Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 15/11/2010 18:54 (GMT+7)

Lựa chọn mô hình đánh giá chất lượng môi trường

Chất lượng môi trường: Là yếu tố rất quan trọng của sự sống, nó đáp ứng nhu cầu cơ bản của con người (sống), điều đó khẳng định vai trò quan trọng của chất lượng môi trường.

Quá trình lao động sản xuất của con người tác động vào tự nhiên làm cho các vật thể tự nhiên trở nên phù hợp hơn với nhu cầu sử dụng của con người. Hành động đó của con người diễn ra trong một không gian cụ thể và theo một thời gian nhất định, như vậy chất lượng môi trường là điều kiện cần cho lao động sản xuất.

Mọi quá trình sản xuất bao giờ cũng đồng thời là quá trình tái sản xuất. Trong quá trình lao động, các yếu tố sản xuất đều bị hao mòn đi cần phải bù đắp lại để quá trình sản xuất tiếp tục được thực hiện. Chính vì vậy, chất lượng môi trường trong quá trình lao động sản xuất cũng bị hao phí (giảm sút chất lượng) nên nó cũng cần phải tái sản xuất, đó là một tất yếu khách quan của sản xuất.

Trong nền văn minh công nghiệp, mức độ khai thác tài nguyên thiên nhiên rất mạnh mẽ, nhiều về số lượng và chủng loại, tốc độ phục hồi môi trường không kịp vạn sự khai thác các thành phần môi trường của con người. Động cơ thúc đẩy sản xuất hàng hoá là lợi nhuận, lợi nhuận càng cao thì càng đứng vững trong thị trường cạnh tranh, điều đó thôi thúc các nhà sản xuất hạ thấp chi phí, nên chất lượng môi trường dễ dàng bị bỏ qua.

Để bù đắp lại sự giảm sút về chất lượng môi trường, xét về mặt kinh tế, mỗi quá trình tái sản xuất đều phải có đầu tư, chi phí. Chi phí môi trường có tính chất xã hội, đó là những chi phí rất lớn, do đó để hạn chế chi phí môi trường, các quốc gia trên thế giới đã tìm nhiều biện pháp hạn chế chi phí bằng các giải pháp khác nhau như luật lệ, thuế khoá, khuyến khích bằng trợ cấp hoặc phạt bằng tiền.

Những năm gần đây, trên thế giới đã xuất hiện mạnh mẽ ngành kinh tế dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu đời sống tinh thần và chăm lo sức khỏe cho cộng đồng. Những lợi ích do chất lượng môi trường mang lại đã trở thành địa bàn kinh doanh của ngành dịch vụ, đồng thời tồn tại với ngành công nghiệp và nông nghiệp. Nói khác đi, khi ngành dịch vụ trở thành một ngành kinh tế thì chất lượng môi trường trở thành đối tượng tiêu dùng và sản xuất, nó trở thành một loại hàng hoá vì nó có thị trường tiêu thụ.

Với tư cách là chi phí đầu vào của quá trình sản xuất, chất lượng môi trường phải được tính đúng, tính đủ như các yếu tố quá trình sản xuất khác, coi như đó là cái giá phải trả cho việc sử dụng chất lượng môi trường tốt hay những lợi ích môi trường đã bị tiêu dùng quá mức cần phải được bù đắp.

Với tư cách là chi phí đầu ra trong điều kiện thị trường cạnh tranh, giá cả của hàng hoá và dịch vụ phải bảo đảm chi phí để tái sản xuất chất lượng môi trường, nghĩa là không chỉ làm cho chất lượng môi trường không những khôi phục như cũ mà còn tốt hơn lên.

Tóm lại: Khi sản xuất phát triển ở trình độ cao thì tái sản xuất chất lượng môi trường được đặt ra như một yếu tố khách quan để cho quá trình sản xuất được liên tục, đó là điều kiện cần để duy trì lợi ích môi trường.

Đặc điểm của chất lượng môi trường:

Về giá trị sử dụng: Chất lượng môi trường nhờ vào các thuộc tính vật lý, hoá học, sinh học vốn có của nó (tính chất vật chất của đất, nước, không khí...), do đó việc tiêu dùng chất lượng môi trường là điều không thể thiếu trong đời sống xã hội. Tuy vậy, về giá trị sử dụng của chất lượng môi trường thể hiện ở một số điểm khác biệt sau: Mang tính cộng đồng cao, tính xã hội tuyệt đối; vừa là đầu vào (tư liệu sản xuất) vừa là đầu ra (tư liệu tiêu dùng), vừa là nguyên liệu vừa là nhiên liệu của mọi quá trình sản xuất từ giản đơn đến phức tạp; tính đặc thù rất cơ bản của chất lượng môi trường trong quá trình sử dụng khó có thể phân định được. Vì vậy xét trên tính đặc thù này chất lượng môi trường là hàng hoá công cộng.

Về giá trị: Chất lượng môi trường được xác định bằng thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra nó, nó kết tinh cả lao động cụ thể và lao động trừu tượng: Lao động cụ thể tạo ra giá trị sử dụng chất lượng môi trường, phải có hao phí sức lực của con người mới có chất lượng môi trường mong muốn. Giá trị chất lượng môi trường được quyết định bởi lao động trừu tượng. Vậy, chất giá trị chất lượng môi trường là lao động trừu tượng.

Về lượng giá trị chất lượng môi trường được đo bằng lượng thời gian lao động xã hội cần thiết và nó được lượng hoá theo quy tắc: Tỷ lệ thuận với số lượng lao động và tỷ lệ nghịch với năng suất lao động. Nếu con người có nhiều phương pháp làm sạch môi trường, nhiều phương tiện làm sạch môi trường thì chất lượng môi trường càng cao.

Mô hình đánh giá hàng hoá chất lượng môi trường

Xem xét trên hình 1 ta thấy, khi đặt giá một tài nguyên môi trường hoặc hàng hoá nào đó nếu ở mức E'(Q,P) và mức E (Q*,P*) thì sự khác biệt về quyền quyết định "sản xuất bao nhiêu" làm cho cung cấp hàng hoá là vô hiệu quả.

Trong nhiều trường hợp, một tài nguyên môi trường có thể cung cấp các loại dịch vụ trái ngược nhau. Chẳng hạn, một vùng đất hoang dã có thể được sử dụng vào những mục đích giải trí mà không hề bị xâm phạm, hoặc khai thác cho mục đích thương mại thông qua việc khai thác gỗ. Mâu thuẫn trong việc sử dụng đất đã trở nên ngày càng nghiêm trọng trong hơn hai thập kỷ qua. Ở nhiều nước, đặc biệt là ở những nước đang phát triển, chúng ta thấy mâu thuẫn giữa lợi ích của sự phát triển và lợi ích của sự bảo tồn môi trường đã trở nên nghiêm trọng. Sự lựa chọn là không thể tránh khỏi liên quan đến các tài nguyên môi trường nên chúng ta cần phải có một tiêu chí để làm tiêu chuẩn cho việc chọn lựa trong việc xem xét tác động môi trường của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Tiêu chí sử dụng ở đây là phải cân bằng giữa lợi ích và chi phí kinh tế biên có tính xã hội Q*: MSB = MSC hoặc cân bằng giữa chi phí giảm thải biên và chi phí thiệt hại biên W*: MAC = MDC.

Tiêu chí này buộc chúng ta phải định ra giá trị tiền mặt của các loại hình dịch vụ mà lợi ích các tài nguyên môi trường đem lại. Chúng ta phải định ra được mức độ lợi ích và các chi phí trong việc sử dụng các tài nguyên môi trường để định ra mức độ sử dụng tối ưu.

Đánh giá giá trị của chất lượng môi trường, người ta xem xét các mặt sau:

Tổng giá trị kinh tế của tài nguyên môi trường. Lý tưởng nhất là chúng ta có thể sử dụng một phương pháp mà đánh giá được cả giá trị sử dụng lẫn giá trị không sử dụng.

Lợi ích thu được từ sự thay đổi (tăng lên hay giảm đi) của chất lượng môi trường người ta thường sử dụng 2 phương pháp sau để đánh giá những lợi ích thu được từ việc cải tạo chất lượng môi trường: Thứ nhất, đánh giá trực tiếp thông qua sự giảm xuống của những thiệt hại về môi trường. Với phương pháp này ta có thể tính được hàm số thiệt hại cận biên. Thứ hai, đánh giá các loại lợi ích (chính sách, bằng lòng chấp nhận (WTA), sẵn sàng chi trả (WTP)) gián tiếp (giá trị của sức khoẻ con người được đánh giá thông qua các chi phí bỏ qua; giá trị cuộc sống của con người được tính bằng tỷ lệ dương; giá trị của chất lượng môi trường được tính bằng giá nhà hay còn gọi là định giá khả quan; sự trong lành của môi trường được đánh giá thông qua chi phí đi lại) hoặc trực tiếp (đánh giá ngẫu nhiên). Với phương pháp này, ta tính được hàm số cầu.

Đánh giá hàng hoá chất lượng môi trường, người ta thường sử dụng phương pháp đánh giá giá trị lợi ích gián tiếp và trực tiếp.

Phương pháp gián tiếp: Phương pháp này được dựa trên sự lựa chọn của cá nhân. Số liệu sẵn có chứa đựng những thông tin về sự lựa chọn của các cá nhân dựa vào tầm quan trọng của môi trường. Phương pháp này được tìm ra từ những giá trị của các thị trường liên quan như thị trường bất động sản, chi phí cho hoạt động giải trí hay mức đền bù thoả đáng để các cá nhân sẵn sàng chấp nhận mạo hiểm. Sự ưu đãi hay WTP của một cá nhân đối với hàng hoá môi trường được thể hiện qua WTP của họ đối với các loại hàng hoá liên quan gián tiếp đến môi trường. Phương pháp đánh giá gián tiếp áp dụng cho từng cá nhân và ước lượng tổng số WTP và WTA sử dụng giá trị gián tiếp.

Phương pháp trực tiếp: Là nhằm tính giá trị lợi ích các nguồn tài nguyên môi trường bằng cách nghiên cứu thái độ của người dân sẽ như thế nào khi chất lượng môi trường thay đổi (lựa chọn thành phố, nhà trong thành phố, nghề nghiệp, hoạt động giải trí).

Các phương pháp đánh giá giá trị bằng cách sử dụng phương pháp trực tiếp nên dựa trên việc đặt ra các câu hỏi mang tính giả thiết cho từng cá nhân hơn là xem xét sự lựa chọn thực sự của bản thân họ.

Đánh giá trực tiếp còn có thể dựa trên cơ sở những chi phí bỏ ra cho khắc phục môi trường có thề nhìn thấy được.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.
Phát huy vai trò nòng cốt của trí thức KH&CN tỉnh Cà Mau
Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031 tổ chức thành công thực sự đã mở ra một không gian mới để hội tụ sức mạnh, tâm huyết và trí tuệ của đội ngũ trí thức tỉnh nhà, định hình con đường kiến tạo và phát triển trong kỷ nguyên mới của đất nước.
Công bố Quyết định bổ nhiệm Giám đốc, Tổng biên tập Nhà xuất bản Tri thức
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức Hội nghị Công bố quyết định về công tác cán bộ. Tại hội nghị, TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã trao Quyết định bổ nhiệm bà Bùi Thị Thu Hằng, Phó Giám đốc phụ trách, Phó Tổng biên tập NXB Tri thức giữ chức vụ Giám đốc, Tổng biên tập NXB Tri thức.