Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 22/09/2011 21:28 (GMT+7)

Giảm thiểu ô nhiễm môi trường trong khai thác khoáng sản

Tiềm năng khoáng sản

Việt Nam được đánh gia là quốc gia có tiềm năng và đa dạng về tài nguyên, đặc biệt là tài nguyên khoáng sản. Trong đó, có một số loại khoáng sản lớn về trữ lượng như bauxite, titan, đất hiếm, than và một số loại quý về giá trị như dầu mỏ, urani… Tại một số nơi, có mỏ nằm tập trung như dầu khí ngoài khơi miền Nam, than ở Quảng Ninh, bauxite ở Tây Nguyên, apatit và đất hiếm ở các tỉnh phía Bắc.

Với nhiều lợi thế và đa dạng, tài nguyên khoáng sản đã góp phần quan trọng, đáp ứng nhu cầu nền kinh tế đất nước. Các hoạt động thăm dò, khai thác hàng năm tăng, từ năm 1996 đến nay đã có 571 đề án thăm dò đối với hơn 20 loại khoáng sản (chủ yếu nguyên liệu xi măng, quặng titan, đá ốp lát, đá cát sỏi lòng sông làm vật liệu xây dựng…)

Hiện nay, cùng với sự phát triển chung của cả nước, các hoạt động khoáng sản đã và đang góp phần to lớn vào công cuộc đổi mới đất nước như: Xuất khẩu dầu thô, khai thác, chế biến khoáng sản làm vật liệu xây dựng, sản xuất xi măng, các công trình cơ sở hạ tầng, công nghiệp cơ khí, luyện kim, chất đốt phục vụ sản xuất điện năng, phân hóa học, sinh học, hữu cơ tổng hợp phục vụ nông nghiệp… Công nghiệp khai khoáng đóng góp đáng kể cho nền kinh tế quốc dân và tăng đáng kể trong 15 năm trở lại đây, tạo nhiều việc làm cho xã hội. Công nghiệp khai khoáng sản được khai thác, chế biến. Nhiều loại khoáng sản được các doanh nghiệp khai thác với sản lượng lớn và tăng đều hàng năm như: Than, vật liệu xây dựng, nguyên liệu sản xuất xi măng, apatit, đá hoa làm đá ốp lát, làm bột cacbonate canxi… Một số loại khoáng sản có nhu cầu lớn trên thị trường nhưng do tiềm năng có hạn nên sản lượng có tăng không đáng kể như: Quặng vàng, đồng, thiếc, chì, kẽm… Cả nước hiện có khoảng 500 cơ sở chế biến có quy mô ở mức độ công nghiệp như: Than (Quảng Ninh), sắt Trại Cau (Thái Nguyên), đồng Sin Quyền (Lào Cai), đá trắng ở Lục Yên, Yên Bình (Yên Bái), đá trắng ở Quỳ Hợp (Nghệ An). Ngoài ra, còn phải kể đến một số khối lượng đá vôi, đá sét, phụ gia rất lớn khai thác được để cung cấp cho các nhà máy xi măng trong cả nước. Những mỏ có sản lượng nhỏ thường là các loại khoáng sản như: Chì, kẽm, thiếc, antimone, crom, mangan…

Hiện trạng khai thác

Hiện nay, do chưa làm chủ được công nghệ, nhất là công nghệ chế biến các doanh nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản chủ yếu chạy theo lợi nhuận nên chỉ chú ý đến khai thác khoáng sản có chất lượng tốt, hàm lượng giàu cùng với công nghệ lạc hậu đã gây tổn thất, lãng phí tài nguyên do không thu hồi tối đa quặng nghèo, khoáng sản đi kèm. Khai thác vàng là một ví dụ, do mức độ thu hồi quặng vàng trong chế biến hiện chỉ đạt khoảng 30-40%, nghĩa là hơn một nửa thải ra ngoài bãi thải, không chỉ làm lãng phí tài nguyên mà còn gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Đối với những mỏ vàng vừa và nhỏ do dân tự khai thác với công nghệ thô sơ, càng không thể đánh giá hết những tổn thất. Nếu so với chỉ tiêu một số nước, thu hồi vàng trong quặng thường chiếm 92-97% thì rõ ràng là một tổn thất quá lớn.

Quá trình khai thác mỏ phục vụ lợi ích, con người làm thay đổi môi trường xung quanh. Hoạt động của các mỏ khai thác than, quặng, phi quặng và vật liệu xây dựng như tiến hành xây dựng mỏ, khai thác thu hồi khoáng sản, đổ thải, thoát nước mỏ đã phá vỡ cân bằng điều kiện sinh thái đã được hình thành từ hàng chục triệu năm, gây sự ô nhiễm nặng nề đối với môi trường.

Hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản ảnh hưởng đến ô nhiễm nguồn nước. Nhiều mỏ, khu vực khai thác đã gây ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước, do một lượng nước thải từ mỏ thải ra không được xử lý. Nhiều bãi thải không có công trình xử lý nên khi có mưa xuống đã gây ô nhiễm nguồn nước, chất thải lơ lửng, hòa tan trôi xuống ruộng ảnh hưởng đến đất nông nghiệp. Trong thành phần nước thải thường có axít, tính kiềm cao, có kim loại nặng, chất độc hại… làm ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước trên diện rộng.

Khai thác mỏ ảnh hưởng đến chất lượng không khí, ở hầu hết các mỏ khi khai thác đã thải ra lượng bụi vượt tiêu chuẩn cho phép, nhất là ở mỏ đá, mỏ than. Đồng thời, ảnh hưởng đến cảnh quan làm biến dạng địa hình tự nhiên, phá hủy nhiều cảnh quan môi trường như phong cảnh thiên nhiên, thảm thực vật, đa dạng sinh học. Hiện tượng sạt đất, xói lở bờ sông và sự cố môi trường, nguy cơ xuất hiện các hiện tượng địa chất công trình động lực ven biển như biển xâm thực, biến dạng đường bờ biển, sạt lở bờ biển, cát bay, cát chảy… Ngoài ra, khai thác mỏ còn ảnh hưởng đến phát triển tài nguyên thiên nhiên và các ngành kinh tế khác…

Trong thực tế, Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005 yêu cầu các dự án khai thác, chế biến khoáng sản phải có báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc bản cam kết bảo vệ môi trường. Song việc lập báo cáo đối với nhiều dự án không đảm bảo chất lượng vì chỉ mang tính hình thức. Trong quá trình triển khai dự án ít có doanh nghiệp thực hiện theo đúng nội dung báo cáo.

Giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường

Theo các nhà khoa học và chuyên gia về ngành khai khoáng, để quyết định đưa một mỏ vào khai thác cần phải xem xét thận trọng giữa lợi ích trước mắt cũng như lợi ích lâu dài, bảo đảm các yêu cầu phát triển bền vững. Trước hết, nên khai thác mỏ ít chất thải. Bởi một thách thức lớn phải giải quyết trong quá trình khai thác mỏ là quản lý chất thải rắn trong mỏ. Ngành công nghiệp khai thác mỏ hàng năm tạo ra một khối lượng đất đá thải rất lớn do phải bóc lớp đất phủ và quặng nghèo không đáp ứng yêu cầu chế biến trong khai thác lộ thiên. Trong đất đá thải chứa nhiều tạp chất khác nhau nên phải được quản lý theo một quy trình nghiêm ngặt để ngăn ngừa ô nhiễm nước mặt và nước ngầm.

Việc chuyển đổi từ khai thác lộ thiên sang hầm lò sẽ hạn chế và giảm thiểu tác động đến môi trường, khắc phục tình trạng ô nhiễm nước mặt cũng như nước ngầm do đất đá thải gây ra. Tài nguyên khoáng sản ở độ sâu vừa phải được khai thác bằng phương pháp lộ thiên ở giai đoạn trước, nay đã cạn kiệt nên phải khai thác tài nguyên khoáng sản ở độ sâu lớn nằm trong lòng đất bằng phương pháp hầm lò. Hiện nay, các mỏ than Quảng Ninh đang phải lựa chọn phương pháp khai thác hầm lò hoặc phương pháp kết hợp lộ thiên và hầm lò để khai thác than trong điều kiện than ở độ sâu không lớn đang cạn kiệt và đáp ứng nhu cầu tăng sản lượng hàng năm.

Khai thác mỏ cần được tối ưu hóa, vì nước phải được tiêu thụ, sử dụng có hiệu quả, đồng thời áp dụng công nghệ tái sử dụng nước một cách tối đa. Các thiết bị sử dụng trong mỏ phải bảo đảm yêu cầu tiêu hao năng lượng thấp, mạnh dạn thay thế thiết bị cũ, lạc hậu không bảo đảm yêu cầu tiết kiệm năng lượng và thải ít chất thải ra môi trường xung quanh.

Các doanh nghiệp sau khi khai thác có nghĩa vụ đóng cửa mỏ, bảo đảm mục đích loại bỏ những tác động lâu dài đến môi trường, phục hồi lại đất đai để có thể đáp ứng yêu cầu trồng trọt, canh tác hoặc các mục đích phù hợp khác, bảo đảm việc sử dụng đất được phê duyệt, bảo đảm cảnh quan được trở lại trạng thái ban đầu trước khi khai thác.

Hiện nay, công nghiệp khai khoáng đang đối mặt với nhiều thách thức, phải giải quyết. Trong đó, các doanh nghiệp cần chủ động đổi mới công nghệ, hướng tới công nghệ sạch, đó là giải pháp quan trọng nhằm đạt mục tiêu phát triển bền vững. Ngoài ra, các cơ sở sản xuất sử dụng nguồn tài nguyên khoáng sản phải hướng tới công nghệ sử dụng tiết kiệm tài nguyên, làm giảm áp lực gia tăng lượng khoáng sản. Đồng thời, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ quản lý, công nhân kỹ thuật và đưa ra các sáng kiến, giải pháp phù hợp trong quá trình khai thác mỏ, bảo đảm phát triển bền vững ngành khai khoáng trong quá trình CNH-HĐH đất nước.

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Phú Thọ: Tập huấn, truyền thông thúc đẩy giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật tại xã Lạc Sơn
Ngày 25/9/2026, tại xã Lạc Sơn, tỉnh Phú Thọ, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ phối hợp với Viện Tài chính vi mô và Phát triển cộng đồng (MACDI) cùng các cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức chương trình tập huấn, truyền thông thúc đẩy giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật.
Đại hội Hội Khoa học lịch sử Việt Nam lần thứ VIII: GS.TS Nguyễn Văn Kim được bầu làm Chủ tịch
Ngày 30/9/2026, tại Hà Nội, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tổ chức Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2026-2031. Đại hội là dấu mốc quan trọng mở ra chặng đường phát triển mới của Hội; GS.TS Nguyễn Văn Kim được tín nhiệm bầu giữ chức Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam nhiệm kỳ 2026-2031.
Thế hệ trẻ và bản lĩnh chính trị trên không gian số: Chủ động đối thoại, phản biện và “phủ xanh” thông tin tích cực
Trong kỷ nguyên số, không gian mạng tác động sâu sắc đến nhận thức, tư tưởng của xã hội, đặc biệt là thế hệ trẻ. Trước tin giả, thông tin xấu độc và các luận điệu sai trái, thù địch, tuổi trẻ Việt Nam thông qua các diễn đàn chính luận đã khẳng định bản lĩnh chính trị vững vàng, chủ động đối thoại, phản biện các luận điệu sai trái và góp phần “phủ xanh” không gian mạng bằng những giá trị tích cực.
Phản biện để hoàn thiện, không phải để phủ định
Hoạt động tư vấn, phản biện (TVPB) của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã trở thành một phương thức quan trọng để tập hợp trí tuệ đội ngũ trí thức, cung cấp luận cứ khoa học tin cậy cho Đảng, Nhà nước. Để hiểu rõ hơn về sự phát triển, phương pháp tổ chức và những bài học thực tiễn từ hoạt động này, phóng viên đã có cuộc trao đổi với ThS Bùi Kim Tuyến, Trưởng ban TVPB, VUSTA
Liên hiệp Hội Việt Nam hợp tác với doanh nghiệp công nghệ, hiện thực hóa các mục tiêu chuyển đổi số
Ngày 28/9, tại Hà Nội, Lãnh đạo Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã có buổi trao đổi, làm việc với Công ty CP Tập đoàn Truyền thông StarWorld (Starworld Group) về các giải pháp chuyển đổi số, hướng tới xây dựng nền tảng công nghệ khoa học phục vụ chiến lược phát triển của VUSTA trong giai đoạn 2026 - 2031.
Phó Chủ tịch Trương Xuân Lam: Đưa khoa học, công nghệ vào giải quyết những bài toán thực tiễn ngành hàng không
Ngày 26/9, tại Hà Nội, Hội Khoa học và Công nghệ Hàng không Việt Nam tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ VII, nhiệm kỳ 2026-2031. Phát biểu tại Đại hội, GS.TS Trương Xuân Lam, Phó Chủ tịch LHHVN nhấn mạnh yêu cầu Hội tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, tập hợp và phát huy đội ngũ trí thức, đưa KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào giải quyết những vấn đề của ngành hàng không.
Ngày hội Đổi mới sáng tạo quốc gia 2026: Kết nối nguồn lực, thúc đẩy công nghệ
Theo Nghị định số 268/2025/NĐ-CP ngày 14/10/2025 của Chính phủ, ngày 1/10 hằng năm là Ngày hội Đổi mới sáng tạo quốc gia (INNOVATION DAY) do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì. Quy định này nhằm tạo một dấu mốc thường niên để lan tỏa tinh thần đổi mới sáng tạo trong xã hội, đồng thời thúc đẩy ứng dụng, phát triển và thương mại hóa công nghệ.
Liên hiệp Hội Việt Nam tổ chức chương trình làm việc, khảo sát thực tế tại Trung tâm Đa dạng Sinh học Mê Linh
Ngày 25/9, Cơ quan Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã tổ chức chương trình thăm, làm việc và khảo sát thực tế tại Trung tâm Đa dạng Sinh học Mê Linh (thuộc Viện Sinh học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam). Chương trình diễn ra với chủ đề “Trí thức khoa học và công nghệ với bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững”.
Hội Tự động hóa Việt Nam và Đại học Công nghệ Quế Lâm hợp tác tạo cơ hội phát triển công nghệ và chuyển đổi số
Hội Tự động hóa Việt Nam (VAA) và Đại học Công nghệ Quế Lâm (Trung Quốc) ký biên bản ghi nhớ, hướng tới xây dựng phòng thí nghiệm trọng điểm chung về ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số, đồng thời đưa kết quả nghiên cứu vào thử nghiệm, chuyển giao và ứng
Tuyên bố chung về quan hệ Đối tác Chiến lược giữa Việt Nam và Canada
Chuyến thăm cấp Nhà nước tới Canada của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thể hiện cam kết mạnh mẽ của lãnh đạo hai nước trong việc đưa quan hệ song phương bước vào kỷ nguyên mới hợp tác sâu rộng, thực chất và bền vững hơn. Trân trọng giới thiệu toàn văn Tuyên bố chung về quan hệ Đối tác Chiến lược giữa Việt Nam và Canada:
Trung thu – Một miền ký ức
…Tôi cũng không nhớ đã bao lần đón trung thu nữa, thế nhưng mỗi lần tháng Tám về, dắt con đi qua những phố thị đầy ắp đèn hoa, bánh kẹo trong tôi lại ùa về những cảm xúc khỏ tả, một miền ký ức sâu thẳm thân thương biết bao giờ trở lại ….
Kết luận số 83-KL/TW: Chuyển từ lợi thế tài nguyên sang làm chủ công nghệ vật liệu
Ngày 24/9, Ban Tuyên giáo Trung ương và Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp tổ chức Hội thảo tuyên truyền, phổ biến, quán triệt Kết luận số 83-KL/TW của Bộ Chính trị về phát triển công nghiệp vật liệu Việt Nam. Hội thảo tập trung làm rõ định hướng phát triển ngành vật liệu theo hướng làm chủ công nghệ, nâng cao giá trị gia tăng, tăng năng lực tự chủ và sức cạnh tranh.