Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 05/03/2010 21:12 (GMT+7)

Chăn nuôi với biến đổi khí hậu và ô nhiễm không khí

Tuỳ theo trình độ thâm canh, phần năng lượng tiêu thụ ở các công đoạn sản xuất chăn nuôi có sự khác nhau lớn (Sainz, 2003). Trong các hệ thống chăn nuôi hiện đại, một khối lượng lớn năng lượng chi dùng vào sản xuất thức ăn gia súc, như sản xuất thức ăn thô cho súc vật nhai lại, hoặc thức ăn tinh cho gia cầm và lợn. Cũng còn năng lượng dùng để sản xuất phân bón, một lượng năng lượng quan trọng còn tiêu dùng cho hạt giống, thuốc trừ cỏ/ trừ sâu, dầu diesel để chạy máy (cày bừa, thu hoạch, vận chuyển) và điện (bơm tưới tiêu, sấy khô, sưởi ấm…). Lượng khí CO2 do việc dùng nhiên liệu hoá thạch ở trang trại chăn nuôi trong hệ thống sản xuất thâm canh thải ra chắc chắn còn lớn hơn lượng khí CO2 thải ra trong quá trình sản xuất phân đạm hoá học dùng để sản xuất thức ăn gia súc. Sainz (2003) tính ra rằng, trong những năm 1980, trại chăn nuôi điển hình ở Mỹ, để sản xuất 1 kg thịt gà tiêu tốn khoảng 35 Megajun (MJ), một kg thịt lợn 46 MJ và 1kg thịt bò 51 MJ, bằng 80 – 87% năng lượng dùng trong chu trình sản xuất. Một phần khá lớn năng lượng chi dùng trên là điện, điện phát thải khí CO2 ít hơn so với trực tiếp dùng nhiên liệu hoá thạch. Chăn nuôi thâm canh súc vật dạ dày đơn dùng điện nhiều hơn (chủ yếu dùng để sưởi, làm mát và thông gió) nhưng cũng dùng nhiều nhiên liệu hoá thạch để vận chuyển thức ăn. Tuy nhiên, trong chăn nuôi, hơn một nửa năng lượng chi dùng để sản xuất thức ăn (cũng như vậy đối với chăn nuôi bò thịt thâm canh). Chúng tôi đã so sánh phần năng lượng tiêu tốn để sản xuất phân bón với năng lượng chi dùng trong sản xuất thức ăn gia súc của hệ thống chăn nuôi thâm canh. Nếu tính gộp cả chi phí năng lượng dùng cho sản xuất hạt giống, thuốc diệt cỏ/ trừ sâu và chạy máy thì năng lượng dùng để sản xuất thức ăn gia súc nhiều hơn năng lượng tiêu tốn trong sản xuất phân bón.

Năng lượng mà trang trại chỉ dùng trong sản xuất nông nghiệp ở Minnesota (Mỹ)

Mặt hàng

Thứ tự xếp hạng

Diện tích cây lương thực 10 3km2

Đầu con (10 4) Tấn (10 6)

Dầu diesel (1000m3 – 2.65-10 3tấn (CO2)

LPG (1000 m3 2,30 – 10 3tấn (CO2)

Điện (10 6KWh – 288 tấn (CO2)

Thải trực tiếp CO2 (10 3tấn)

Ngô

4

27,1

238

242

235

1255

Đậu tương

3

23,5

166

16

160

523

Lúa mì

3

9,1

62

68

67

199

Sản xuất sữa (tấn)

5

43

47

38

367

318

Lợn

3

4,85

59

23

230

275

Bò thịt

12

0,95

17

6

46

72

Gà tây (tấn)

2

40

14

76

50

226

Củ cải đường

1

1,7

46

6

45

149

Ngô ngọt/ đậu

1

0,9

9

5

25

Có một số trường hợp, sản xuất thức ăn gia súc không phải là lĩnh vực tiêu phí nhiều năng lượng hoá thạch nhất. Theo minh hoạ của những người nuôi bò sữa ở Minnesota thì các trại bò sữa là những hình mẫu quan trọng. Điện là loại hình sử dụng năng lượng chính của họ. Trái lại, phần lớn các chủ trại trồng cây lương thực ở bang này sử dụng dầu diesel làm nguồn cung cấp năng lượng chủ yếu nên kết cục thải ra nhiều khí CO2 hơn (Ryan và Tiffany, 1998). Trên cơ sở nay chúng tôi cho rằng lượng khí CO2 các trang trại ở Minnesota phát thải từ việc sử dụng năng lượng có nguồn gốc từ sản xuất thức ăn gia súc. Lượng phát thải vượt quá các phát thải gắn với phân đạm sử dụng. Đối chiếu với mức phân bón bình quân (ở Mỹ 150 kg N cho 1 ha ngô) thì trồng ngô ở Minnesota đáng ra phát thải khoảng 1,0 triệu tấn khí CO2, thế nhưng việc sử dụng năng lượng cho sản xuất ngô ở đây đã thải ra 1,26 triệu tấn khí CO2. Như vậy, một nửa khí CO2 của 2 mặt hàng chính phát thải với khí phát thải từ trồng ngô và đậu tương ở bang Minnesota có thể quy cho ngành chăn nuôi thâm canh. Tính gộp cả sản xuất thức ăn gia súc với nuôi lợn và sản xuất sữa, trong nông nghiệp bang Minnesota , ngành chăn nuôi phát thải khí CO2 nhiều nhất. Các hình ảnh của bang Minnesota hoà đồng với sản xuất thức ăn trên thế giới và cơ cấu gia súc trong các hệ thống thâm canh. Theo tính toán cuối cùng, chỉ riêng ngô, tầm cỡ phát thải bằng phát thải do sản xuất lượng phân N dùng cho cây trồng làm thức ăn gia súc. Cứ cho là cách tính toán bảo thủ, chúng tôi thấy lượng khí CO2 phát thải do các trang trại sử dụng nhiên liệu hoá thạch để sản xuất thức ăn so với khí phát thải từ sản xuất lượng phân đạm dành cho sản xuất thức ăn, có thể hơn 50%, nghĩa là 60 triệu tấn CO2 trên toàn cầu. Chúng tôi còn phải tính thêm vào đó khoảng 30 triệu tấn CO2 phát thải liên quan trực tiếp với các công đoạn nuôi vỗ gia súc (từ hình ảnh rút ra ở Minnesota lập nên bức tranh chung của chăn nuôi thâm canh toàn cầu).

Thức ăn chủ yếu dựa vào đồng cỏ tự nhiên và phụ phẩm trồng trọt nên lượng khí phát thải do sử dụng nhiên liệu hoá thạch ở các trang trại chăn nuôi thuộc hệ thống quảng canh so với tính toán nêu trên, không lớn lắm, cũng có thể là không đáng kể. Điều này đã được khẳng định bởi thực tế là, nhiều vùng rộng lớn ở các nước đang phát triển, đặc biệt là ở châu Á và châu Phi, người ta thường dùng súc vật làm nguồn cung cấp sức kéo quan trọng, đây là một thực tiễn tránh phát thải khí CO2. Người ta đã tính được năm 1992 ở các nước đang phát triển, khoảng một nửa diện tích canh tác dùng sức kéo động vật (Delgado và những người khác, 1999). Hiện không có những tính toán mới và hinh tượng trên đang giảm một cách nhanh chóng do có nhiều vùng đang cơ giới hoá nhanh như ở Trung Quốc và một phần Ấn Độ. Tuy nhiên, ở nhiều nơi trên thế giới, sức kéo súc vật vẫn là loại cung cấp năng lượng quan trọng thay thế nhiên liệu hoá thạch, và có một số nơi, nhất là ở Tây Phi, hình tượng này đang tăng.

Thay đổi cách sử dụng đất gắn liền với chăn nuôi hàng năm có thể thải từ 2,4 tỷ tấn CO2

Việc sử dụng đất ở nhiều nơi trên thế giới đang tiếp tục thay đổi để đáp ứng sự cạnh tranh giữa các chủ thể sử dụng. Thay đổi cách sử dụng đất tác động đến các dòng cacbon và có nhiều cách sử dụng đất dính dáng đến chăn nuôi như lấy đất để làm đồng cỏ hoặc để sản xuất thức ăn gia súc hoặc lấy những đồng cỏ rộng lớn để trồng rừng.

Rừng chứa nhiều cacbon hơn ruộng đồng trồng cây hàng năm hoặc đồng cỏ, cho nên khi thu hoạch cây rừng, hoặc tệ hơn, khi đốt rừng thì một lượng lớn khí cácbon từ thực vật và đất giải thoát vào khí quyển. Sự suy giảm thực các kho dự trữ cacbon không đơn giản ngang bằng dòng CO2 thực thoát ra từ các diện tích bị chặt đốn sạch. Thực tế phức tạp hơn nhiều: do phá rừng sinh ra một phức hợp về kiểu cách của các dòng thay đổi theo chiều hướng dài lâu (khuyến cáo IPCC). Tính toán các dòng cacbon do chuyển đổi đất rừng, về nhiều mặt, là bản kiểm kê các thành phần phát thải rắc rối nhất. Việc tính toán các phát thải từ rừng trọc không chắc chắn vì có rất nhiều yếu tố thất thường: mức phá rừng hằng năm, mức độ đất trọc, lượng cacbon chứa trong hệ sinh thái khác nhau, kiểu cách thải khí CO2 (đốt hay mục nát) và lượng cacbon thải ra từ đất khi đất đai bị xáo trộn.

Thời gian phản ứng của các hệ sinh thái dài, ngắn khác nhau. Ví dụ, sinh khối thiêu chết trong vòng không đầy 1 năm, trong lúc đó quá trình phân huỷ cây gỗ có thể kéo dài hàng thập niên, và việc mất cacbon của đất có thể liên tục xảy ra hàng thập niên hoặc hàng thập kỷ. Theo tính toán của IPCC, do phá rừng nhiệt đới mà từ 1980 đến 1989 hàng năm thải ra 1,6 x 1,0 tỷ tấn cacbon. Lượng cacbon giải thoát của một năm bất kỳ nào đó thuộc phần đất chuyển đổi và thiêu đốt sinh khối chỉ khoảng 50 – 60%. Phần còn lại giải thoát từ quá trình oxy hoá sinh khối của những năm trước (Houghem, 1990).

Rõ ràng, việc tính toán về khí CO2 phát thải do sử dụng đất hoặc do thay đổ cách sử dụng đất không quá phức tạo như đối với đốt cháy nhiên liệu hoá thạch. Việc quy những phát thải đó cho ngành sản xuất đặc thù như ngành chăn nuôi còn khó hơn. Tuy vậy, đã thấy được tầm quan trọng do chăn nuôi phá rừng ở châu Mỹ Latinh là lục địa đang gánh chịu mất rất nhiều diện tích rừng. Mỹ Latinh được xem là nơi mở rộng đồng cỏ và đất sản xuất thức ăn gia súc mạnh nhất, hướng mở rộng chủ yếu là từ đất rừng. Theo nghiên cứu của Wassenaar và những nước khác (2006) để có những diện tích quang đãng làm đồng cỏ và vùng rộng lớn lập trại chăn nuôi có lẽ là động cơ đầu tiên của khai hoang. Dù cho rằng những kiểu sử dụng đất cuối cùng nói trên chỉ là một trong những lý do dẫn đến khai hoang thì chắc chắn chăn nuôi là một trong những lực lượng phá rừng dẫn đầu. Việc chuyển đổi rừng thành đồng cỏ thải ra những lượng cacbon lớn vào khí quyển, đặc biệt không phải đốn chặt mà đốt cháy để giải phóng đất. Giai đoạn 2000 – 2010 hàng năm đồng cỏ châu Mỹ Latinh tiến vào rừng 2,4 triệu ha. Nếu chúng ta thừa nhận, ít nhất một nửa diện tích đất trồng xâm lấn rừng ở Bolivia và Braxin dùng để cung cấp thức ăn cho chăn nuôi, thì hàng năm phá rừng thêm trên 0,5 triệu ha cho chăn nuôi – đưa đất đồng cỏ và đất sản xuất thức ăn gia súc lên con số khoảng 3 triệu ha năm.

Xem xét tình hình trên và tới khuynh hướng phát triển chăn nuôi thâm canh, mở rộng diện tích đất sản xuất thức ăn gia súc, chúng ta có thể ước tính, do phá rừng hàng năm chăn nuôi thải ra khoảng 2,4 tỷ tấn CO2.

Thêm vào quá trình sản sinh ra khí CO2, việc sử dụng đất cũng tác động tiêu cực đối với các loại phát thải khác. Ví dụ, Mosier và những người khác (2005) nhấn mạnh, do chuyển đổi rừng thành đồng cỏ mà quá trình oxy hoá CH4 do vi sinh vật thổ cư bị giảm mạnh, và trường hợp đất đồng cỏ bị nén chặt do gia súc dẫm đạp nên hạn chế khí thẩm thấu vào lòng đất.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Liên hiệp Hội Việt Nam chủ trì tổ chức họp các đoàn dự Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI
Căn cứ Thông tri số 10/TT-MTTQ-UB của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam về việc triệu tập đại biểu dự Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI, với vai trò là Trưởng các Đoàn của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức Liên hiệp, Liên hiệp Hội Việt Nam đã chủ trì tổ chức họp các đoàn để triển khai thực hiện thông tri của MTTQ Việt Nam.
Thủ tướng Lê Minh Hưng lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Philippines
Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa Philippines Ferdinand Romualdez Marcos Jr, Chủ tịch ASEAN năm 2026, ngày 7/5, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Minh Hưng dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu, Philippines từ ngày 7 đến 8/5/2026.
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.