Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 06/02/2007 00:20 (GMT+7)

Mô hình thống nhất tương tác 3 - 3 - 1

1.                  Mở đầu

Một trong những thành công lớn nhất của vật lý học thế kỷ 20 là mô hình chuẩn thống nhất tương tác điện từ - yếu (mẫu Weinberg – Salam) và tương tác mạnh (sắc động lực học lượng tử - QCD). Về mặt lý thuyết nhóm, mô hình chuẩn dựa trên nhóm SU(3) C SU(2) L U(1) Y(.), nên người ta còn gọi là nhóm 3 - 2 - 1. Mô hình chuẩn đã có những thành công rực rỡ, các tiên đoán của nó đã được kiểm chứng ở tất cả các phòng thí nghiệm vật lý năng lượng cao trên toàn thế giới trong vòng ba mươi năm qua. Thành công của mô hình chuẩn chỉ ra những nguyên lý cơ bản của vật lý hạt sơ cấp: đó là nguyên lý chuẩn và cơ chế phá vỡ đối xứng tự phát cho ta cách sinh khối lượng của các hạt cơ bản. Dưới đây trình bày sơ lược về mô hình chuẩn v e, v μ, v τgồm mẫu Weinberg - Salam và sắc động lực học lượng tử.

2.                  Mẫu Weinberg – Salam

Hiện nay, vật lý học coi các hạt cơ bản gồm các lepton sau: electron e, muon μ, tauon τ và các nơtron tương ứng của chúng v e, v μ, v τ.Ngoài các lepton, các quark cũng là các hạt cơ bản. Các quark gồm u, d, c, s, t, b. Tất cả các hạt nêu trên có một đặc điểm chung là chúng đều có spin ½, nên được gọi là các spinơ. Đây chính là các trường vật chất. Một trong những đặc điểm rất quan trọng đã dược thực nghiệm kiểm chứng: đó là các spinơ được tách ra thành các hạt phân cực trái (L) và phân cực phải (R) thông qua các toán tử chiếu P L= (1 – γ 5)/2, P R= (1 + γ 5)/2. Cụ thể electron trái (left) được định nghĩa như sau: e L= P Le, còn electron phải (right) e R= P Re. Thực nghiệm đã chỉ ra rằng chỉ có nơtrino trái ν L. Người ta phân các hạt cơ bản thành ba thế hệ như sau:

1. thế hệ 1: e, ν e, u, d

2. thế hệ 2: μ, ν μ, c, s

3. thế hệ 3: τ, ν τ, t, b

Mẫu Weinberg – Salam dựa trên nhóm đối xứng chuẩn SU(2) L U(1) Y(.). Siêu tích yếu Y(.) liên hệ với điện tích theo công thức dạng Gell – Mann – Okubo

                       (1)

Công thức này áp dụng cho tất cả các hạt chứ không phải chỉ cho hađron như trong đối xứng spin đồng vị. Người ta nhận thấy rằng về mặt vật lý thì ba thế hệ là tương đương, có nghĩa là chúng có tương tác tương tự nhau. Vì vậy ta chỉ cần xét chi tiết một thế hệ, các hệ quả sẽ tự động áp dụng cho các thế hệ khác.

Người ta xếp các hạt trái vào lưỡng tuyến của nhóm SU(2) L, còn các hạt phải là đơn tuyến của nhóm đó. Cụ thể đối với thế hệ 1:

                    (2)

Mô hình này có bốn trường chuẩn (ba của nhóm SU(2) Lvà một của U(1) Y(.))tạo thành các hạt vật lý gồm photon, hạt trung hoà Z và hạt mang điện W ±. Đây là những trường truyền tương tác: photon truyên tương tác điện từ, ba trường còn lại truyền tương tác yếu. Vì tương tác yếu là tương tác tầm ngắn, nên các hạt truyền tương tác Z, W ±phải có khối lượng khá lớn. Cách sắp xếp các trường vật chất như trong (2) làm cho chúng không thể có khối lượng, vì số hạng khối lượng

(3)

không bất biến với biến đổi chuẩn. Hơn nữa đối xứng chuẩn cũng không cho phép các trường chuẩn có khối lượng. Đây là những điều mâu thuẫn với thực nghiệm. Rất may là những khó khăn trên được giải quyết một cách hoàn chỉnh bởi cơ chế Higgs hay còn gọi là cơ chế phá vỡ đối xứng tự phát.

Để thực hiện điều này, người ta đưa vào một lưỡng tuyến trường vô hướng Higgs

                             (4)

Khi trường trung hoà φ 0có trung bình chân không khác không, hay nói cách khác nó không phải là trường vật lý. Trường vật lý có trung bình chân không bằng không có mối liên hệ như sau

φ 0= ν + ф 0νl                            (5)

Khi đó các trường chuẩn sẽ có khối lượng qua việc chúng ăn các boson Goldstone - trường Higgs không khối lượng. Còn các trường vật chất: electron, các quark thu được khối lượng qua tương tác Yukawa. Thực nghiệm đã đo được khối lượng của các boson chuẩn Z, W ±với độ chính xác rất cao. Một đặc điểm lý thú nữa, mô hình thu được là lý thuyết tái chuẩn hoá được, nên nó cho phép các tính toán nhiễu loạn với độ chính xác rất cao (chi tiết xem [1]).

3.                  Sắc động lực học lượng tử

Theo mô hình quark của Gell – Mann, các hađron được cấu thành từ các quark spin 1/2 với điện tích phân số: quark u có điện tích 2/3 còn quark d có điện tích -1/3. Trong sơ đồ này, hạt baryon N ++với spin 3/2 cấu tạo từ ba quark uuu. Hơn nữa ba quark này còn có spin cùng hướng. Như vậy có sự vi phạm nguyên lý Pauli. Để giải quyết khó khăn này, người ta phải gán cho các quark bậc tự do màu, hay nói khác đi, quark có ba mà, gọi là quark đỏ (red) q r, quark vàng (yellow) q y, và quark xanh (green) q g. Như vậy ta có 18 quark chứ không phải 6 quark. Lý thuyết chuẩn xây dựng trên nhóm SU(3) Ctrong đó các quark mầu thực hiện biểu diễn cơ sở được gọi là sắc động lực học lượng tử. Một trong những tính chất rất lạ thường của QCD chính là tính tiệm cận tự do: khi các quark ở gần nhau thì tương tác giữa chúng trở nên yếu đi. Khi khoảng cách rất nhỏ thì chúng không tương tác với nhau – đây chính là các pacton của Feynman. Điều này trái ngược với tương tác điện từ và hấp dẫn. Cũng có thể suy ngược lại là khi các quark càng ở xa nhau thì tương tác giữa chúng càng trở nên rất mạnh – như vậy ta không thể kéo các quark ra khỏi túi của nó. Người ta gọi đây là hiện tường cầm tù. Tuy nhiên về mặt lý thuyết người ta chưa chứng minh được điều này. Sự cầm tù của các quark vẫn là câu hỏi trong vật lý cơ bản.

Cần nói thêm rằng tính tiệm cận tự do cho phép lý thuyết nhiễu loạn có thể áp dụng được cho tương tác mạnh tại năng lượng cao, bởi vì khi đó hằng số tương tác mạnh nhỏ hơn 1. Tuy nhiên tính tiệm cận tự do phụ thuộc vào số lượng các quark hay là số thế hệ các quark. Nếu số thế hệ lớn hơn 5, khi đó sẽ không còn tính tiệm cận tự do quý giá của QCD cho phép ta tính toán với độ chính xác rất tốt các quá trình vật lý năng lượng cao.

Tuy mô hình chuẩn có nhiều thành công rực rỡ, nhưng nó cũng chứa những tồn tại sau đây: (1) nơtrino trong mẫu chuẩn không có khối lượng, nhưng thí nghiệm Super K ở Nhật Bản đã chứng tỏ nó phải có khối lượng. (2) Mẫu chuẩn không thể giải thích được tại sao có ba thế hệ. (3) Khối lượng của quark đỉnh ≈ 175 GeV khá xa so với sự chờ đợi cỡ 10 GeV. Các khó khăn trên được giải quyết tốt trong mô hình mở rộng dựa trên nhóm SU(3) C U(1) Xgọi tắt là mô hình 3 - 3 - 1.

4.                  Mô hình 3 - 3 - 1

Sau khi xây dựng mô hình thống nhất điện yếu, người ta đã nghĩ đến sự mở rộng từ SU(2) L U(1) Y(.)thành SU(3) L U(1) X. Do hạn chế về thông tin về các hạt cơ bản trong những năm 70 của thế kỷ trước nên mô hình mở rộng chỉ được hoàn thiện vào năm 1994 bởi Pisano, Pleitez và Frampton [2]. Trong mô hình này, phản lepton trái (tương đương với lepton phải) nằm trong tam tuyến của nhóm SU(3) L, nên không cần lepton ngoại lai (exotic). Vì vậy mô hình có tên là mô hình tối thiểu. Trong mô hình này không có nơtrino phân cực phải và năm 1994 Foot, Long và Tran đã đề xuất mô hình 3 - 3 - 1 với nơtrino phân cực phải [3]. Một số nghiên cứu gần đây cho thấy mô hình tối thiểu mất tính nhiễu loạn ở năng lượng cỡ một chục TeV. Vì vậy chúng tôi sẽ trình bầy mô hình với nơtrino phân cực phải.

Các lepton trong mô hình này được sắp xếp như sau:

f aL= (ν aL, ℓ aL, N aL) T~ (1, 3, -1/3), ℓ aR~ (1, 1, -1),                  (6)

trong đó a = 1, 2, 3 là chỉ số thế hệ và nơtrino phân cực phải tương đương với nơtrono phân cực trái: N L≡ (ν R) C. Các số trong móc đơn trong (6) chỉ số thành phần tương ứng trong đa tuyến của nhóm SU(3) C, SU(3) Lvà tích X. Để không có dị thường trục thì số tam tuyến phải bằng số phản tam tuyến. Do vậy có một thế hệ các quark biến đổi giống tam tuyến lepton và hai thế hệ kia sẽ trong phản tam tuyến. Qua nghiên cứu dòng trung hoà thay đổi số lạ, chúng tôi đã chỉ ra rằng thế hệ quark khác biệt kia chính là thế hệ thứ ba của các quark: t, b. Do vậy

Q αL= (d αL, -u αL, D αL) T~ (3, , 0), α = 1, 2,                             (7)

Q 3L= (u 3L,d 3L, T R) T~ (3, 3, 1/3), T R~ (3, 1, 2/3),                   (8)

D νR~ (3, 1, -1/3), u aR~ (3, 1, 2/3), d aR~ (3, 1, -1/3), a = 1, 2, 3.        (9)

Các kết quả thực nghiệm gần đây cho thấy thế hệ thứ ba của các quark có các tính chất vật lý khác hai thế hệ đầu. Ví dụ sự vi phạm số baryon lớn hơn, vi phạm CP cũng xảy ra trong rã của các meson B. Ta thấy trong mô hình này có ba quark ngoại lai có điện tích giống điện tích của các quark thông thường: quark T có điện tích 2/3, còn các quark D 1và D 2có điện tích -1/3. Nói chung mô hình này đòi hỏi số thế hệ phải là bội của 3, kết hợp với điều kiện tiệm cận tự do ta có số thế hệ phải là 3. Để cho các lepton và các quark có khối lượng, ta cần ba tam tuyến Higgs:

ρ = (ρ +1, ρ 02, ρ +3) T~ (1, 3, 2/3),

η = (η 01, η -2, η 03) T, χ = (χ 01, χ -2, χ 03) T~ (1m 3m -1/3).

Chín trường chuẩn của mô hình này chứa bốn boson của mô hình chuẩn và 5 boson mới gồm: Z, Y ±, X 0, X *0. Các boson X, Y là các bilepton mang số lepton ±2. Chúng sẽ cho ta các quá trình thay đổi số fecmion thế hệ. Khối lượng của các boson chuẩn mới được đánh giá cỡ 1 TeV. Tương tác của các trường chuẩn và sự sinh ra chúng trong các máy gia tốc được trình bày trong [4].

Tóm lại: Mô hình 3 - 3 - 1 cho ta câu trả lời về số thế hệ, sự khác biệt của thế hệ thứ ba của các quark và vật lý mới ở thang năng lượng không quá cao cỡ TeV. Vì vậy các tiên đoán của chúng sẽ được kiểm chứng trong các máy gia tốc thế hệ mới sắp hoạt động.

Tồn tại nhiều hướng mở rộng mô hình này như siêu đối xứng hoá, mở rộng không - thời gian. Mô hình 3 - 3 - 1 còn là mô hình vật lý đầu tiên chứa thành phần thoả mãn chất của vật chất tối tự tưong tác. Nhiều đặc tính lý thú của mô hình vẫn đang được tiếp tục nghiên cứu, như sự lượng tử hoá điện tích, khối lượng của nơtrino và sự chuyển hoá của chúng.

Tài liệu: 1. Hoàng Ngọc Long, Nhập môn lý thuyết trường và mô hình thống nhất tương tác điện yếu, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội (2003). 2. F. Pisano and V. Pleitez, Phys. Rev. D46 (1992) 2889; R. Foot, O.F. Hernandez, 3. R. Foot, H.N. Long and Tuan A. Tran, Phys. Rev. D50 (1996) 4691. 4. H.N. Long and D.V. Soa, Nucl. Phys. B601 (2001) 361.


Nguồn: T/c Vật lý ngày nay, số 5, 10 - 2005, tr. 22

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Liên hiệp Hội các tỉnh, thành phố: Phát huy hiệu quả nguồn lực trí tuệ giải quyết các bài toán thực tiễn tại địa phương
Hoạt động của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật các tỉnh, thành phố thời gian qua ngày càng bám sát yêu cầu phát triển và những vấn đề đặt ra từ thực tiễn. Thông qua tư vấn, phản biện chính sách, chuyển giao khoa học công nghệ, phổ biến kiến thức, đội ngũ trí thức đã có nhiều đóng góp thiết thực, góp phần đưa tri thức khoa học vào đời sống, phục vụ phát triển KH-XH tại địa phương.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề xuất mạng lưới “Không gian vì Phát triển và Khả năng chống chịu”
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã nêu 5 nguyên tắc quản trị đa phương với không gian vũ trụ, kêu gọi không đe dọa hoặc sử dụng vũ lực, đặt con người và Trái Đất ở trung tâm, đồng thời sẵn sàng làm điểm kết nối cho Đông Nam Á trong hợp tác quốc tế về không gian vũ trụ.
Bắc Ninh: Tháo gỡ vướng mắc trong tổ chức các hội thi, cuộc thi
Ngày 08/9, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh đã tổ chức Tọa đàm “Nghị quyết số 25/2026/NQ-HĐND – Từ quy định đến thực tiễn tổ chức các hội thi, cuộc thi sáng tạo do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Bắc Ninh tham mưu, chủ trì”. Ông Nguyễn Hồng Sơn- Phó Chủ tịch Liên hiệp hội tỉnh chủ trì hội nghị.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm kết thúc tốt đẹp chuyến thăm cấp Nhà nước tới Liên bang Nga
Theo đặc phái viên TTXVN, tối 9/9 (giờ địa phương), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng Phu nhân và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam rời thủ đô Moskva kết thúc tốt đẹp chuyến thăm cấp Nhà nước tới Liên bang Nga (từ ngày 7-9/9/2026) và tiếp tục thăm chính thức Cộng hòa Pháp, dự Hội nghị Thượng đỉnh Không gian vũ trụ tại Paris từ ngày 9 -12/9/2026.
Tuyên bố chung về củng cố hơn nữa quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam- Nga
Nhân chuyến thăm cấp Nhà nước của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng Phu nhân và Đoàn Đại biểu cấp cao Việt Nam tới Liên bang Nga từ ngày 7-9/9, hai bên đã ra Tuyên bố chung về việc củng cố hơn nữa quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Nga trong giai đoạn mới. Ban Biên tập vusta.vn trân trọng giới thiệu toàn văn Tuyên bố chung:
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm hội đàm với Tổng thống Nga Vladimir Putin
Trong khuôn khổ chuyến thăm cấp Nhà nước tới Liên bang Nga, ngày 9/9/2026, tại Điện Kremlin, sau Lễ đón trọng thị với nghi thức cấp nhà nước, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tô Lâm đã hội đàm với Tổng thống Nga Vladimir Putin.
Hải Phòng: Sáp nhập Hội Làm vườn và Hội Kế hoạch hóa gia đình về Liên hiệp hội Thành phố
Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng vừa ban hành Quyết định số 3494/QĐ-UBND ngày 29/8/2026 về việc cho phép sáp nhập Hội Làm vườn thành phố Hải Phòng và Hội Kế hoạch hóa gia đình thành phố Hải Phòng vào Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp Hội) thành phố Hải Phòng.
Thanh Hoá: Tập huấn công nghệ số và ứng dụng số trong sản xuất và đời sống
Ngày 08/9, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Thanh Hóa (Liên hiệp hội tỉnh) đã phối hợp với Hội Tin học Thanh Hóa và Trường Đại học Hồng Đức tổ chức Hội nghị tập huấn với chủ đề “Công nghệ số và ứng dụng số cho công dân xuất sắc và tiêu biểu trong lao động và sản xuất trên địa bàn tỉnh”.