Lịch sử và văn hóa Việt Nam – Tiếp cận bộ phận của GS. Phan Huy Lê
Tuy nhiên, sự trường tồn của quốc gia không chỉ dựa vào khả năng dựng nước và giữ nước (1) trong suốt mười thế kỷ bị sáp nhập thành quận huyện (2) trong hệ thống cai trị của Bắc triều mà còn phải luôn luôn gắn bó với ý chí bảo tồn cá tính dân tộc bằng mọi cách, mặc dù sức hút của nền văn hoá, ngôn ngữ Trung Quốc và sự xâm nhập sâu đậm của ý thức hệ Khổng Mạnh.
Ý thức dân tộcđược phát biểu một cách hùng hồn trong “bài thơ thần” Nam quốc sơn hàmà có người coi là của Lý Thường Kiệt (?) phản ánh rất cụ thể tính đa tộc, đa văn hoá của người Việt được tiếp cận với các nguồn văn hoá, sắc tộc láng giềng sinh sống trên bán đảo Đông Dương! Cũng như Đông Sơn, những đóng góp của khảo cổ học sau các cuộc khai quật các vùng Sa Huỳnh (Quảng Ngãi) và Óc Eo (Long An và Đồng Tháp) cho phép sử gia nước ta ngày nay có một cách nhìn toàn diện về cuộc hành trình gian khổ và hào hùng của dân ta tự ngàn xưa.
Những công trình khai quật của các nhà Việt Nam học Pháp Việt (phần đông xuất thân trường Viễn Đông Bác cổ Hà Nội) tại vùng Quảng Ngãi khởi sự từ những năm 1909 đã thu gặt nhiều di tích và hiện vật gồm đồ đá, đồ gốm, đồ đồng, đồ sắt, thuỷ tinh. Đồng thời, kết hợp với những phát hiện khác ởPhilippines, Thái Lan,Malaisia,Indonesia…. Các nhà khảo cổ xứ ngoài như Solheim đã nghiên cứu, so sánh và đặt văn hoá Sa Huỳnh trong bối cảnh Đông Nam Á và các nước lân cận trong khu vực. Sau 1975, công cuộc khai quật qui mô trên một địa bàn rộng lớn từ Quảng Bình cho đến Bình Dương, Bình Phước cho phép xác định quá trình hình thành văn hoá Sa Huỳnh với giai đoạn đồng thau Tiền Sa Huỳnh, vùng địa – văn hoá cùng sự tiếp xúc với văn hoá Dốc Chùa (văn hoá đồng thau – bronze) phía Nam và văn hoá Đông Sơn phía Bắc. Theo tư liệu khảo cổ kết hợp với các nguồn tư liệu thư tịch cổ của TQ, bi ký và tư liệu dân gian của người Chăm, cư dân Sa Huỳnh nói tiếng Nam Đảo, đã đạt đến một trình độ phát triển văn minh khá cao, sinh sống dọc theo miền Trung và miền Nam Trung bộ. Nhiều di sản mang vết tích một nền kinh tế khá mở mang hướng giao lưu đường biển.
Cũng đồng cảnh ngộ của Âu Lạc, Quận NhậtNam(tên nước Lâm Ấp thời Bắc thuộc) chịu chung một số phận với Giao Chỉ và Cửu Chân bị sáp nhập vào sự thống trị của Hán triều. Tuy nhiên, theo tư liệu của Trung Quốc, nhà nước và vương quốc Lâm Ấp giành độc lập sớm hơn vào cuối thế kỷ II sau Công nguyên, lấy Trà Kiều (Quảng Nam) làm thủ đô. Tư liệu Chăm ghi lại thực tế hai vùng văn hoá khác nhau, Bắc Chăm (thế kỷ VI – VII) chịu ảnh hưởng văn hoá Tàu trong khi Nam Chăm (thế kỷ XIII – IX) bắt đầu từ đèo Cù Mông, Nha Trang đến Phan Thiết, lại nằm trong quỹ đạo văn hoá Ấn Độ. Sự thay đổi ảnh hưởng văn hoá, chiến tranh giữa Chămpa với Campuchia, lịch sử thống nhất Bắc Nam và quyết định dời đô từ Sinhapura (Quảng Nam) về Virapura (Phan Rang) còn đặt cho sử gia nhiều vấn đề chưa có giải pháp thoả đáng. Ngoài ra, sử gia Việt Nam còn có nhiệm vụ tìm hiểu những bước thăng trầm trong mối giao bang giữa hai nước Việt, Chăm cho đến ngày vương quốc Chiêm Thành bị giải thể: vì nội chiến tương tàn? Hay trước áp lực của cộng đồng người Việt?
Như văn hoá Đông Sơn và nước Văn Lang, Sa Huỳnh với lịch sử bang giao giữa người Việt và các tộc người miền Trung, những công trình khai quật khảo cổ vào những năm 1940 của L. Malleret tại vùng Óc Eo (Long An, Đồng Tháp) miền Đông sông Hậu kết hợp với các nguồn sử liệu thư tịch, bi ký… cũng soi sáng một phần nào “tiền sử” của đất Việt ở miền Nam qua thiết lập phổ hệ các vua Phù Nam từ thế kỷ I đến thế kỷ VII và hiểu biết một vài sắc thái của một nền “văn hoá biển” hướng về thương mại, theo mô hình tôn giáo, văn minh Ấn Độ. Theo nhiều chuyên gia, đế chế Phù Nam không phải thuộc về mà ngược lại bao gồm vùng văn hoá Óc Eo. Nó cũng biểu hiện những triệu chứng thăng trầm tương tự như hoàn cảnh nước Chiêm Thành hay vương quốc Angkor, một định mệnh lịch sử cũng ngắn ngủi vì bị đẩy lui vào bóng tối một cách đột ngột sau thế kỷ thứ VII, không rõ vì Đế chế Phù Nam bị Chân Lạp (Cao Miên) tiêu diệt hay gặp thiên tai (biển ngập).
Ở đây, ta có thể suy tư nghiền ngẫm về quan hệ trao đổi giữa khảo cổ và sử học, về vai trò của văn minh học lịch sử hay về phương pháp so sánh văn hoá trong cách suy diễn sự kiện lịch sử. Ai cũng thấy rằng, qua kinh nghiệm viết sử của các bậc tiền bối như Hérodote, Plutarque, Tư Mã Thiên ngày xưa, những thiên tài hôm qua như Karl Marx hay Max Weber và thế hệ những E. Labrousse, F. Braudel, L. Duby, trường phái Sử học “Les Annales” (3) ngày nay, chỉ có một cái nhìn khoáng đại, xuyên không gian và thời gian mới cho phép sử gia giải thích những hiện tượng xã hội phức tạp bằng cách phối hợp toàn bộ các điều kiện kinh tế, chính trị, văn hoá, tinh thần, tôn giáo, nghệ thuật… Hiện nay, có bao nhiêu sử gia cá nhân hay tập thể có khả năng giải thích một cách thuyết phục định mệnh những Đế quốc lớn như Ai Cập, Babylone, Athène cổ, Rome xưa, Angkor, Mỹ Sơn… và soi sáng những yếu tố làm sụp đổ nhanh chóng các nền văn minh còn để lại cho nhân loại những di sản tư tưởng sâu sắc, nghệ thuật rực rỡ và kiến trúc độc đáo?
Phải chăng cũng giống như Âu châu thời Phục Hưng (Restauration) hay thế kỷ Ánh sáng (Aufklarung), ta cũng cần có một sử gia có tầm thước như Montesquieu, một trong các vị tổ sáng tạo khoa xã hội học hiện đại, để tìm hiểu và giải thích một cách tế nhị và sâu sắc những “ Nhận xét về nguyên do sự thăng trầm của người La Mã” (Considérations sur les causes de la grandeur des Romains et de leur décadence, 1774)? Nói một cách khác, sử học Việt Nam còn phải tiến nhiều bước nữa mới thực hiện hoài bão sáng lập ngành xã hội học và tâm lý học lịch sử và, biết đâu, một quan điểm duy thức (épistémologique) về triết học lịch sử toàn diện? Trên một bình diện khiêm nhường hơn, ta cũng có thể đặt và giải đáp hiện tượng khác biệt giữa mô hình văn hoá nông thôn miền Bắc với miền Nam, so sánh “làng chặt” vùng đồng bằng sông Hồng với “làng mở” (theo Phan Đại Doãn) vùng châu thổ sông Cửu Long, đặc tính của cái “văn minh miệt vườn” của Sơn Nam, xã hội phức tạp của Sài Gòn “tạp pí lù” của Vương Hồng Sển, chế độ ruộng đất và hành chính khác nhau giữa hai miền Nam Bắc, trước và sau 1986 (đổi mới).
Xây dựng nghiên cứu thực địa tại Việt Nam trong nghiên cứu lịch sử từ khái niệm công xã Á châu đến quan hệ giữa đô thị và nông thôn vùng Đông Nam Á.
Hơn nửa thế kỷ từ ngày Pierre Gourou cho xuất bản Người nông dân miền đồng bằng Bắc kỳ(1936), chưa có một công trình nghiên cứu sử địa của người Việt có thể so sánh về chiều sâu, chiều rộng và phương pháp nghiên cứu nông thôn và nông dân vùng châu thổ sông Hồng. Mặc dù sau đó không thiếu những tác giả trong nước và ngoài nước thuộc thế hệ 1945 – 1975 theo bước chân ông như Nguyễn Văn Huyên, Đào Duy Anh, Nguyễn Văn Khoan… nghiên cứu làng mạc vẫn thu hút giới học giả chung quanh năm đề tài mà GS Phan Huy Lê đã nêu lên:
1) Quá trình hình thành và phát triển của nông thôn,
2) Chế độ điền địa (4) và kinh tế nông nghiệp,
3) Tổ chức quản lý làng xã,
4) Đời sống văn hoá và tôn giáo,
5) Những thay đổi trong cơ chế xã hội hoá sau 1986 và hệ quả của chính sách đổi mới trong nếp sống làng mạc ngày nay.
Áp dụng phương pháp so sánh, đối chiếu giữa xưa và nay, ta và người, lý thuyết và quan sát thực địa cụ thể, lấy lời nói người dân thường làm đối tượng học tập thay vì thoả mãn đối tượng học tập thay vì thoả mãn với lập trường, tuyên bố của đại diện chính quyền… giải thích tình trạng tiến bộ thấy rõ trong những bài nghiên cứu địa phương học về phố cổ Hội An trong lịch sử Chiêm Thành và quan hệ giao lưu thời chúa Nguyễn, lịch sử quân sự và chính trị Hà Tĩnh trong các phong trào kháng chiến chống quân Minh và nhất là sử thiên niên của thủ đô Hà Nội (1010 – 2010). Qua các thời Lý, Trần, Lê, Mạc, Tây Sơn, Nguyễn triều, thuộc địa trước khi Thăng Long được phục hồi lại vai trò thủ đô nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà năm 1945… tác giả giới thiệu thủ đô cổ kính nhất ở Á châu một cách linh động, toàn diện, muôn màu muôn sắc. Nghiên cứu sử sách, khai thác thư mục trong nước và quốc tế bằng tin học, sử dụng những bi ký, địa bạ, di vật khảo cổ giúp sử gia ngày nay xây dựng lịch sử địa phương trên những tài liệu chắc chắn và đầy đủ. Nhờ thế ta mới khám phá một trong những đặc tính bất ngờ của Thăng Long là tái tạo, bên cạnh các công trình phòng ngự quân sự kiên cố, cung cấm vua chúa, các trường học như Văn Miếu xứng đáng với xã hội trí thức và nhà nước Nho giáo, chùa chiền ở một nước thấm nhuần tam giáo… một lối kiến trúc đô thị điển hìnhcủa một “công xã phương Đông” trong đó làng mạc sống chung và bảo vệ thành thị, sản xuất nông sản nuôi nấng sinh hoạt thủ công. Đó là hình ảnh bất diệt của Hà Noọi được cấu lập từ thời nhà Lê với hai huyện Quảng Đức, Vĩnh Xương và 36 phố phường.
Kinh nghiệm viết sử Thăng Long và Hà Nội cũng cho phép hy vọng trong tương lai không xa nữa những công trình nghiên cứu tương tự về cựu đô Huế và Thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh hai vùng văn hoá Sa Huỳnh (Trung bộ ) và Óc Eo (Nam bộ), phối hợp giao thoa (métessage) giữa các nền văn minh Trung Ấn và Đông Nam Á.
Mặc dù sách tập hợp những bài sắp xếp còn có phần hỗn tạp và thứ tự không phải luôn luôn hợp lý, quyển sách hơn nghìn trang của GS Phan Huy Lê đánh dấu một khúc quanh trong hành trình viết sử nước ta, tóm tắt những bước tiến quyết định về tập hợp tư liệu cũng như về phương pháp suy diễn lịch sử, kết hợp các khoa xã hội học vì và cho sử học. Nó cũng phản ánh nhiều vấn đề còn bị “bỏ ngỏ”, những khuyết điểm cố hữu cần phải điều chỉnh. Với Lịch sử và văn hoá Việt Nam - Tiếp cận bộ phận,GS Phan Huy Lê đã đóng góp rất nhiều trong việc nghiên cứu, tiếp thu, kiểm điểm và phê phán có mực thước những vấn đề căn bản trong ngành sử học và Việt Nam học.
Chú thích
1) Các cuộc nổi dậy không ngừng của Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Bôn, Mai Hắc Đế, Phùng Hưng, Khúc Thừa Dụ.. biểu dương tinh thần yêu nước của dân Việt cho đến chiến thắng cuối cùng của Ngô Quyền.
2) Dưới thời Bắc thuộc, nước ta bị chia làm hai quận, Giao Chỉ (miền Bắc) gồm 92.440 hộ, 746.237 khẩu (8 người mỗi hộ) và Cửu Chân (Trung Bắc) với 35.743 hộ, 166.613 khẩu (4,5 người mỗi hộ).
3) E. Labrousse là tác giả các công trình nghiên cứu về tình trạng khủng hoảng kinh tế trước và sau Cuộc Cách mạng 1789 bên Pháp, F. Braudel viết lịch sử thành hình và phát triển của các nước tư bản Âu châu, Duby nghiên cứu các xã hội nông nghiệp Âu châu thời Trung cổ.
4) So sánh chế độ quân điền TQ với Việt Nam.








