Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 08/01/2009 23:53 (GMT+7)

Ẩm thực của đồng bào Khơ - me Nam bộ

Do sống cộng cư, đan xen với các dân tộc khác, văn hóa ẩm thựuc của người Khơ - me có chịu ảnh hưởng đến ẩm thực của các dân tộc láng giềng, nhất là người Việt và người Hoa. Tuy nhiên, ẩm thực của người Khơ - me Nam bộ vẫn mang những nét đặc trưng dễ nhận biết.

Có thể phân chia cách ứng xử với các món ăn của người Khơ - me thành 3 nhóm: cơm, món điểm tâm và món ăn với món dùng khi uống bia - rượu (món nhậu).

Các món ăn với cơm

Khác với người Hoa và giống với người Việt, trong hai bữa ăn chính, người Khơ - me thường có các món ăn mặn, món canh, món xào. Và gần đây, do ảnh hưởng từ bên ngoài, họ cũng có thêm món tráng miệng (bánh, mứt hoặc trái cây).

Các món canh

Đồng bào rất thích ăn canh nóng. Trong các món canh cũng rất đa dạng, phong phú. Ở đây chỉ đơn cử một vài loại canh thông dụng mang tính độc đáo của người dân ĐBSCL. Có rất nhiều món canh khoái khẩu, trong đó phải kể đến canh môn, canh thốt nốt non, canh củ hủ dừa, củ hủ đủng đỉnh, xiêm lo mít, xiêm lo bình bát, xiêm lo thập cẩm… (Từ Xiêm ở đây có xuất xứ từ quốc hiệu Xiêm La, tức Thái Lanngày nay. Không phải sim lohay xim lonhư một số người nhầm lẫn).

Xiêm lo là một loại lẩu phổ biến trong đám tiệc. Món ăn bắt nguồn từ Thái Lan cách đây nhiều thập kỷ. Nếu xiêm lo của người Nam bộ chế biến từ các món tổng hợp như bắp chuối xắt nhỏ nấu với đầu hoặc xương cá khô, thêm chút nước mắm sặt hoặc mắm lóc, sả, ớt, rau om thì canh xiêm lo của người Khơ - me đa dạng hơn. Thêm món mắm bò hốc (prohoc) đưa vào nồi nấu thật lâu cho nhừ, lược bỏ xương, cho sả đập dập hoặc xắt nhuyễn bỏ vào.

Xiêm lo bình bát

Bình bát là loại dây leo lá hình ba góc bầu, màu xanh đậm, trái nhỏ như dưa leo (dưa chuột) thường có ở 2 huyện miền núi Tịnh Biên và Tri Tôn, vùng Thất Sơn - An Giang. Lẩu này thường chọn là bình bát kết hợp với mục măng tươi hoặc khô xắt mỏng, cho thêm vài cái nấm rơm nấu hỗn hợp.

Bên tô canh nóng hổi, vừa thổi vừa ăn, mới cảm giác hết vị ngon. Thử gắp một đũa bình bát chen măng và nấm rơm, có thêm miếng cá lóc đồng, đưa vào miệng. Hãy nhai từ từ, chưa nuốt vội để thưởng thức vị thơm và ngọt mặn của mắm, vị cay của sả, ớt. Chan nước canh vào bát húp ứa mồ hôi, giải cảm sẽ thấy món ngon không gì sánh kịp.

Gần đây, do ảnh hưởng của ba dòng văn hóa cộng cư: Việt - Khơ - me - Hoa và đời sống không ngừng được cải thiện, người Khơ - me Nam bộ cũng thích các món đặc sản như: cá chẽm nấu môn, lẩu bần cá ngát ở Kế Sách (Sóc Trăng) và các tỉnh miền biển.

Các món kho, xào

Cùng cộng cư lâu năm bên cạnh người Việt và người Hoa nên người Khơ - me cũng tiếp thu cách làm các món dưa, gỏi để ăn với cơm, nhưng độc đáo nhất vẫn là loại dưa làm từ dưa hấu, dưa leo, dưa gang, dưa lê, củ cải, dưa cải, dưa giá, dưa điên điển, dưa đu đủ với mắm ruột, dưa chuối cây làm ghém, gỏi sầu đâu…

Mắm kho

“Mắm kho chấm với dưa bồng

Nồi cơm vét sạch, mẹ chồng khen ngon”

Đó là thời trước, còn hiện nay, món mắm kho ăn kèm với hàng chục thứ rau. Mắm kho của người Khơ - me tức là mắm prohoc, khác với mắm kho của người Việt ở Nam bộ (phổ biến là mắm chao, từ các loại cá đồng: cá lóc, cá sặt và cá tra nuôi trong ao, hầm)…

Do sống gần với người Việt, món ăn của đồng bào khơ - me dần dà được biến đổi cho phù hợp với địa phương. Ngoài thành tố mắm là chủ đạo, gần đây người ta thêm vào nhiều thứ như: thịt ba rọi, tép, tôm càng, mực, cá kèo, cá đối, cá ngát, cá chẻm… biến thành lẩu mắm, có nét tương đồng với lẩu Thái…

Ăn lẩu mắm, đồng bào Khơ - me thường có tập tính uống chút rượu cho ấm bụng, dễ tiêu thực. Ở Trà Vinh, người ta thích dùng rượu uống với rượu nếp Xuân Thạnh, loại rượu ngon nổi tiếng, sản xuất tại thị xã Trà Vinh, tuy “nặng đô” (cao độ) nhưng được cái là sau khi uống ít bị phản ứng phụ hoặc bị nhức đầu.

Măng tre và thịt động vật, gồm heo (lợn), bò là những loại món ăn không thể thiếu của người Khơ - me Nam bộ. Mùa nào thức nấy, “ăn theo thủa, ở theo mùa”. Mùa mưa thì ăn măng luộc chấm mắm rươi hoặc nước mắm cá linh. Khi mùa nước nổi tràn đồng, cá linh từ Biển Hồ (Campuchia) đổ về vô số kể. Măng nấu canh chua, măng xào ếch, măng xào vói gà thả vườn. Người Khơ - me rất thích ăn thịt kho hột vịt - nước dừa hoặc thịt kho tàu, măng khô kho với thịt heo hoặc thịt bò. Bò là con vật luôn gần gũi với người Khơ - me. Có thể nói “con bò là đầu cơ nghiệp” đây là một con vật hữu ích, ngoài việc cho sức kéo, thi hội đua bò hàng năm, người Khơ - me vùng Bảy Núi - An Giang còn mổ bò để làm thức ăn.

Với thịt bò, có thể làm nhiều món khoái khẩu: bò xào lá vang, ướp nghệ, nêm nước cốt dừa; bò xào măng chua, bò kho, lòng bò luộc sả và cháo bò miền sơn cước…

Cháo bò ở nhiều nơi chỉ đơn thuần dùng thịt nạc nên ăn chưa hấp dẫn. Riêng ở miền núi, huyện biên giới Tri Tôn - An Giang, tô cháo bò được bổ sung lòng luộc và tủy, dùng trái trúc hay chanh (giống trái chanh nhưng cò mùi thơm đặc trưng) ăn rất ngon.

Ngoài việc dùng cơm, người Khơ - me cũng thường ăn thay cơm hoặc dùng điểm tâm với các loại bún nước (numb chốc): bún nước cá, bún nước ngãi, bún cari… trong đó, món bún nước lèo là món “ruột” (món chủ đạo - BTV), không chỉ có người Khơ - me thích ăn mà người Việt và người Hoa, thậm chí cả Tây ba lô cũng ưa chuộng.

Bún nước lèo, gồm có bún, nước lèo, rau, muối ớt (thay vì ăn nước mắm), dấm nuôi. Khác với Sóc Trăng và một số nơi, người Khơ - me ở Trà Vinh bổ sung thịt heo quay, bánh cống, chả giò (nem rán) chiên giòn… nên hương vị phong phú, đậm đà, khó quên.

Các món ăn điểm tâm

Ngoài các loại bánh của những dân tộc khác trong vùng mà người Khơ - me ưa thích bánh hỏi, bánh xèo, bánh ít, bánh bông lan, bánh tai yến… còn có các loại bánh đặt trưng Khơ - me Nam bộ như: Bánh gừng (num khnhây), bánh bột nổi (num trom), bánh ống (num kongpong), bánh xếp (numkô)…

Bánh tét Trà Cuôn

Bánh tét là món ăn ngày tết. Trước đây, người ta nói bánh tết (làm để ăn trong ba ngày tết), lâu ngày đọc trại ra là bánh tét. Cũng có người cho đây là loại bánh khá to, phải tét ra từng khúc mới dễ ăn. Hiện nay, bánh tét có mặt trong các hội hè, đình đám, giỗ, cưới, kể cả thôi nôi, đầy tháng hay ngày thường cũng có bày bán ở một số quầy thực phẩm chuyên dụng.

Ở tỉnh Trà Vinh, có một nơi nổi tiếng với món bánh tét “danh bất hư truyền”. Đó là ấp Trà Cuôn, xã Kim Hòa, huyện Cầu Ngang, với 8 cơ sở sản xuất.

Bánh tét Trà Cuôn thơm ngon, dẻo. Những người gói bánh tét ở đây đều chọn nguyên liệu chất lượng cao để làm bánh: nếp sáp, thịt ba rọi, đậu xanh. Cách làm cũng khá công phu. Nếp sáp đem gút cho ráo nước rồi đâm là bù ngót, vắt kẹo nước trộn vào. Ướp muối ở độ nhạt, đậu xanh cà đãi vỏ trộn với thịt ba rọi xắt vuông dài làm nhân. Bánh gói bằng lá chuối cột dây lát. Theo kinh nghiệm nhà nghề, người làm bánh phân bổ cứ 10 lít nếp gói được 20 đòn (chiếc) bánh tét. Một nồi nấu được 70 đòn bánh nhỏ, 50 đòn bánh lớn.

Ăn bánh tét đúng điệu nghệ nhất là khi tháo dây cột, từ từ lột lá chuối rồi dùng một sợi dây đã gói bánh, miệng cắn một đầu, tay phải cầm một đầu dây khoanh tròn đòn bánh đã lột, tét từng khoanh đơm lên đĩa. Mùi nhân bánh pha lẫn hương nếp chính bốc thơm, chưa ăn càng thấy thèm.

Mỗi dịp tết đến, xóm làm bánh tét Trà Cuôn bán không thấy tay, cung ứng cho thị trường trong và ngoài tỉnh vài chục ngàn đòn gánh là chuyện thường.

Ngoài ra, còn các loại bánh khác như: bánh ống, bánh gừng, bánh lăng bí… Thường thấy bán ở Hà Tiên, miên Thất Sơn - An Giang.

Nước thốt nốt, đường thốt nốt, rượu thốt nốt

Nước thốt nốt lấy từ trái thốt nốt, giống như trái dừa nước miền Tây Nam bộ làm món giải khát, thơm ngon, bổ dưỡng. Đường thốt nốt nấu thành từng viên tròn, làm đường tán, đường thẻ, đóng thành từng cây, dùng nấu chè ăn rất ngon. Các nhà sư Khơ - me thường đãi khách uống nước trà với đường tán. Còn rượu thốt nốt làm bằng nước thốt nốt lấy từ cây thốt nốt mang về cho vào một loại thuốc nam gây men, ủ một ngày một đêm thì nước chua như bia lên men, khoảng 15 - 20 độ, hương vị thơm chua.

Các món nhậu

Người Khơ me cũng giống như người Việt, các món ăn, đồng thời cũng dùng làm những món nhậu. Tùy theo mức sống, túi tiền mà họ chọn những món nhậu phù hợp, từ “thượng vàng đến hạ cám”. Thôngthường, một số món nhậu đặc biệt của đồng bào là: ốc hấp tiêu, khô cá khoai, khô trâu, khô cá đuối đen (hắc cáy), khô cá kèo, cá kèo kho gợt, cá khoai nấu ngót, cua gạch muối nước mắm - đặc sản ở SócTrăng, cá lóc rau đắng chấm nước mắm tươi Ba Động, xã trường Long Hòa, huyện Duyên Hải (Trà Vinh)… là những món ăn ưa chuộng trong cư dân Khơ - me sống ở các tỉnh gần biển. Rắn trun, rắn hổ hành hầmsả, lươn xào sả ớt, lươn um rau ngổ.

Đồng bào Khơ - me rất thảo ăn. Họ theo tập quán mỗi khi có thức ăn ngon thường mang vào chùa cúng dường. Người Khơ - me cũng rất thích ăn cay, bất cứ món ăn nào cũng thường rắc tiêu và ớt thật nhiều.

Văn hóa ẩm thực của người Khơ - me Nam bộ mang dáng dấp riêng, kết hợp cùng các nét văn hóa ẩm thực của cộng đồng các dân tộc Việt, Hoa, Chăm ở các vùng, miền tạo thành một dòng chảy văn hóa ẩm thực phong phú, đa dạng, độc đáo, linh họat của đất và người phương đông.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Đắk Lắk: Đội ngũ trí thức đồng hành cùng báo chí cách mạng
Thông qua các công trình nghiên cứu, bài viết chuyên sâu, hoạt động tư vấn, phản biện xã hội và truyền thông khoa học, đội ngũ trí thức Đắk Lắk đã góp phần làm phong phú nội dung báo chí, lan tỏa tri thức, định hướng dư luận xã hội và cung cấp những luận cứ khoa học, thực tiễn phục vụ sự phát triển của địa phương trong thời kỳ mới.
Bà Hà Hoàng Yến làm Giám đốc Quỹ VIFOTEC
Chủ tịch Liên hiệp Hội Việt Nam Phan Xuân Dũng mong muốn bà Hà Hoàng Yến trên cương vị Giám đốc Quỹ VIFOTEC tiếp tục phấn đấu, rèn luyện, sâu sát, phát huy tốt vai trò và nhiệm vụ mới được phân công để góp phần cùng tập thể cán bộ Quỹ VIFOTEC vượt qua khó khăn, thách thức, thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra.
Quyết định số 185-QĐ/TW: Bộ Chính trị giao 1.878.362 biên chế năm 2026
Thay mặt Bộ Chính trị, đồng chí Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú đã ký ban hành Quyết định số 185-QĐ/TW ngày 02/6/2026, về biên chế các ban, cơ quan, đơn vị sự nghiệp của Đảng ở Trung ương; cơ quan Mặt trận Tổ quốc, cơ quan tham mưu, giúp việc Đảng uỷ Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương, Đảng uỷ các cơ quan Đảng Trung ương và các tỉnh, thành phố năm 2026.
DigiFest 2026 và tinh thần đưa chuyển đổi số đi vào thực chất
Tại Diễn đàn quốc gia số Việt Nam - DigiFest 2026 vừa qua, các chuyên gia khẳng định, chuyển đổi số không đơn thuần là việc số hóa những quy trình cũ, mà phải kiến tạo những phương thức vận hành mới dựa trên công nghệ số để giải quyết hiệu quả các vấn đề thực tiễn, mang lại lợi ích thiết thực cho người dân, doanh nghiệp;tạo ra giá trị mới và động lực tăng trưởng cho nền kinh tế Việt Nam.
GS.VS.TSKH Trần Đình Long: Khoa học chỉ thật sự có giá trị khi đến được với người dân
Từ một cậu học trò nghèo đất Tổ Phú Thọ đến nhà khoa học được quốc tế ghi nhận, được vinh danh Công dân Thủ đô ưu tú năm 2025, hành trình của ông là câu chuyện đẹp về lòng say mê tri thức, tinh thần cống hiến và niềm tin bền bỉ vào tương lai của nền nông nghiệp Việt Nam.