Người dân góp đất với Công ty để phát triển cây hàng hóa
Ngày 3/5, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu kiến thức bản địa và phát triển đã tổ chức tọa đàm khoa học Người dân góp đất với Công ty để phát triển cây hàng hóa, từ góc nhìn của mô hình góp đất trồng cao su ở Tây Bắc. TS. Nguyễn Lâm Thành - Phó Chủ tịch HĐDT của Quốc hội và TS. Phạm Văn Tân - Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Liên hiệp Hội Việt Nam chủ trì buổi tọa đàm.

Quang cảnh hội thảo
Theo ý kiến của GS.TSKH Nguyễn Ngọc Lung, Viện trưởng Viện Quản lý rừng bền vững Việt Nam cho rằng, cao su là cây công nghiệp dài ngày, có nguồn gốc nhiệt đới, sau 10 năm, lượng mủ không đạt 1 tấn/ha thì có thể khẳng định loại cây này không đạt về lợi ích kinh tế ở Tây Bắc. Rừng cao su hiện nay ở Tây Bắc chỉ có thể coi là rừng phòng hộ, giữ đất chứ không thể khai thác mủ thương mại.
Còn đối với ý kiến của GS. TSKH. Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài Nguyên - Môi trường cho biết, hiện tại, mô hình trồng cao su hiện nay ở Tây Bắc không hiệu quả và người dân cảm thấy bị bỏ rơi. Vì vậy, dù doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh không hiệu quả thì cũng không để người dân phải chịu rủi ro. Theo GS Võ, nhằm tháo gỡ vấn đề vướng mắc hiện nay là hai bên cùng nhau điều chỉnh hợp đồng dưới sự giám sát của chính quyền. Chính quyền tham gia cùng công ty cao su đối thoại trực tiếp với người dân để khắc phục, sao cho cuộc sống của người dân được đảm bảo tốt nhất.
Phát biểu tại tọa đàm, TS. Phạm Văn Tân - Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Liên hiệp Hội Việt Nam đánh giá cao những kết quả bước đầu của mô hình trong cây cao su tại vùng Tây Bắc. Mặc dù hiệu quả kinh tế chưa đạt như mong muốn nhưng đã góp phần phủ xanh đất trống đồi trọc, góp phần bảo vệ môi trường. Ở một số vùng đất đai tốt năng suất mủ cao đã cho thu nhập tương đối cho người dân thì nên phát huy, những vùng kém hiệu quả thì cần nghiên cứu, đánh giá để chuyển đổi mô hình, trồng các loại cây có thu nhập cao hơn cho. Đặc biệt xem xét lại việc góp đất vào các công ty của người dân. Nên chăng nên chuyển đổi thành việc cho thuê đất, doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, lời ăn lỗ chịu, không thể để người dân thiệt thòi như hiện nay.
Được biết, theo báo cáo của nhóm nghiên cứu độc lập, hơn 10 năm qua, khoảng 30.000 ha, chủ yếu là đất canh tác của các hộ đồng bào dân tộc Tây Bắc đã được góp cùng với các công ty cao su thuộc Tập đoàn Công nghiệp Cao su để phát triển các diện tích cao su ở vùng Tây Bắc, tương đương khoảng 30.000 hộ dân, với 120.000 – 150.000 nhân khẩu. Việc phát triển cao su tại Tây Bắc được chính quyền và người dân đặt nhiều kỳ vọng, cả về kinh tế, xã hội và môi trường, đặc biệt là nguồn thu từ mủ cao su sẽ góp phần xóa đói giảm nghèo cho các hộ đồng bào vùng Tây Bắc. Theo dự kiến, các lợi ích này sẽ trở thành hiện thực sau 7-8 năm kể từ khi trồng, khi cây cao su bắt đầu cho thu mủ.
Theo kết quả khảo sát 399 hộ tại Sơn La, có 15% số hộ góp trên 80% diện tích đất canh tác của mình vào mô hình, 17% số hộ góp 60-80% diện tích đất canh tác, 44% góp 40-60% diện tích. Song lợi ích mà hộ thu được thực tế từ cao su đến nay thấp hơn nhiều so với lợi ích mà hộ thu được từ các loại cây hàng năm như lúa, ngô, sắn mà hộ trồng trên cùng các diện tích trước khi góp với công ty để trồng cao su. Cụ thể, kết quả của khảo sát cho thấy đến nay bình quân mỗi hộ tham gia mô hình nhận được trên dưới 500.000, tương đương dưới 2-3% thu nhập từ các loại cây trồng như ngô và sắn với diện tích tương đương. Khoảng 75% số hộ tham gia Khảo sát cho rằng thu nhập của hộ giảm so với trước khi tham gia góp đất trồng cao su.








