Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 05/09/2025 09:53 (GMT+7)

NGND.PGS.TS Phan Đức Chính, nhà toán học tài ba, nhà sư phạm mẫu mực

NGND.PGS.TS Phan Đức Chính, nhà toán học uyên bác, người đặt nền móng cho hệ chuyên Toán và đưa Toán học Việt Nam vươn tầm quốc tế.

Trong lịch sử Toán học Việt Nam hiện đại, NGND.PGS.TS Phan Đức Chính được nhắc đến trước hết như “người khai sinh” hệ chuyên Toán, người thầy trực tiếp dìu dắt bao thế hệ học sinh tài năng.

phan-duc-chinh-2.jpg

PGS.TS, NGND Phan Đức Chính. Nguồn: GS.TS Nguyễn Duy Tiến.

Chính ông là người đã đưa những bài toán Việt Nam xuất hiện trong kỳ thi Olympic Toán quốc tế, góp phần khẳng định vị thế trí tuệ Việt trên bản đồ học thuật thế giới. Bên cạnh đó, hàng loạt công trình dịch thuật, giảng dạy và nghiên cứu của ông trở thành tài sản quý giá, nuôi dưỡng khát vọng chinh phục tri thức cho nhiều thế hệ.

NGƯỜI ĐẶT NỀN MÓNG CHO HỆ CHUYÊN TOÁN VIỆT NAM

Trở về Việt Nam năm 1965 sau khi bảo vệ thành công luận án tiến sĩ tại Đại học Lomonosov (Liên Xô), PGS.TS Phan Đức Chính tiếp tục giảng dạy tại Khoa Toán, Đại học Tổng hợp Hà Nội. Đó là thời điểm đất nước đang trong khói lửa chiến tranh, trường lớp sơ tán, thiếu thốn đủ bề.

phan-duc-chinh.jpg

Thầy Phan Đức Chính cùng Thầy Lê Hải Châu với đội tuyển Việt Nam tham dự IMO 1974. Ảnh: Tư liệu.

Nhưng chính trong hoàn cảnh khốc liệt ấy, ông cùng các bậc đàn anh như GS Lê Văn Thiêm, TS Hoàng Tụy đã tiên phong mở những “lớp toán đặc biệt” dành cho học sinh cấp III có năng khiếu, theo chỉ đạo trực tiếp của Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Những lớp học giữa bom đạn không chỉ nuôi dưỡng niềm say mê tri thức mà còn đặt nền móng cho hệ thống trường chuyên Toán, mô hình giáo dục đặc thù sau này được nhân rộng khắp cả nước.

Ngay trong năm 1965, thầy Phan Đức Chính trực tiếp huấn luyện đội tuyển học sinh giỏi Toán của Đại học Tổng hợp. Kết quả, đội đã giành tới 9/10 giải trong kỳ thi học sinh giỏi toàn quốc, một chiến thắng vang dội, khẳng định hướng đi đúng đắn của mô hình đào tạo chuyên sâu.

Trong suốt nhiều năm gắn bó với khối chuyên Toán, ông đã đào tạo nên hàng loạt học trò xuất sắc, nhiều người trở thành nhà khoa học, nhà giáo, nhà quản lý tiêu biểu như GS Trần Văn Nhung, GS.TS Đào Trọng Thi, PGS Hoàng Lê Minh, GS Nguyễn Đông Anh, TS Hoàng Ngọc Hà…

Không chỉ truyền dạy trên giảng đường, ông còn để lại dấu ấn qua công tác dịch thuật và biên soạn tài liệu. Các bản dịch kinh điển như Lý thuyết hàm số biến số thực (Natanson), Cơ sở Giải tích Toán học (Dieudonné, She-Tzen Hu), Không gian vectơ tôpô (Robertson), Đại số cao cấp (Kurosh)… trở thành tài liệu học thuật quý giá cho nhiều thế hệ. Đặc biệt, cuốn Bất đẳng thức (NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, 1973) của ông được coi là “sách gối đầu giường” của học sinh và giáo viên chuyên Toán suốt nhiều thập kỷ.

BÀI TOÁN IMO 1977, VIÊN GẠCH ĐẦU TIÊN KHẲNG ĐỊNH VỊ THẾ TOÁN HỌC VIỆT NAM

Năm 1977, kỳ thi Olympic Toán quốc tế (IMO) được tổ chức tại Nam Tư (nay là Serbia). Đây là lần đầu tiên trong lịch sử, một tác giả người Việt Nam có bài toán được lựa chọn đưa vào đề thi chính thức. Đó là bài toán của PGS.TS Phan Đức Chính – dấu mốc khẳng định vị thế Toán học Việt Nam trên đấu trường quốc tế.

phan-duc-chinh-3.jpg

Bài toán của PGS Phan Đức Chính trong đề thi IMO năm 1977. Nguồn: Viện Nghiên cứu cao cấp về Toán.

Bài toán được nêu như sau:

“In a finite sequence of real numbers, the sum of any seven successive terms is negative, and the sum of any eleven successive terms is positive. Determine the maximum number of terms in the sequence”.

Dịch:

Trong một dãy hữu hạn các số thực, tổng của 7 số hạng liên tiếp bất kỳ luôn là số âm và tổng của 11 số hạng liên tiếp bất kỳ là số dương. Xác định số lượng số hạng tối đa của dãy số.

Thí sinh Martin Čadek (Cộng hòa Séc) đã được trao giải đặc biệt, bởi cách tiếp cận của anh còn được đánh giá cao hơn cả đáp án chính thức. Điều thú vị là Čadek chỉ giành huy chương đồng năm ấy, nhưng lời giải của anh được nhắc lại như một minh chứng cho sức sống của đề toán đến từ Việt Nam.

Bài toán năm 1977 đã mở ra một “chương Việt Nam” trong lịch sử IMO. Sau dấu ấn đầu tiên của PGS Phan Đức Chính, ba nhà toán học khác của Việt Nam cũng có bài toán được chọn vào đề thi: GS Văn Như Cương (IMO 1982), TS Nguyễn Minh Đức (IMO 1987), và gần đây nhất là TS Trần Quang Hùng (IMO 2025).

Bài toán của PGS.TS Phan Đức Chính tựa như viên gạch đầu tiên, mở ra một chương mới đầy tự hào cho Toán học nước nhà trong hành trình hội nhập quốc tế.

NGƯỜI THẦY TRUYỀN CẢM HỨNG VỚI NHÂN CÁCH LỚN

Nếu như những công trình nghiên cứu và đóng góp của PGS.TS, NGND Phan Đức Chính đã ghi dấu trong lịch sử Toán học Việt Nam, thì chính nhân cách giản dị, tận tụy và tình yêu thương học trò mới làm nên sức lan tỏa lâu dài của ông. Với nhiều thế hệ học sinh, ông không chỉ là một nhà khoa học uyên bác, mà còn là một người thầy truyền cảm hứng, gieo niềm tin vào con đường học vấn.

Các học trò kể lại rằng, bài giảng của thầy Chính thường được ví như “một màn ảo thuật” vừa chặt chẽ, khoa học, vừa hấp dẫn, dễ hiểu. PGS.TS Trần Văn Nhung từng gọi ông là “nhà toán học vô hạn chiều”, không chỉ vì chuyên ngành nghiên cứu toán học hàm vô hạn chiều mà còn bởi trái tim bao la dành cho sự nghiệp trồng người. Nhiều thế hệ học trò thành danh ở trong và ngoài nước vẫn luôn nhắc tới thầy như một biểu tượng mẫu mực về tinh thần học thuật và nhân cách.

Một kỷ niệm đặc biệt được PGS.TS Phan Đức Chính chia sẻ, đó là mùa hè 1974, khi dẫn đoàn học sinh Việt Nam tham dự Olympic Toán quốc tế tại CHDC Đức, giành thành tích rực rỡ với huy chương Vàng, Bạc và Đồng, ông xúc động thừa nhận: “Nước mắt cứ trào ra, không sao ngăn nổi…”. Đó là những giọt nước mắt hạnh phúc của một người thầy trọn đời vì học trò và đất nước.

Khi rời bục giảng để vào TP. Hồ Chí Minh sinh sống, ông vẫn không ngừng dìu dắt thế hệ giáo viên trẻ, tiếp tục tham gia huấn luyện đội tuyển quốc gia dự IMO. Nhân cách lớn của ông được thể hiện ở chỗ: dù ở đâu, trong bất cứ hoàn cảnh nào, niềm đam mê toán học và sự tận tụy với học trò vẫn là ngọn lửa không bao giờ tắt.

Sự kính trọng mà đồng nghiệp, học trò và xã hội dành cho PGS.TS Phan Đức Chính không chỉ bởi ông là nhà toán học tài năng, mà còn vì ông là một người thầy truyền cảm hứng, một nhân cách lớn hiếm có trong lịch sử giáo dục Việt Nam.

PGS.TS, Nhà giáo Nhân dân Phan Đức Chính sinh năm 1936 tại Sài Gòn, quê gốc làng Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội. Ông tốt nghiệp Khoa Toán, Đại học Sư phạm Hà Nội năm 1956 và trở thành giảng viên trẻ của Đại học Tổng hợp Hà Nội. Năm 1961, ông được cử sang Liên Xô làm nghiên cứu sinh, bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ tại Đại học Lomonosov (Moskva) năm 1965, khi mới 29 tuổi. Trở về Việt Nam, ông gắn bó cả cuộc đời với sự nghiệp giảng dạy, nghiên cứu và đào tạo nhân tài Toán học.

Với những cống hiến xuất sắc, ông được phong học hàm Phó Giáo sư (1980), danh hiệu Nhà giáo Ưu tú (1988) và Nhà giáo Nhân dân (1997). Sau khi qua đời năm 2017 tại TP. Hồ Chí Minh, tên tuổi ông tiếp tục được tưởng nhớ bằng nhiều hình thức tôn vinh. Tại Trường THPT Chuyên Khoa học Tự nhiên (ĐHQGHN), một giảng đường lớn mang tên Phan Đức Chính. Gia đình và nhà trường cũng sáng lập Giải thưởng Phan Đức Chính thường niên, với tổng trị giá 100 triệu đồng, trao cho các thầy cô và học sinh xuất sắc trong dạy và học Toán, như một sự tri ân đối với người thầy tài năng và mẫu mực.

Xem Thêm

GS.TSKH Nguyễn Đức Cương: Khoa học là một hành trình dài và không phải lúc nào cũng có kết quả ngay
Sinh năm 1945 tại Huế, ông là nhà khoa học hàng đầu về hàng không - vũ trụ của Việt Nam, đã có hơn nửa thế kỷ cống hiến cho ngành khoa học kỹ thuật hàng không vũ trụ. Không chỉ là người đặt nền móng cho các sản phẩm bay tiết kiệm chi phí cho Việt Nam, ông còn là người thầy tâm huyết, truyền cảm hứng và kiến thức cho nhiều thế hệ, góp phần đưa ngành hàng không Việt Nam đạt được những bước tiến mới.

Tin mới

Thanh Hoá: Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2026
Ngày 10/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Thanh Hóa (Liên hiệp hội) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành mở rộng lần thứ VII, khoá VII, nhiệm kỳ 2024 - 2029; sơ kết 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026.
Lâm Đồng: Kết nối sức mạnh - Khơi thông nguồn lực phát triển năng lượng tái tạo
Chiều ngày 09/7, tại Đà Lạt, Hiệp hội Điện gió và Mặt trời tỉnh Lâm Đồng (Hội thành viên Liên hiệp Hội) tổ chức Hội nghị thường niên năm 2026 nhằm đánh giá kết quả hoạt động năm 2025 và 6 tháng đầu năm 2026, đồng thời đề ra phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm cho 6 tháng cuối năm.
Liên hiệp Hội tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Trị tăng cường trao đổi kinh nghiệm
Chiều ngày 09/7, Đoàn công tác Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (LHH) tỉnh Quảng Trị do Tiến sĩ Trần Văn Tuân – Chủ tịch Liên hiệp Hội làm Trưởng đoàn đã có buổi thăm, làm việc và trao đổi kinh nghiệm tại LHH tỉnh Hà Tĩnh. Tiếp và làm việc với đoàn có Tiến sĩ Bùi Khắc Bằng – Chủ tịch LHH tỉnh Hà Tĩnh cùng đại diện các ban chuyên môn.
Đắk Lắk: Liên hiệp hội sơ kết công tác 6 tháng đầu năm
Chiều ngày 09/7, Liên hiệp hội tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) nhằm sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và triển khai phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026; đồng thời cho ý kiến đối với các nội dung chuẩn bị Đại hội Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031.
GS.TSKH Nguyễn Đức Cương: Khoa học là một hành trình dài và không phải lúc nào cũng có kết quả ngay
Sinh năm 1945 tại Huế, ông là nhà khoa học hàng đầu về hàng không - vũ trụ của Việt Nam, đã có hơn nửa thế kỷ cống hiến cho ngành khoa học kỹ thuật hàng không vũ trụ. Không chỉ là người đặt nền móng cho các sản phẩm bay tiết kiệm chi phí cho Việt Nam, ông còn là người thầy tâm huyết, truyền cảm hứng và kiến thức cho nhiều thế hệ, góp phần đưa ngành hàng không Việt Nam đạt được những bước tiến mới.
Đắk Lắk: Ứng dụng AI “nghe” độ chín sầu riêng
TS. Lê Minh Tân và CN. Hoàng Ngọc Trung Nguyên (Trường Đại học Tây Nguyên) đã nghiên cứu thành công giải pháp: “Máy phân loại quả sầu riêng theo độ chín sử dụng AI phân tích âm thanh”. Giải pháp này đã đọat giải Nhì Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (2024-2025) khu vực phía Tây.