Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 29/12/2010 20:07 (GMT+7)

Để đồng bằng sông Cửu Long sống chung với biến đổi khí hậu

Đã có những thiệt hại

Báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về kịch bản BĐKH tại ĐBSCL cho thấy: Nếu nước biển dâng thêm 1m thì khoảng 70% diện tích đất vùng này bị xâm nhập mặn, mất khoảng hai triệu ha đất trồng lúa. Nhiều địa phương sẽ bị chìm trong nước. Thời gian úng ngập có thể kéo dài từ 4-5 tháng, 38% diện tích đồng bằng bị nhấn chìm, 90% diện tích đồng bằng có thể bị nhiễm mặn.

Theo nghiên cứu của các nhà khoa học Viện Nghiên cứu quản lý biển và hải đảo, tại các tỉnh ven biển và hải đảo khu vực ĐBSCL, BĐKH, đặc biệt là nước biển dâng có thể làm gia tăng độ cao sóng ven bờ, tác động tới cán cân bùn cát và làm gia tăng sói lở, gây suy thoái mạnh, thâm chí các rừng ngập mặn ven biển sẽ bị biến mất. Mức nước biển càng dâng cao thì lũ lụt do thủy triều, nước dâng bão và lũ thượng nguồn gây ra càng lớn. Đây là mối đe dọa lớn nhất đối với các vùng nông nghiệp ven biển, đất thấp, đất trũng. Hiện tượng “nước vật” do mực nước dâng cao ở hạ nguồn cũng làm gia tăng ngập lụt do lũ ở thượng nguồn. Lũ về sớm, rút chậm, thời gian ngập úng cao hơn và mực nước lũ cao hơn…

Tác động của BĐKH mà cụ thể là biến số về thời tiết bao gồm nhiệt độ, không khí, lượng mưa… cũng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng lúa gạo và vùng nuôi trồng thủy sản ở ĐBSCL.

Theo các nhà khoa học Trường Đại học Cần Thơ, sự thay đổi của các biến số thời tiết sẽ gây ra thiệt hại về sản lượng lương thực khoảng15% ở các vùng cần tưới tiêu và 24% ở các vùng ngập mặn. Đối với nghề nuôi cá tra thâm canh nước ngọt và nuôi tôm ở vùng ven biển mặc dù tác hại không rõ rệt bằng nghề trồng lúa nhưng cũng tác động gián tiếp. Mức tăng trưởng của cá thấp vào thời điểm nhiệt độ cực thấp tháng Mười Hai và tháng Một, cũng như mức tăng trưởng thấp và chết của tôm lúc nhiệt độ cực nóng và lượng mưa bất thường vào mùa khô.

Nhóm các nhà khoa học Trung tâm Bảo tồn sinh vật biển và Phát triển cộng đồng đề xuấtnhững giải pháp thích ứng với BĐKH trong hoạt động nuôi trrồng thủy sản, về các giải pháp kỹ thuật như: gia cố các đầm nuôi trong giới hạn có thể; đa dạng sản xuất cảitiến kỹ thuật và công nghệ nuôi trồng thủy sản phù hợp giới hạn chịu mặn, nhiệt độ của cá tra và tôm sú; đầu tư cơ sở hạ tầng, các công trình thủy lợi có thể đưa nướcngọt vào khu vực đầm nuôi cá tra trong khu vực bị nhiễm mặn; trồng và bảo vệ rừng ngập mặn, khôi phục hệ sinh thái; hỗ trợ tăng cường năng lực thích ứng và giảm thiểuthông qua mô hình quản lý và phòng chống thiên tai.

Về giải pháp chính sách, nên có chính sách hỗ trợ gia tăng giá trị sản phẩm; tăng khả năng thích ứng thông qua các mô hình, đồng quản lý nuôi trồng thủy sản quy mô nhỏ, xây dựng năng lực và quy chế quản lý, khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản bền vững; lập kế hoạch BĐKH liên ngành và thực hiện kế hoạch hành động thích ứng và giảm thiểu BĐKH…

Chia sẻ nguồn nước sông Mê Kông

Vấn đề hợp tác phát triển các nước tiểu vùng sông Mê Kông đối với việc ứng phó với BĐKH cũng được nhiều diễn giả đề cập. Theo Ths Nguyễn Thị Hoàn, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, BĐKH đã đặt ra cho Việt Nam cũng như các nước tiểu vùng sông Mê Kông nhiều vấn đề cần nỗ lực quan tâm giải quyết chung, mà trước hết là vấn đề bảo vệ nguồn nước và đa dạng sinh học. Việc xây dựng các đập thủy điện tại thượng nguồn và hạ lưu sông Mê Kông đã gây nên những vấn đề nghiêm trọng về môi trường và các đập thủy điện cũng đang gây nhiều tranh cãi.

Ths Nguyễn Thị Hoàn cho biết: Trung Quốc kiểm soát đến 16% lượng nước của sông Mê Kông và đang xây dựng tám nhà máy thủy điện công suất lớn với một hệ thống các đập lớn, nhỏ. Bốn nước Campuchia, Lào, Thái Lan, Việt Nam cũng đang có 11 dự án xây đập thủy điện. Các công trình thủy điện tuy phục vụ nhu cầu phát triển nhưng cũng gây ra những tác hại cho môi trường và đa dạng sinh vật của dòng Mê Kông, ảnh hưởng xấu đến cuộc sống của người dân sống ven sông. Và nằm ở hạ nguồn, nơi dòng Mê Kông đổ ra biển, Việt Nam là nước bị ảnh hưởng nặng nề nhất. Các đập thủy điện sẽ chặn phù sa xuống ĐBSCL, ảnh hưởng đến nguồn cá và sản xuất nông nghiệp. 17 triệu người Việt Nam sẽ phải trực tiếp chịu các hệ quả của môi trường mà các dự án năng lượng gây ra. Không chỉ có nông dân Việt Nam, nông dân các nước hạ nguồn như Lào và Campuchia cũng đang chịu nhiều thiệt hại của tác động môi trường liên quan đến dòng Mê Kông.

Chính vì vậy, các nước ven sông phải cùng nhau nổ lực phát triển và bảo vệ nguồn tài nguyên nước. Để phát triển nhà máy thủy điện một cách bền vững, vấn đề đặt ra là phải hạn chế ảnh hưởng tiêu cực và duy trì được môi trường sinh thái.

Các nước có dòng Mê Kông chảy qua cần phải ký kết một thỏa thuận chung về việc chia sẻ nguồn nước của sông. Quản lý nguồn nước phải có sự phối hợp, chia sẻ và minh bạch trong thông tin; theo dõi lượng mưa, dòng chảy và chất lượng nước là điều cần thiết để hợp tác thực hiện và cần phải thảo luận thông tin về mùa khô, cơ chế hoạt động của các hồ chứa nước, trong trường hợp khẩn cấp hay khi có thay đổi trong vận hành các đập so với kế hoach cũng phải chia sẽ thông tin kịp thời. Việc vận động Trung Quốc và Mi-an-ma tự nguyện tham gia Ủy ban sông Mê Kông là việc rất cần thiết và cực kỳ quan trọng. Một giải pháp song phương đối với các vấn đề sông Mê Kông là điều khó đạt được vì có 6 nước sử dụng chung sông Mê Kông.

Sống chung với BĐKH

Trong số gần 40 tham luận được gửi đến hội thảo, vấn đề được đề cập nhiều nhất là làm thế nào để ứng phó với biến đổi khí hậu và sống chung với biến đổi khí hậu. Tham luận của Ths Trần Thanh Tâm về “Hạn chế tác động của biến đổi khí hậu ở ĐBSCL: Giải pháp từ cây dừa nước” được nhiều đại biểu quan tâm.

Theo Ths Trần Thanh Tâm, sử dụng dừa nước như là một loại vật liệu sống tự nhiên trong việc kiến tạo hành lang “xanh” ngăn chống việc xâm thực, sạt lở các vùng đất ven sông, rạch, hoặc bờ biển bùn có thể giúp hình thành các vùng “cọc” tự nhiên trong quá trình phát triển hệ thống đê biển.

Ths Kỷ Quang Vinh, Sở Tài nguyên và Môi trường Cần Thơ đưa ra ba đề xuất rất cụ thể để hơn 17 triệu dân ĐBSCL sống thích ứng với biến đổi khí hậu. Thứ nhất, xây dựng đê bao biển và đê sông chống xâm nhập mặn có khả năng điều tiết nước, để bảo đảm cho dân cư sống tại chỗ với rất ích thay đổi. Thứ hai, nâng nền khu dân cư cao hơn mức nước ngập cao nhất và chuyển đổi nghề nghiệp, cây trồng, vật nuôi, tạo nguồn sống mới ổn định cho tất cả cư dân. Thứ ba, di dời toàn bộ dân cư đến vùng cao hơn như: Tây nguyên và Đông nam bộ. Ths Kỷ Quang Vinh đề nghị, cần có một nghiên cứu ở quy mô vùng để tính toán chi phí và lợi ích của ba đề xuất trên. Kết quả nghiên cứu nhằm xác định đề xuất nào là có lợi nhiều nhất kể cả về kinh tế và môi trường, sinh thái.

PGS.TS.NGND Huỳnh Văn Hoàng, Viện Khoa học và công nghệ Phương Nam đưa ra vấn đề “Bảo vệ ĐBSCL do BĐKH”. Diễn giả kiến nghị: Trong công tác đối ngoại, cần có chiến dịch ngoại giao mạnh mẽ kêu gọi Liên hiệp quốc, các nước nhất là các nước giàu có tổ chức quốc tế xây dựng chiến lược cụ thể chống BĐKH; kêu gọi, gây áp lực quốc tế để tất cả các nước đều giảm thiểu khí thải; đề nghị các nước giàu có trách nhiệm giúp đỡ, hỗ trợ Việt Nam về tài chính, công nghệ ứng phó có hiệu quả. Đối với chúng ta, tuyên truyền sâu rộng nâng cao nhận thức cho nhân dân, nhất là tại các khu-cụm công nghiệp. Chính phủ cần thành lập Ban tổ chức ứng phó với BĐKH ở cấp cao nhất; thành lập một viện có nhiều phòng thí nghiệm chuyên đề mạnh và hợp tác với các viện của các bộ để quan trắc, giám sát và nghiên cứu những ảnh hưởng. Nghiên cứu, rà soát lại tất cả quy hoạch; thúc đẩy việc trồng và bảo vệ rừng; có chính sách khuyến khích sản xuất và sử dụng năng lượng sạch…

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

5 nhà khoa học của Liên hiệp Hội Việt Nam được tôn vinh “Nhà khoa học của Nhà nông” năm 2026
Sáng 2/10/2026, tại Hà Nội, Trung ương Hội Nông dân Việt Nam tổ chức Chương trình tôn vinh “Nhà khoa học của Nhà nông” lần thứ VII và trao giải Cuộc thi “Sáng tạo kỹ thuật Nhà nông” toàn quốc lần thứ XI năm 2026. Trong số 42 cá nhân được tôn vinh năm nay có 5 nhà khoa học do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam giới thiệu.
Thanh Hoá: Kinh tế tuần hoàn, tín chỉ Carbon và mô hình sản xuất không phát thải
Ngày 30/9/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Thanh Hóa (Liên hiệp hội) phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ, Trường Đại học Hồng Đức và Viện Nông nghiệp Thanh Hóa tổ chức Diễn đàn khoa học với chủ đề “Kinh tế tuần hoàn và tín chỉ Carbon - Phương pháp xây dựng mô hình sản xuất không phát thải tại Thanh Hóa”.
Đắk Lắk: Phát huy nguồn lực trí thức, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo tỉnh
Trong giai đoạn 2026-2030, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo (ĐMST) là yêu cầu quan trọng để Đắk Lắk khai thác tốt hơn tiềm năng, lợi thế và các nguồn lực cho phát triển. Cùng với KHCN và CĐS, ĐMST cần được nhìn nhận không chỉ là hoạt động của các viện, trường hay doanh nghiệp công nghệ, mà là một phương thức tổ chức nguồn lực để giải quyết những bài toán phát triển cụ thể của địa phương.
Phú Thọ: Tập huấn, truyền thông thúc đẩy giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật tại xã Lạc Sơn
Ngày 25/9/2026, tại xã Lạc Sơn, tỉnh Phú Thọ, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ phối hợp với Viện Tài chính vi mô và Phát triển cộng đồng (MACDI) cùng các cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức chương trình tập huấn, truyền thông thúc đẩy giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật.
Đại hội Hội Khoa học lịch sử Việt Nam lần thứ VIII: GS.TS Nguyễn Văn Kim được bầu làm Chủ tịch
Ngày 30/9/2026, tại Hà Nội, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tổ chức Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2026-2031. Đại hội là dấu mốc quan trọng mở ra chặng đường phát triển mới của Hội; GS.TS Nguyễn Văn Kim được tín nhiệm bầu giữ chức Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam nhiệm kỳ 2026-2031.
Thế hệ trẻ và bản lĩnh chính trị trên không gian số: Chủ động đối thoại, phản biện và “phủ xanh” thông tin tích cực
Trong kỷ nguyên số, không gian mạng tác động sâu sắc đến nhận thức, tư tưởng của xã hội, đặc biệt là thế hệ trẻ. Trước tin giả, thông tin xấu độc và các luận điệu sai trái, thù địch, tuổi trẻ Việt Nam thông qua các diễn đàn chính luận đã khẳng định bản lĩnh chính trị vững vàng, chủ động đối thoại, phản biện các luận điệu sai trái và góp phần “phủ xanh” không gian mạng bằng những giá trị tích cực.
Phản biện để hoàn thiện, không phải để phủ định
Hoạt động tư vấn, phản biện (TVPB) của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã trở thành một phương thức quan trọng để tập hợp trí tuệ đội ngũ trí thức, cung cấp luận cứ khoa học tin cậy cho Đảng, Nhà nước. Để hiểu rõ hơn về sự phát triển, phương pháp tổ chức và những bài học thực tiễn từ hoạt động này, phóng viên đã có cuộc trao đổi với ThS Bùi Kim Tuyến, Trưởng ban TVPB, VUSTA
Liên hiệp Hội Việt Nam hợp tác với doanh nghiệp công nghệ, hiện thực hóa các mục tiêu chuyển đổi số
Ngày 28/9, tại Hà Nội, Lãnh đạo Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã có buổi trao đổi, làm việc với Công ty CP Tập đoàn Truyền thông StarWorld (Starworld Group) về các giải pháp chuyển đổi số, hướng tới xây dựng nền tảng công nghệ khoa học phục vụ chiến lược phát triển của VUSTA trong giai đoạn 2026 - 2031.
Phó Chủ tịch Trương Xuân Lam: Đưa khoa học, công nghệ vào giải quyết những bài toán thực tiễn ngành hàng không
Ngày 26/9, tại Hà Nội, Hội Khoa học và Công nghệ Hàng không Việt Nam tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ VII, nhiệm kỳ 2026-2031. Phát biểu tại Đại hội, GS.TS Trương Xuân Lam, Phó Chủ tịch LHHVN nhấn mạnh yêu cầu Hội tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, tập hợp và phát huy đội ngũ trí thức, đưa KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào giải quyết những vấn đề của ngành hàng không.