẩm trưng bày tại bảo tàng là một tấm lá nhỏ hình lá đề có chóp nhọn, thể hiện nữ thần trong tư thế múa tribhanga, chân khuỳnh, hông nhếch, ngực và bụng ưỡn về phía trước, dáng điệu mềm mại, uyển chuyển. Nữ thần đeo vòng cổ với nhiều chiếc liên tiếp nhau, chiếc trong cùng có đáy hình trái tim chạm đến khe sâu giữa hai bầu vú đầy đặn, nhưng phía dưới không có ngấn như thường thấy. Khoác trên mình nữ thần là một sampot ngắn, trang trí nhiều hoa, vạt trước dài, xếp thành nhiều nếp, buông mềm mại theo những nét uốn lượn của thân thể. Thần đội kirita ba tầng trên đầu, tai đeo nhiều vòng trang sức, khóe miệng có hai lúm sâu như thể mỉm cười.

Tượng nữ thần Laksmi (thế kỷ XI), tìm thấy ở làng Phú Nhơn, nay thuộc thị trấn Sơn Tịnh, huyện Sơn Tịnh. Tác phẩm có chiều cao 96cm, rộng 42cm, tạo tác bằng đá sa thạch, đứng thẳng trên một đế hình vuông, lưng tựa vào giá đỡ hình cung tròn hai ngấn, từ đỉnh đầu xuống đến vai thắt lại thành hình chiếc lá đề, phần dưới vuốt xuôi cân đối dọc theo thân thể. Nét mặt nữ thần nghiêm trang, mắt khép hờ, chân mày giao nhau, tai dài nhưng không đeo trang sức, tóc búi cao hai tầng. Chiếc cổ hai ngấn của nữ thần không mang vòng trang trí như thể kín đáo khoe vẻ đẹp đầy đặn, hợp với đôi ngực vun tròn. Phía dưới vú là những ngấn ước lệ, cho thấy vòng eo thon gọn. Đôi tay Laksmi buông theo thân mình, bên trái cầm chiếc lọ nhỏ, bên phải cầm búp sen non. Nữ thần mặc váy chấm đến cổ chân, để trơn, không trang trí, nhưng lại gợi lên vòng ba đầy đặn.

Laksmi (cũng có khi mang tên Sri) là vị thần của vận may, sức khoẻ, sắc đẹp và thịnh vượng, vì thế người ta thờ cúng nàng để cầu mong có được phú quý, sung túc và giàu sang. Nàng là vợ của Vishnu, và là mẹ của Kama - thần tình yêu, nhục cảm. Trong nghệ thuật Ấn Độ, Laksmi thường được thể hiện qua hình tượng một phụ nữ xinh đẹp, có hai hoặc bốn tay, đứng hoặc ngồi trên một đoá hoa sen - biểu tượng của vẻ đẹp tinh thần thuần tuý và tinh khiết. Theo truyền thuyết, nữ thần Laksmi sinh ra từ biển. Khi các vị thần khuấy biển sữa, nàng nổi lên từ bọt biển sáng ngời, tay cầm đoá hoa sen - một trong 14 vật quý nhất được sinh ra trong cuộc khuấy biển sữa vĩ đại này. Tại bảo tàng, tên làng tìm thấy pho tượng cũng ghi nhầm thành “Phú Nhân” (đúng phải là Phú Nhơn), nguyên nhân cũng giống như trường hợp tượng Uma Đông Phước. Nhầm lẫn này khá phổ biến, vì hiện tượng “đồng âm dị nghĩa” trong vốn tự vựng Hán Việt, đặc biệt là ở Đàng Trong, khi các âm Nhơn/Nhân khi ghi chép bằng Hán tự chỉ là một con chữ, tương tự trường hợp Phước/Phúc.

Ngoài 3 hiện vật mà cũng là 3 tác phẩm nghệ thuật độc đáo kể trên, hành lang Quảng Ngãi tại Bảo tàng Chăm Đà Nẵng còn trưng bày 3 bức phù điêu bằng đá sa thạch, thu hút sự chú ý của khách tham quan và các nhà nghiên cứu, đó là phù điêu Parvati, phù điêu Brahma và phù điêu Vishnu.

Phù điêu Parvati, cao 164cm, rộng 162cm, tìm thấy ở khu phế tháp Chăm Chánh Lộ, nhưng đến năm 1938 mới đưa về bảo tàng. Tác phẩm thể hiện nữ thần có 4 tay (một đôi chính và một đôi phụ), đang múa, chân khuỳnh ra. Tay phải chính cầm búp sen, có cuống dài uốn lượn đưa lên ngang tay; tay phải chính gập vào hông, cổ tay xoay ra ngoài, ngón cái và ngón giữa chạm nhau, tạo thành vòng tròn. Đầu nữ thần đội lá nhọn hình mũi lao, tóc búi cao, thắt lại ở giữa, dáng vẻ khuôn mặt tươi vui, cánh mũi cân xứng, cằm xẻ sâu ở giữa, chân mày dài, mềm mại nhưng không giao nhau. Nữ thần có khuôn ngực phì nhiêu, cổ đeo vòng trang trí có 5 viên ngọc lớn, mình khoác sampot có thân trước buông dài đến bàn chân.

Theo Ấn Độ giáo, Parvarti là nữ thần núi, còn có tên khác là Durgo, thần núi tuyết Hymalaya… Nữ thần là người vợ yêu dấu của thần Shiva, từng bị đày xuống trần gian, sống trong gia đình của một người đánh cá nghèo khổ.

Phù điêu Brahma, cao 83cm, phát hiện năm 1904 tại Khu phế tháp Chánh Lộ, có niên đại khoảng thế kỷ XI. Đây là một trong ba tác phẩm thể hiện thần Brahma hiện có tại Bảo tàng Chăm Đà Nẵng. Phù điêu còn có dạng thô, chưa kịp hoàn tất, với hình tượng thần Brahma 3 đầu, khuôn mặt đầy đặn, hai tay có đeo vòng, cầm hai búp sen non tựa nhẹ trên đầu gối. Cả 3 đầu của vị thần đội chung một chiếc nón chóp, hai đầu tả hữu trông hơi nghiêng.

Brahma, cùng với Vishnu và Shiva là ba vị thần ở vị trí tối thượng của Ấn Độ giáo. Thần Brahma sáng tạo, định dạng vũ trụ, sinh ra con người cùng muôn vật, đồng thời canh gác và bảo vệ thế giới. Theo truyền thuyết, bốn bộ kinh Veda (Vệ đà) sinh ra từ những chiếc đầu của Brahma, vì vậy thần được xem là biểu tượng của sự thông thái.

Phù điêu Vishnu, phát hiện năm 1904 ở Phú Thọ, vốn là đất có thành Cổ Luỹ của người Chăm, nay thuộc xã Nghĩa Phú, huyện Từ Nghĩa. Tác phẩm cao 72cm, dài 192cm, niên đại ước đoán vào thế kỷ XI, khắc hoạ thần Vishnu trên biển vũ trụ Ananta, thân hình nằm nghiêng trên mình rắn Shesha. Bảy đầu rắn kết thành lọng che đầu vị thần, còn thân rắn uốn lượn theo làn sóng vô biên của biển vũ trụ. Đầu thần Vishnu có búi tóc cao hình trụ tròn,đội mũ mukuta, phía sau có vầng hào quang. Thần có hai đôi tay, một đôi chính và một đôi phụ, với 4 tư thế khác nhau của 4 cánh tay, nhìn thật sinh động và mang nhiều ý nghĩa.

Vishnu, trong thần thoại Ấn Độ, là vị thần bảo tồn, duy trì toàn bộ vũ trụ và các quy tắc của hệ thống dharma. Thần Vishnu có bản tính nhân từ, yêu thương con người và bảo vệ cuộc sống, sẵn sàng hiện xuống hạ giới để diệt loài ngạ quỷ, cứu vớt chúng sinh.

Hành lang Quảng Ngãi tại Bảo tàng Chăm Đà Nẵng là điểm đến không thể thiếu đối với những ai muốn tìm hiểu và nghiên cứu về phong cách Chánh Lộ - một phong cách nghệ thuật độc đáo trong lịch sử điêu khắc và kiến trúc Chăm.

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Liên hiệp Hội Việt Nam hợp tác với doanh nghiệp công nghệ, hiện thực hóa các mục tiêu chuyển đổi số
Ngày 28/9, tại Hà Nội, Lãnh đạo Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã có buổi trao đổi, làm việc với Công ty CP Tập đoàn Truyền thông StarWorld (Starworld Group) về các giải pháp chuyển đổi số, hướng tới xây dựng nền tảng công nghệ khoa học phục vụ chiến lược phát triển của VUSTA trong giai đoạn 2026 - 2031.
Phó Chủ tịch Trương Xuân Lam: Đưa khoa học, công nghệ vào giải quyết những bài toán thực tiễn ngành hàng không
Ngày 26/9, tại Hà Nội, Hội Khoa học và Công nghệ Hàng không Việt Nam tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ VII, nhiệm kỳ 2026-2031. Phát biểu tại Đại hội, GS.TS Trương Xuân Lam, Phó Chủ tịch LHHVN nhấn mạnh yêu cầu Hội tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, tập hợp và phát huy đội ngũ trí thức, đưa KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào giải quyết những vấn đề của ngành hàng không.
Ngày hội Đổi mới sáng tạo quốc gia 2026: Kết nối nguồn lực, thúc đẩy công nghệ
Theo Nghị định số 268/2025/NĐ-CP ngày 14/10/2025 của Chính phủ, ngày 1/10 hằng năm là Ngày hội Đổi mới sáng tạo quốc gia (INNOVATION DAY) do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì. Quy định này nhằm tạo một dấu mốc thường niên để lan tỏa tinh thần đổi mới sáng tạo trong xã hội, đồng thời thúc đẩy ứng dụng, phát triển và thương mại hóa công nghệ.
Liên hiệp Hội Việt Nam tổ chức chương trình làm việc, khảo sát thực tế tại Trung tâm Đa dạng Sinh học Mê Linh
Ngày 25/9, Cơ quan Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã tổ chức chương trình thăm, làm việc và khảo sát thực tế tại Trung tâm Đa dạng Sinh học Mê Linh (thuộc Viện Sinh học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam). Chương trình diễn ra với chủ đề “Trí thức khoa học và công nghệ với bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững”.
Hội Tự động hóa Việt Nam và Đại học Công nghệ Quế Lâm hợp tác tạo cơ hội phát triển công nghệ và chuyển đổi số
Hội Tự động hóa Việt Nam (VAA) và Đại học Công nghệ Quế Lâm (Trung Quốc) ký biên bản ghi nhớ, hướng tới xây dựng phòng thí nghiệm trọng điểm chung về ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số, đồng thời đưa kết quả nghiên cứu vào thử nghiệm, chuyển giao và ứng
Tuyên bố chung về quan hệ Đối tác Chiến lược giữa Việt Nam và Canada
Chuyến thăm cấp Nhà nước tới Canada của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thể hiện cam kết mạnh mẽ của lãnh đạo hai nước trong việc đưa quan hệ song phương bước vào kỷ nguyên mới hợp tác sâu rộng, thực chất và bền vững hơn. Trân trọng giới thiệu toàn văn Tuyên bố chung về quan hệ Đối tác Chiến lược giữa Việt Nam và Canada:
Trung thu – Một miền ký ức
…Tôi cũng không nhớ đã bao lần đón trung thu nữa, thế nhưng mỗi lần tháng Tám về, dắt con đi qua những phố thị đầy ắp đèn hoa, bánh kẹo trong tôi lại ùa về những cảm xúc khỏ tả, một miền ký ức sâu thẳm thân thương biết bao giờ trở lại ….
Kết luận số 83-KL/TW: Chuyển từ lợi thế tài nguyên sang làm chủ công nghệ vật liệu
Ngày 24/9, Ban Tuyên giáo Trung ương và Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp tổ chức Hội thảo tuyên truyền, phổ biến, quán triệt Kết luận số 83-KL/TW của Bộ Chính trị về phát triển công nghiệp vật liệu Việt Nam. Hội thảo tập trung làm rõ định hướng phát triển ngành vật liệu theo hướng làm chủ công nghệ, nâng cao giá trị gia tăng, tăng năng lực tự chủ và sức cạnh tranh.
Đồng chí Nguyễn Phi Long: Các đồng chí được trao tặng Huy hiệu Đảng là tấm gương sáng cho đảng viên, nhà khoa học trẻ
Sáng ngày 24/9, Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) đã trang trọng tổ chức Lễ trao tặng Huy hiệu Đảng đợt 02/9/2026. Đồng chí Nguyễn Phi Long, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương đã đến dự và phát biểu chúc mừng 111 đồng chí được trao tặng Huy hiệu Đảng.
Tư vấn, phản biện Đề án tăng cường hợp tác công - tư và phát triển y tế tư nhân, hiện đại hóa hệ thống y tế Tp. Bắc Ninh
Ngày 23/9/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật TP Bắc Ninh tổ chức Hội thảo tư vấn, phản biện: “Đề án tăng cường hợp tác công - tư và phát triển y tế tư nhân hiện đại hóa hệ thống y tế thành phố Bắc Ninh giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn 2045”.
Hội nghị BCH Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tháng 9/2026: Tập trung hoàn thành các nhiệm vụ trọng tâm cuối năm 2026
Chiều 23/9, Ban Chấp hành Đảng bộ Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ tháng 9/2026, nhằm đánh giá kết quả công tác 9 tháng đầu năm, xác định nhiệm vụ trọng tâm những tháng cuối năm; đồng thời triển khai một số nội dung quan trọng về công tác xây dựng Đảng, tổ chức cán bộ và thực hiện các nhiệm vụ sau Đại hội IX.
GS.VS Châu Văn Minh: Phát huy nguồn lực trí thức, đồng hành cùng Hà Tĩnh giải quyết những bài toán phát triển
Chiều 21/9, GS.VS Châu Văn Minh, Phó Chủ tịch không chuyên trách Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) đã thăm, làm việc với Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Hà Tĩnh (Liên hiệp Hội tỉnh Hà Tĩnh).
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chứng kiến lễ trao tặng kỷ vật "Hồ sơ chứng tích chiến tranh" 2026 tại Hoa Kỳ
Trong khuôn khổ chuyến công tác tham dự Phiên thảo luận chung cấp cao Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 81 và thực hiện các hoạt động song phương tại Hoa Kỳ, chiều 21/9 (theo giờ địa phương), tại thành phố New York, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã gặp những người bạn Hoa Kỳ.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đến New York tham dự Phiên thảo luận cấp cao Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 81
Việc Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tham dự và có bài phát biểu tại Phiên thảo luận cấp cao Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 81 có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh Việt Nam và Liên hợp quốc đang cùng nhau hướng tới kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ.