Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 23/08/2011 21:44 (GMT+7)

Khả năng sinh trưởng và phát triển của giống mía Viên Lâm 3 và Viên Lâm 6

I.Đặt vấn đề

Mía là một trong những cây hàng hóa có giá trị kinh tế cao, góp phần xóa đói, giảm nghèo cho bà con nông dân Nghệ An. Trong thời gian qua, cùng với việc nâng cấp năng lực sản xuất, đầu tư khoa học công nghệ…, các công ty mía đường đã chú trọng đầu tư cho vùng nguyên liệu, xem đây là yếu tố sống còn của mỗi công ty. Vì vậy, ngoài việc duy trì diện tích mía đứng, áp dụng các tiến bộ khoa học nông nghiệp vào sản xuất mía nguyên liệu thì việc sử dụng các giống mía tiến bộ - giống năng suất cao, chất lượng tốt, thích nghi tốt, chống chịu được các loại sâu bệnh hại nguy hiểm trên vùng nguyên liệu mía Nghệ An là vấn đề cấp thiết.

Để góp phần giải quyết khó khăn trong thực tiễn trồng mía ở tỉnh Nghệ An, nhằm nâng cao năng suất, sản lượng, chất lượng, cũng như hiệu quả kinh tế cho người trồng mía và các nhà máy chế biến đường trong tỉnh, đề tài “Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển, năng suất, chất lượng mía Viên Lâm 3 và Viên Lâm 6 trên vùng đất đồi Nghệ An”đã được triển khai thực hiện.

II. Kết quả nghiên cứu

1. Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của các giống mía trong vụ trồng mới Đông Xuân 2008-2009

Bảng: Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của các giống mía trong vụ Đông Xuân 2008 – 2009

Điểm khảo nghiệm

Công thức/Giống

Thời gian từ khi trồng đến … (ngày)

Tỷ lệ     nảy   mầm (%)

Tỷ lệ đẻ nhánh (%)

Mật độ cây kết thúc đẻ nhánh (cây/m2)

Tỷ lệ chết lụi (%)

Bắt đầu mọc mầm

Kết thúc mọc mầm

Đẻ nhánh

Bắt đầu vươn lóng

Chín sinh lý

Điểm I     Tân Kỳ

ROC 10 (đ/c)

12

31

63

88

330

41

156,67

12,0

0,27

Viên Lâm 6

11

31

59

91

323

45

202,22

13,6

1,06

Viên Lâm 3

11

29

61

89

329

45

246,34

14,2

0,83

Điểm II     Anh Sơn

ROC 10 (đ/c)

12

31

61

91

312

43

155,10

12,5

0,23

Viên Lâm 6

11

30

59

89

397

47

171,43

11,4

1,02

Viên Lâm 3

11

29

57

90

410

49

209,30

13,3

0,45

Điểm III Nghĩa Đàn

ROC 10 (đ/c)

14

36

61

91

295

42

151,16

10,8

0,76

Viên Lâm 6

12

34

59

89

330

46

162,17

11,6

1,08

Viên Lâm 3

12

32

60

90

389

43

207,14

12,9

0,89

(Ngày trồng 05/01/2009) (Chú thích: đ/c: đối chứng)

- Khả năng nảy mầm của các giống:Kết quả bảng trên cho thấy tỷ lệ nảy mầm chỉ đạt từ 41-49%, giống có tỷ lệ nảy mầm cao nhất là giống Viên Lâm (VL) 3 tại điểm II (49%), giống VL 6 tại điểm I đạt 47% và tại điểm II đạt 46%. Giống có tỷ lệ nảy mầm thấp nhất là ROC 10 tại điểm I (41%). Nhìn chung, giống VL 3 và VL 6 có tỷ lệ nảy mầm cao hơn giống đối chứng tại cả 3 điểm khảo nghiệm. Điều đó chứng tỏ các giống này có khả năng chịu được điều kiện độ ẩm đất thấp trong giai đoạn hình thành mầm.

Các giống VL 3 và VL 6 có khả năng thích nghi với điều kiện thiếu nước hơn ROC 10 thể hiện ở tỷ lệ nảy mầm cao, thời gian nảy mầm không bị kéo dài.

- Khả năng đẻ nhánh: Giống ROC 10 (đ/c) có thời gian đẻ nhánh dài nhất (61-63 ngày), hai giống VL 3, VL 6 có thời gian đẻ nhánh ngắn (57-59 ngày) và tập trung hơn.

- Khả năng vươn cao:Tăng trưởng chiều cao của các giống mía biến động tương đối lớn, giống có chiều cao cây lớn nhất là giống VL 3 (311,27-392,34cm) và thấp nhất là giống ROC 10 (305,91-315,26cm). Đây là đặc điểm có lợi cho việc phát huy hết tiềm năng năng suất mía.

- Tốc độ vươn cao:Tốc độ vươn cao của các giống mía ở các tháng khác nhau có sự khác nhau rõ rệt. Nhìn chung, tốc độ vươn cao lớn nhất là tháng 8-9, thấp nhất là tháng 11-12. Giống đạt lớn nhất là giống VL 3 tại điểm I (76,87 cm/tháng) và thấp nhất là giống đối chứng ROC 10 chỉ đạt (35,01 cm/tháng). Tốc độ vươn cao qua các tháng đạt lớn nhất và ổn định nhất là giống VL 3.

Trong giai đoạn vươn lóng, khả năng chịu nhiệt độ cao, độ ẩm thấp của các giống VL 3, VL 6 cao hơn giống đối chứng ROC 10. Điều này cũng chứng tỏ rằng giống VL 3 và VL 6 chịu hạn tốt hơn giống ROC 10.

- Thời kỳ chín:

+ Chín công nghiệp: Qua theo dõi cho thấy thời gian mía chín có sự khác biệt giữa các giống và các điểm khảo nghiệm. Thời gian từ lúc trồng đến lúc chín dao động trong khoảng 295-410 ngày, dài nhất là giống VL 3 tại điểm II (410 ngày) và ngắn nhất là giống ROC 10 tại điểm III (295 ngày)

+ Chín sinh lý: Theo dõi chỉ tiêu này cho thấy, tất cả các giống thí nghiệm đến thời điểm thu hoạch chưa có hiện tượng trổ bông. Theo đó chưa thể kết luận chính xác yếu tố nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng có ảnh hưởng đến các giống mía hay không.

- Khả năng chịu hạn:Khả năng chịu hạn của các giống được xem xét trên ba chỉ tiêu chính: mức độ cháy lá, độ tóp và rụt lóng. Kết quả cho thấy tất cả các giống đều bị cháy lá, tuy nhiên tỷ lệ cháy lá giữa các giống là khác nhau. Giống có tỷ lệ cháy lá thấp nhất là VL3 tại điểm II (12,6%), thứ đến là VL 6 tại điểm II (13,8%), giống đối chứng ROC 10 có tỷ lệ cháy lá cao nhất (55,3%). Giữa các giống có tỷ lệ tóp lóng khác nhau, cao nhất là ROC 10 tại điểm III (35,2%) và thấp nhất là VL 3 tại điểm I (9,8%), VL 6 dao động trong khoảng 12,9-21,4%.

Qua đánh giá khả năng chịu hạn của các giống trong khảo nghiệm trên đồng ruộng cho thấy giống VL 3 và VL 6 có khả năng sinh trưởng tốt hơn giống đối chứng ROC 10 trong điều kiện khô hạn, nghĩa là các giống này có khả năng chịu hạn cao hơn các giống đối chứng.

- Khả năng chống chịu sâu bệnh:Khả năng chống chịu rệp của các giống cũng có sự khác nhau. Giống bị nhiễm rệp mạnh nhất là ROC 10 và VL6.

Khả năng chống chịu sâu đục thân, các loại bệnh nấm lá, thối đỏ, bệnh than của các giống mía có sự khác nhau không nhiều và không ảnh hưởng nhiều đến khả năng sinh trưởng, năng suất của các giống mía.

Khả năng nhiễm bệnh chồi cỏ có sự khác biệt lớn giữa các giống và giữa các điểm khảo nghiệm. Giống có tỷ lệ bị nhiễm bệnh chồi cỏ cao nhất là giống ROC 10 tại điểm III (17%) và VL 3 (11%), VL 6 (10%).

Năm 2009, do ảnh hưởng của bão số 5 đổ bộ vào Nghệ An nên các giống đều có tỷ lệ đổ ngã nhất định. Trong đó, giống bị đỗ ngã nhiều nhất là VL3 và VL 6, điều này cũng phù hợp với đặc điểm hình thái của giống mía (thân tương đối mềm, bộ lá lớn, cao cây…) cho nên khả năng chống đổ kém.

- Yếu tố cấu thành năng suất và năng suất:Nghiên cứu các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất cho thấy rằng: Giống mía VL 3, VL 6 có khả năng sinh trưởng tương đối bình thường, ổn định. Trong điều kiện thiếu nước vẫn cho năng suất ổn định hơn giống đối chứng. Các giống mía có năng suất lý thuyết dao động từ 129,6-194 tấn/ha, giống có năng suất lý thuyết cao nhất là VL 3 và thấp nhất là ROC 10.

- Các chỉ tiêu sinh hóa:Các giống mía có chỉ số khá cao và cao, thể hiện chất lượng mía khá tốt. Trong các giống tham gia thí nghiệm, giống có độ đường (CCS%) cao nhất là VL 6 ở điểm I (CCS = 14,58%) cao hơn đối chứng cùng điểm khảo nghiệm 7,54%.

2. Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của các giống mía trong vụ lưu gốc vụ I

Mía là cây công nghiệp hàng năm nhưng có chu kỳ nhiều năm. Thông thường mía có thể để lưu gốc từ 2-6 năm, tùy thuộc vào đặc điểm giống, điều kiện canh tác, thổ nhưỡng và khí hậu thời tiết từng khu vực. Việc nắm được các đặc trưng, đặc điểm này có ý nghĩa quan trọng trong sản xuất mía.

Kết quả theo dõi sinh trưởng, phát triển của các giống mía trong vụ lưu gốc năm thứ nhất tại 3 điểm khảo nghiệm, như sau:

- Khả năng nảy mầm tái sinh gốc:Kết quả thu được cho thấy thời gian từ khi xử lý gốc đến bắt đầu mọc mầm của các giống mía dao động trong khoảng 9-15 ngày. Mọc mầm sớm nhất là giống mía ROC 10 tại điểm II và chậm nhất là giống VL 3 tại điểm III.

- Khả năng mọc mầm (tái sinh): Khả năng tái sinh càng cao thì hiệu quả trong sản xuất mía càng lớn. Khả năng mọc mầm ở vụ mía lưu gốc I của các giống mía sai khác nhau tương đối lớn và dao động trong khoảng 41-49%, cao nhất là giống ROC 10 tại điểm II, thấp nhất là giống VL 3 tại điểm III.

- Mật độ cây khi kết thúc đẻ nhánh:Mật độ cây có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong yếu tố cấu thành năng suất và năng suất. Việc điều chỉnh mật độ cây có ý nghĩa quan trọng trong sản xuất. Nhìn chung, các giống mía có mật độ cây bình quân dao động trong khoảng 9,1-11,4 cây/m 2. Trong đó, giống có mật độ thấp nhất là VL 3 tại điểm III và cao nhất là ROC 10 tại điểm II. Trong cùng một điều kiện sản xuất, giống mía VL 3 và VL 6 có khả năng tái sinh kém hơn giống mía đối chứng.

- Khả năng vươn cao của các giống mía:Khả năng vươn lóng của hai giống VL dao động trong khoảng 309,12-322,34cm. Đây là một yếu tố có ý nghĩa quan trọng trong các yếu tố cấu thành năng suất mía.

- Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất:Qua theo dõi cho thấy các giống mía khác nhau có yếu tố cấu thành năng suất và năng suất khác nhau tại tất cả các điểm. Điều đó được thực hiện ở chiều cao cây và trọng lượng bình quân của cây. Giống có năng suất thực thu cao nhất là VL 3 tại điểm II đạt 93 tấn/ha, cao hơn đối chứng cùng điểm (24 tấn/ha) và VL 6 đạt 92 tấn/ha, cao hơn đối chứng 25%.

- Chỉ tiêu công nghiệp:Qua theo dõi cho thấy hàm lượng đường trên mía tại thời điểm mía chín giữa hai giống VL và ROC 10 biến động từ 11,31-13,76%. Giống có trữ lượng đường cao nhất là giống VL6 ở điểm II, bình quân chung CCS% vụ gốc thấp hơn so với CCS% trên mía vụ mía tơ.

- Khả năng chống chịu sâu bệnh:Kết quả theo dõi các giống mía trong vụ mía gốc I cho thấy các giống mía VL tham gia khảo nghiệm chưa kháng được bệnh than và bệnh chồi cỏ, tỷ lệ đổ ngã cao.

3. Đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của hai giống mía khảo nghiệm so với các giống mía đang trồng trong vùng

- Hiệu quả kinh tế:Qua tính toán cho thấy trong cùng điều kiện đầu tư trên cùng chân đất, hiệu quả kinh tế thu được của giống VL 3, VL 6 cao hơn hẳn giống ROC 10 đối chứng: cao hơn từ 43,4-50% ở vụ mía trồng mới và từ 41,2-45,7% ở vụ mía lưu gốc.

- Hiệu quả xã hội:

+ Bổ sung thêm được bộ giống mới có nhiều triển vọng cho sản xuất mía trên địa bàn tỉnh Nghệ An.

+ Việc đưa các giống mía mới VL 3 và VL 6 có tiềm năng năng suất và năng suất cao vào sản xuất sẽ tạo điều kiện cho việc giảm dần diện tích trồng mía nhưng vẫn đáp ứng được sản lượng nguyên liệu cho các công ty mía đường hàng năm hoạt động đủ công suất.

III. Kết Luận

- Cần tiếp tục tiến hành theo dõi khả năng sinh trưởng, phát triển, chống chịu, đặc biệt là khả năng chịu hạn và kháng chịu với bệnh chồi cỏ trên hai giống mía VL trong các vụ lưu gốc của các năm tiếp theo để có kết luận cuối cùng trước khi đưa ra khuyến cáo cho người sản xuất.

- Trên cơ sở kết quả khảo nghiệm này cần tiến hành đưa giống mía VL 3 và VL 6 vào sản xuất thử tại các vùng nguyên liệu mía trên địa bàn Nghệ An với quy mô 20-30ha tại mỗi điểm./.

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Thanh Hoá: Kinh tế tuần hoàn, tín chỉ Carbon và mô hình sản xuất không phát thải
Ngày 30/9/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Thanh Hóa (Liên hiệp hội) phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ, Trường Đại học Hồng Đức và Viện Nông nghiệp Thanh Hóa tổ chức Diễn đàn khoa học với chủ đề “Kinh tế tuần hoàn và tín chỉ Carbon - Phương pháp xây dựng mô hình sản xuất không phát thải tại Thanh Hóa”.
Đắk Lắk: Phát huy nguồn lực trí thức, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo tỉnh
Trong giai đoạn 2026-2030, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo (ĐMST) là yêu cầu quan trọng để Đắk Lắk khai thác tốt hơn tiềm năng, lợi thế và các nguồn lực cho phát triển. Cùng với KHCN và CĐS, ĐMST cần được nhìn nhận không chỉ là hoạt động của các viện, trường hay doanh nghiệp công nghệ, mà là một phương thức tổ chức nguồn lực để giải quyết những bài toán phát triển cụ thể của địa phương.
Phú Thọ: Tập huấn, truyền thông thúc đẩy giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật tại xã Lạc Sơn
Ngày 25/9/2026, tại xã Lạc Sơn, tỉnh Phú Thọ, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ phối hợp với Viện Tài chính vi mô và Phát triển cộng đồng (MACDI) cùng các cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức chương trình tập huấn, truyền thông thúc đẩy giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật.
Đại hội Hội Khoa học lịch sử Việt Nam lần thứ VIII: GS.TS Nguyễn Văn Kim được bầu làm Chủ tịch
Ngày 30/9/2026, tại Hà Nội, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tổ chức Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2026-2031. Đại hội là dấu mốc quan trọng mở ra chặng đường phát triển mới của Hội; GS.TS Nguyễn Văn Kim được tín nhiệm bầu giữ chức Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam nhiệm kỳ 2026-2031.
Thế hệ trẻ và bản lĩnh chính trị trên không gian số: Chủ động đối thoại, phản biện và “phủ xanh” thông tin tích cực
Trong kỷ nguyên số, không gian mạng tác động sâu sắc đến nhận thức, tư tưởng của xã hội, đặc biệt là thế hệ trẻ. Trước tin giả, thông tin xấu độc và các luận điệu sai trái, thù địch, tuổi trẻ Việt Nam thông qua các diễn đàn chính luận đã khẳng định bản lĩnh chính trị vững vàng, chủ động đối thoại, phản biện các luận điệu sai trái và góp phần “phủ xanh” không gian mạng bằng những giá trị tích cực.
Phản biện để hoàn thiện, không phải để phủ định
Hoạt động tư vấn, phản biện (TVPB) của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã trở thành một phương thức quan trọng để tập hợp trí tuệ đội ngũ trí thức, cung cấp luận cứ khoa học tin cậy cho Đảng, Nhà nước. Để hiểu rõ hơn về sự phát triển, phương pháp tổ chức và những bài học thực tiễn từ hoạt động này, phóng viên đã có cuộc trao đổi với ThS Bùi Kim Tuyến, Trưởng ban TVPB, VUSTA
Liên hiệp Hội Việt Nam hợp tác với doanh nghiệp công nghệ, hiện thực hóa các mục tiêu chuyển đổi số
Ngày 28/9, tại Hà Nội, Lãnh đạo Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã có buổi trao đổi, làm việc với Công ty CP Tập đoàn Truyền thông StarWorld (Starworld Group) về các giải pháp chuyển đổi số, hướng tới xây dựng nền tảng công nghệ khoa học phục vụ chiến lược phát triển của VUSTA trong giai đoạn 2026 - 2031.
Phó Chủ tịch Trương Xuân Lam: Đưa khoa học, công nghệ vào giải quyết những bài toán thực tiễn ngành hàng không
Ngày 26/9, tại Hà Nội, Hội Khoa học và Công nghệ Hàng không Việt Nam tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ VII, nhiệm kỳ 2026-2031. Phát biểu tại Đại hội, GS.TS Trương Xuân Lam, Phó Chủ tịch LHHVN nhấn mạnh yêu cầu Hội tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, tập hợp và phát huy đội ngũ trí thức, đưa KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào giải quyết những vấn đề của ngành hàng không.
Ngày hội Đổi mới sáng tạo quốc gia 2026: Kết nối nguồn lực, thúc đẩy công nghệ
Theo Nghị định số 268/2025/NĐ-CP ngày 14/10/2025 của Chính phủ, ngày 1/10 hằng năm là Ngày hội Đổi mới sáng tạo quốc gia (INNOVATION DAY) do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì. Quy định này nhằm tạo một dấu mốc thường niên để lan tỏa tinh thần đổi mới sáng tạo trong xã hội, đồng thời thúc đẩy ứng dụng, phát triển và thương mại hóa công nghệ.
Liên hiệp Hội Việt Nam tổ chức chương trình làm việc, khảo sát thực tế tại Trung tâm Đa dạng Sinh học Mê Linh
Ngày 25/9, Cơ quan Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã tổ chức chương trình thăm, làm việc và khảo sát thực tế tại Trung tâm Đa dạng Sinh học Mê Linh (thuộc Viện Sinh học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam). Chương trình diễn ra với chủ đề “Trí thức khoa học và công nghệ với bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững”.
Hội Tự động hóa Việt Nam và Đại học Công nghệ Quế Lâm hợp tác tạo cơ hội phát triển công nghệ và chuyển đổi số
Hội Tự động hóa Việt Nam (VAA) và Đại học Công nghệ Quế Lâm (Trung Quốc) ký biên bản ghi nhớ, hướng tới xây dựng phòng thí nghiệm trọng điểm chung về ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số, đồng thời đưa kết quả nghiên cứu vào thử nghiệm, chuyển giao và ứng
Tuyên bố chung về quan hệ Đối tác Chiến lược giữa Việt Nam và Canada
Chuyến thăm cấp Nhà nước tới Canada của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thể hiện cam kết mạnh mẽ của lãnh đạo hai nước trong việc đưa quan hệ song phương bước vào kỷ nguyên mới hợp tác sâu rộng, thực chất và bền vững hơn. Trân trọng giới thiệu toàn văn Tuyên bố chung về quan hệ Đối tác Chiến lược giữa Việt Nam và Canada: