Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 02/11/2023 11:38 (GMT+7)

Đảm bảo, thống nhất đồng bộ Luật Quy hoạch

Theo Bộ Xây dựng, đô thị hóa là quá trình tất yếu, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế xã hội nhanh và bền vững trong thời gian tới. Việc kết hợp hài hòa quá trình đô thị hóa, phát triển đô thị với công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nông thôn mới, bảo đảm sự gắn kết chặt chẽ giữa đô thị và khu vực nông thôn trong tiến trình đô thị hóa là hết sức cần thiết.

Do đó, công tác quy hoạch đô thị và nông thôn cần có tư duy đổi mới và cần được quy định thống nhất trong cùng một Luật để đảm bảo đồng bộ, hiệu quả, dễ triển khai áp dụng trong thực tiễn.

Hiện nay, pháp luật về quy hoạch đô thị, quy hoạch xây dựng và quy hoạch nông thôn được quy định tại 02 luật chính là: Luật Quy hoạch đô thị năm 2009 và Luật Xây dựng năm 2014 (Chương II về Quy hoạch xây dựng), được sửa đổi, bổ sung tại Luật số 35/2018/QH14 và Luật số 62/2020/QH14 và các văn bản quy định chi tiết thi hành Luật. Đồng thời, trong hệ thống pháp luật, có những luật liên quan đến quy hoạch đô thị, quy hoạch xây dựng như Luật Quy hoạch năm 2017; Luật Kiến trúc năm 2019; Luật Nhà ở năm 2014; Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014; Luật Đất đai năm 2013; Luật Đấu thầu năm 2013; Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 và các luật chuyên ngành liên quan đến quy hoạch. 

Hệ thống pháp luật về quy hoạch đô thị, quy hoạch xây dựng và quy hoạch nông thôn mặc dù đã được sửa đổi bổ sung và ngày càng hoàn thiện, tuy nhiên chưa được điều chỉnh thống nhất tại một luật; việc điều chỉnh trực tiếp tại Luật Quy hoạch đô thị năm 2009 và Luật Xây dựng năm 2014 (Chương II về Quy hoạch xây dựng) và tản mạn tại nhiều luật khác có liên quan đang gây khó khăn cho công tác áp dụng và thi hành.

Do đó, cần thiết quy định trong một luật, thống nhất về tên gọi, đồng thời làm rõ nội hàm của quy hoạch đô thị và nông thôn, cũng như mối quan hệ giữa quy hoạch đô thị và nông thôn với các quy hoạch trong hệ thống quy hoạch theo quy định của Luật Quy hoạch năm 2017.

tm-img-alt

KTS. Trần Ngọc Chính – Chủ tich Hội Quy hoạch phát triển đô thị Việt Nam

Năm 2017, Luật Quy hoạch ra đời và chính thức có hiệu lực vào tháng 01/01/2019. Sau nhiều năm Luật Quy hoạch thực hiện, đã bộc lộ một số tồn tại, hạn chế trong việc triển khai lập, thẩm định, quyết định/phê duyệt quy hoạch cấp quốc gia, quy hoạch vùng và quy hoạch tỉnh ở các địa phương, KTS. Trần Ngọc Chính – Chủ tich Hội Quy hoạch phát triển đô thị Việt Nam cho biết.

KTS Chính cho biết thêm, theo quy định của Luật Quy hoạch, việc lập Quy hoạch tổng thể quốc gia nhằm đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ, khớp nối hệ thống quy hoạch trong cả nước. Đó là sự khớp nối đồng bộ giữa quy hoạch tổng thể quốc gia – quy hoạch ngành- quy hoạch không gian biển quốc gia, để làm căn cứ lập quy hoạch vùng và quy hoạch tỉnh.

Quy hoạch vùng

Cũng theo Luật Quy hoạch, phải lập 06 quy hoạch vùng cho 6 vùng kinh tế- xã hội. Đó là Vùng trung du và miền núi phía Bắc; Vùng đồng bằng sông Hồng; Vùng Bắc Trung bộ và Duyên hải Miền Trung; Vùng Tây Nguyên; Vùng Đông Nam Bộ; và vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Hiện tại, mới chỉ có Quy hoạch vùng ĐBSCL được phê duyệt.

Đây là quy hoạch vùng đầu tiên ở nước ta được lập theo Luật Quy hoạch, nhằm tích hợp tất cả các nội dung phát triển kinh tế- xã hội, phát triển không gian, hệ thống đô thị nông thôn trên một vùng lãnh thổ rộng lớn. Đây là quy hoạch đã được nghiên cứu công phu, khoa học, đã đưa ra các định hướng phát triển và làm cơ sở pháp lý cho công tác lập quy hoạch tỉnh của 13 địa phương trong toàn vùng. Thông qua quy hoạch vùng ĐBSCL, phương hướng tổ chức không gian và phát triển của các ngành, lĩnh vực trên phạm vi lãnh thổ của vùng sẽ được cụ thể hóa và kết nối, thống nhất, đồng bộ, trở thành công cụ thực hiện chức năng quản lý nhà nước để triển khai các quy hoạch cấp dưới một cách thiết thực và hiệu quả.

Vì vậy, để có được một Quy hoạch hoàn chỉnh cần tiến hành đánh giá và kế thừa những nội dung trong quy hoạch không gian vùng lãnh thổ đã được đề cập trong đồ án Điều chỉnh quy hoạch xây dựng vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050.

Bên cạnh đó, hạn chế lớn nhất trong quy hoạch vùng hiện nay, đó là thiếu bộ máy quản lý, cơ chế phối hợp và cơ chế hoạt động chung của vùng. Điều này ngay cả trong trong Luật tổ chức chính quyền địa phương cũng chưa đề cập đến cấp chính quyền vùng. Việc quản lý phát triển vùng liên tỉnh chủ yếu theo nguyên tắc hợp tác và chỉ đạo của Trung ương.

Vì vậy, mỗi vùng cần có bộ máy để quản lý quy hoạch vùng và liên kết vùng theo đúng quy hoạch, trên cơ sở quy chế hoạt động cấp vùng. Kinh nghiệm quản lý phát triển vùng ở các nước cho thấy, dù quản lý vùng theo hình thức nào, thì cơ quan quản lý vùng cần tôn trọng các chức năng và quyền hạn của các địa phương trong vùng, để công tác quản lý vùng thực sự thiết thực và mang lại hiệu quả, KTS Chính cho biết.

tm-img-alt

Xây dựng quy hoạch thành phố Hà Nộ và thành phố Hồ Chí Minh

Ở nước ta có 5 thành phố trực thuộc Trung ương (Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng và Cần Thơ) từ lâu đã được lập Quy hoạch chung xây dựng cho 20 năm và tầm nhìn đến 30, 40 năm. Những đồ án quy hoạch chung xây dựng của 5 đô thị này cũng như nhiều đô thị quan trọng khác được các tư vấn quốc tế và tư vấn trong nước có kinh nghiệm lập, được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Đây là đồ án làm cơ sở cho việc triển khai các quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết, thiết kế đô thị để từ đó lập các dự án đầu tư xây dựng.

Trên cơ sở tuân thủ Luật Xây dựng, Luật Quy hoạch đô thị và các Luật có liên quan, trong thực tế xây dựng đô thị, các quy hoạch này đã phát huy tác dụng trong việc triển khai xây dựng và quản lý đô thị có hiệu quả. Đó là minh chứng cho công tác quy hoạch xây dựng trong thời gian qua.

Vì vậy, nếu thực hiện quy hoạch tỉnh cho 5 đô thị trực thuộc Trung ương theo Luật Quy hoạch sẽ rất khó thực thi, do những nội dung quan trọng như tổ chức không gian, tổ chức cảnh quan, tổ chức hệ thống hạ tầng xã hội, hạ tầng kỹ thuật và tổ chức quản lý các khu chức năng rất khó thực hiện và không khả thi. Áp theo Luật Quy hoạch mới, các quy hoạch trước đây đã đạt được yêu cầu từ 80- 90%. Nếu bây giờ lập quy hoạch thành phố trực thuộc Trung ương theo Luật Quy hoạch thì khối lượng dữ liệu, thông tin cần tích hợp là rất lớn và phức tạp, kéo theo quá trình lập, thẩm định, lấy ý kiến, thủ tục thỏa thuận, với các ngành, các cấp… sẽ cần rất nhiều thời gian. Mỗi ngành lại có định hướng, chỉ tiêu riêng, gây khó khăn khi thống nhất, tích hợp trong cùng một quy hoạch.

Ví dụ, Thủ đô Hà Nội vừa phải triển khai nghiên cứu lập Quy hoạch tỉnh theo Luật Quy hoạch, vừa phải tổ chức lập điều chỉnh tổng thể Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 theo kỳ rà soát (theo Luật Xây dựng và Luật Quy hoạch đô thị) và xây dựng Chương trình phát triển đô thị đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050… Đây là điều không cần thiết, gây tốn kém về nguồn lực và thời gian thực hiện.

Vì vậy, nên chăng việc lập quy hoạch cho các thành phố trực thuộc Trung ương theo Luật Quy hoạch chỉ nên theo hướng rà soát, bổ sung những nội dung còn thiếu để có một quy hoạch chung.

tm-img-alt

Hiện nay, nếu theo Luật Quy hoạch thì Hà Nội phải xây dựng Quy hoạch Thủ đô Hà Nội. Quy hoạch Thủ đôHà Nội thực chất chỉ là cái tên khác của Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội, mà các nội dung trong đó đã được Quốc hội, Chính phủ phê duyệt với slogan rất đặc sắc “Hà Nội Xanh- Văn hóa- Văn minh- Hiện đại”.

Vậy, việc có thêm Quy hoạch Thủ đô để theo Luật Quy hoạch, với sự tốn kém đến hơn 100 tỷ, lại vừa gây khó khăn, chồng chéo cho Quy hoạch chung xây dựngthủ đô Hà Nội, sẽ vừa kéo dài thời gian, làm khó khăn cho công tác thẩm định 2 quy hoạch này và lãng phí tiền bạc của quốc gia. Đối với quy hoạch tỉnh Thành phố Hồ Chí Minh cũng tương tự như vậy, cũng sẽ gây chồng chéo, tốn kém trên 100 tỷ.

Một số phân tích về những bất cập, hạn chế của Luật Quy hoạch như đã nêu trên, cho thấy để Luật Quy hoạch được hoàn chỉnh và đi vào cuộc sống, thì rất cần có thêm thời gian kiểm chứng, xem xét, đánh giá và sửa đổi, bổ sung một số nội dung để tăng tính khả thi của Luật. Ngoài những vấn đề đã nêu, công tác tư vấn, lựa chọn chuyên gia tư vấn trong nước hay quốc tế cũng cần có những quy định bổ sung. Điều quan trọng là cần phải lựa chọn được tư vấn có kinh nghiệm, am hiểu về địa phương.

Tuy nhiên, nếu sử dụng chuyên gia tư vấn quốc tế thì bị ràng buộc bởi các quy định trong Luật Đấu thầu, dẫn đến các thủ tục liên quan thường bị kéo dài. Đây là những trở ngại đáng kể đối với các đơn vị tư vấn. Nếu sử dụng tư vấn trong nước, thì lại bị hạn chế về khả năng tiếp cận những phương pháp lập quy hoạch hiện đại, vận dụng những chuẩn mực và kinh nghiệm quốc tế.

Hồ sơ năng lực nhà thầu cũng là một vấn đề. Trong quá trình lựa chọn các đơn vị tư vấn cần có sự kiểm soát và đánh giá hồ sơ năng lực thực sự của các nhà thầu khi tham gia đấu thầu. Nếu có thể được, cần cung cấp cho các địa phương danh mục các đơn vị tư vấn trong nước và quốc tế có đủ năng lực, kinh nghiệm, làm định hướng cho các địa phương khi lựa chọn nhà thầu, tiết kiệm thời gian và chi phí không cần thiết.

Về đơn giá định mức lập quy hoạch. Mặc dù đã có văn bản của các Bộ ngành liên quan đến định mức cho công tác quy hoạch quy định mức chuyên gia tư vấn, tuy nhiên cần làm rõ cơ sở để xây dựng đơn giá; cần cụ thể cho từng loại quy hoạch trên cơ sở xác định độ khó, quy mô, vị trí lập quy hoạch… và cần được thống nhất trên cả nước.

Vì vậy, cần bổ sung quy định về nội dung hồ sơ của các loại quy hoạch, trong đó quy định cụ thể về nội dung thể hiện đối với thuyết minh tổng hợp, thuyết minh tóm tắt, dự thảo tờ trình. Nên chăng cơ quan chủ trì cần phải có hướng dẫn thống nhất trong việc lập hồ sơ, nội dung và quy cách thể hiện bản đồ, quy định số lượng bản đồ, tỷ lệ bản đồ, bản đồ chính trong toàn bộ quy hoạch, hướng dẫn cách thể hiện trên bản vẽ.

Xem Thêm

Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.
Viện Chính sách, Pháp luật và Quản lý mở Chuyên mục “Tư vấn Chính sách-Pháp luật” trên Tạp chí điện tử Việt Nam Hội nhập
Từ ngày 01/11, Viện Chính sách, Pháp luật và Quản lý phối hợp với Tạp chí Việt Nam Hội nhập chính thức triển khai chuyên mục “Tư vấn Chính sách - Pháp luật” trên Tạp chí điện tử Việt Nam Hội nhập, nhằm tăng cường kết nối giữa hoạt động nghiên cứu, phổ biến kiến thức chính sách, pháp luật với yêu cầu thực tiễn của đời sống, hoạt động sản xuất, kinh doanh và quản lý xã hội.
Bắc Ninh: 40 mô hình, sản phẩm đoạt giải Cuộc thi năm 2026
Sáng ngày 17/10, tại Trung tâm hội nghị thành phố diễn ra Lễ tổng kết và trao giải Cuộc thi Sáng tạo thanh thiếu niên, nhi đồng thành phố Bắc Ninh năm 2026; phát động Cuộc thi năm 2027. Cuộc thi do Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố phối hợp cùng Thành đoàn, các Sở: Giáo dục và Đào tạo; Khoa học và Công nghệ; Tài chính; Báo và Phát thanh, Truyền hình thành phố tổ chức.
Đắk Lắk: Góp ý hồ sơ đầu tư dự án sản xuất nông nghiệp
Chiều 19/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức hội đồng góp ý, phản biện xã hội và phản biện khoa học đối với hồ sơ đề nghị chấp thuận chủ trương đầu tư Dự án sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại xã Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk.
An Giang: Tập huấn ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong khởi nghiệp sáng tạo
Ngày 18/10, tại phường Long Xuyên, tỉnh An Giang, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh An Giang phối hợp với Hội Khởi nghiệp Đổi mới sáng tạo tỉnh tổ chức lớp tập huấn “Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong khởi nghiệp sáng tạo” với sự tham dự của khoảng 70 đại biểu đại diện các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh và người quan tâm đến hoạt động khởi nghiệp tại tỉnh.
Đắk Lắk: Phụ nữ Đắk Lắk trong dòng chảy khoa học công nghệ
Trong dòng chảy phát triển của Đắk Lắk hôm nay, phụ nữ ngày càng khẳng định vai trò trong nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Bằng trí tuệ, bản lĩnh và tinh thần trách nhiệm, chị em đang góp phần đưa tri thức vào cuộc sống, thúc đẩy phát triển bền vững.
Sơn La: Tổ chức các hội thảo tư vấn các dự án Luật sửa đổi, bổ sung
Trong hai ngày 15 và 16 tháng 10 năm 2026, Liên hiệp Hội tỉnh Sơn La tổ chức 03 hội thảo tư vấn tham gia ý kiến vào 08 dự thảo luật sửa đổi, bổ sung. Đồng chí Phạm Thị Hà - Chủ tịch Liên hiệp Hội tỉnh chủ trì hội thảo. Dự hội thảo có đại diện các sở, ngành, tổ chức liên quan; các chuyên gia, nhà khoa học.

Tin mới

Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.
Bác Giáp: Sâu nặng những ân tình với VIFOTЕС
Điều mà những người làm khoa học kính phục ở con người Đại tướng Võ Nguyên Giáp là cả khi khỏe mạnh hay đau yếu, ông vẫn hướng tới việc chung, vì sự nghiệp đổi mới, sáng tạo của đất nước. Khi sức khỏe không còn đủ để đến tham dự các lễ trao giải, tôn vinh nhà khoa học, Đại tướng vẫn dõi theo; các thành viên trong Quỹ và Liên hiệp Hội Việt Nam vẫn đến gặp Đại tướng để báo cáo và nghe chỉ đạo.