Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 28/11/2014 15:54 (GMT+7)

Nghiên cứu yếu tố tác động tới sử dụng năng lượng tái tạo

Bằng việc sử dụng các câu hỏi điều tra theo thang đo Likert 5 điểm đối với 146 mẫu nghiên cứu trên địa bàn thành phố Hà Nội, cùng các kỹ thuật phân tích thống kê đa biến (Cronbach Alpha, EFA, hồi quy). Kết quả phân tích cho thấy, có có bốn nhân tố là: (1) chi phí, (2) lợi ích liên quan, (3) khả năng quan sát và (4) tính dễ tiếp cận, có ảnh hưởng đến xu thế sử dụng năng lượng tái tạo.

1. Vấn đề nghiên cứu

Việt Nam là quốc gia có tiềm năng khai thác các nguồn năng lượng tái tạo như: năng lương mặt trời, năng lượng gió, năng lượng thủy triều và năng lượng địa nhiệt (Tổng sơ đồ VII). Mặc dù có tiềm năng lớn về việc khai thác năng lượng tái tạo nhưng hiện nay tỷ lệ nguồn năng lượng tái tạo được khai thác là chưa đáng kể. Nguyên nhân có thể do các rào cản khi tiếp nhận một nguồn năng lượng mới đối với người sử dụng. Nghiên cứu này sẽ đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến xu hướng chấp nhận sử dụng năng lượng tái tạo như thế nào. Kết quả nghiên cứu sẽ cho biết đâu là những nhân tố chính ảnh hưởng đến xu hướng chấp nhận sử dụng năng lượng tái tạo, mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến xu hướng chấp nhận sử dụng năng lượng tái tạo.

2. Thiết lập mô hình nghiên cứu

Roger đưa ra lý thuyết về khuếch tán đổi mới giải thích việc các ý tưởng, công nghệ được lan truyền, chấp nhận qua năm: giai đoạn nhận thức; giai đoạn thuyết phục; giai đoạn ra quyết định; giai đoạn thực hiện và giai đoạn xác nhận. Rogers cũng chỉ ra năm thuộc tính đổi mới là (1) lợi ích tương đối, (2) khả năng thích ứng, (3) tính dễ tiếp cận, (4) tính dễ thử nghiệm và (5) tính dễ quan sát (Roger, 1983). Davis xây dựng mô hình chấp nhận công nghệ với giả định về việc chấp nhận một mô hình công nghệ mới phụ thuộc vào thái độ của người sử dụng, tính hữu ích cảm nhận và tính dễ sử dụng cảm nhận (Davis, 1989). Mô hình TAM được sử dụng khá phổ biến cho các nghiên cứu khác nhau trong việc xác định xu hướng chấp nhận các công nghệ mới (Adams., Nelson. & Todd, 1992; Davis, 1993; Taylor & Tood, 2001). Vì vậy, mô hình nghiên cứu này được thiết lập dựa trên nền tảng lý thuyết khuếch tán đổi mới và mô hình chấp nhận công nghệ. Hai nhân tố mới đưa vào mô hình được xây dựng mới là (1) chi phí và (2) chính sách cho phù hợp với điều kiện nghiên cứu tại Việt Nam. Các biến độc lập và biến phụ thuộc được xem xét như sau:

(1) Lợi ích: Nhân tố lợi ích được xem xét dưới các khía cạnh: “năng lượng tái tạo và vô tận” (LI1); “Năng lượng tái tạo ít gây ô nhiễm môi trường” (LI2); “Năng lượng tái tạo giúp tiết kiệm chi phí về lâu dài” (LI3); “Năng lượng tái tạo giúp chủ động hơn trong sinh hoạt, sản xuất” (LI4).

(2) Tính dễ tiếp cận: Nhân tố tính dễ tiếp cận được xem xét dưới các khía cạnh: “Dễ tìm kiếm các thông tin” (TC1); “Các thông tin cụ thể, rõ ràng” (TC2); “Lắp đặt và bảo trì thiết bị đơn giản” (TC3) và “Dễ dàng vận hành” (TC4).

(3) Sự trải nghiệm: Nhân tố sự trải nghiệm được thiết lập bằng các biến quan sát: “Việc dùng thử sản phẩm tương đối đơn giản” (TN1); “Việc dùng thử là quan trong” (TN2) và “Chương trình dùng thử là cần thiết với cộng đồng”.

(4) Khả năng quan sát: Nhân tố khả năng quan sát được xây dựng từ ba biến quan sát: “Lợi ích kinh tế của năng lượng tái tạo và rõ ràng” (QS1); “Năng lượng tái tạo ít ảnh hưởng đến môi trường là rõ ràng” (QS2); “Năng lượng tái tạo giúp hộ tiêu thụ độc lập hơn với hệ thống điện quốc gia” (QS3).

(5) Chính sách: Nhân tố chính sách được đánh giá bằng ba biến quan sát: “Chính phủ cần tạo thuận lợi cho việc triển khai ứng dụng năng lượng tái tạo” (CS1); “Chính phủ cần hỗ trợ tài chính cho các đề án phát triển năng lượng tái tạo” (CS2); “Chính phủ cần ban hàng quy định về phát triển năng lượng tái tạo” (CS3).

(6) Chi phí: Nhân tố chí phí được đánh giá bằng ba biến quan sát: “Chi phí lắp đặt hệ thống năng lượng tái tạo phù hợp với thu nhập” (CP1); “Chi phí là yếu tố được quan tâm nhất khi sử dụng năng lượng tái tạo” (CP2); “Chi phí lắp đặt hệ thống năng lượng tái tạo trong gia đình là cạnh tranh so với nguồn năng lượng khác”

(7) Xu hướng chấp nhận (biến phụ thuộc): Biến phụ thuộc được đánh giá bằng ba biến quan sát: “Anh/chị tin rằng năng lượng tái tạo là sự lựa chọn thích hợp cho việc tiêu thụ năng lượng trong hiện tại và tương lai” (CN1); “Anh/chị khuyến khích mọi người sử dụng năng lượng tái tạo” (CN2) và “Anh/chị sẽ sử dụng năng lượng tái tạo trong tương lai”.

3. Phương pháp nghiên cứu

Chọn mẫu: Do những hạn chế về nguồn lực nên phương pháp chọn mẫu được lựa chọn là phương pháp chọn mẫu thuận tiện. Cỡ mẫu lấy theo quy tắc kinh nghiệm của Comrey & Lee với cỡ mẫu 146. Bảng câu hỏi được thu thập qua internet đối với những người đã có kiến thức về năng lượng tái tạo trên địa bàn thành phố Hà Nội. Bởi vì lĩnh vực sử dụng năng lượng tái tạo là một chủ đề mới hiện nay, những người sử dụng internet có xu hướng là nhóm tiên phong trong các lĩnh vực công nghệ mới. Vì vậy việc lựa chọn hình thức điều tra qua internet là phù hợp. Thang đo đối với các câu hỏi sử dụng thang đo Likert 5 điểm với 1 là hoàn toàn không đồng ý; 2 là không đồng ý; 3 trung lập (bình thường); 4 là đồng ý; 5 là hoàn toàn đồng ý.

Phương pháp phân tích dữ liệu: Các nhân tố và biến phụ thuộc trong mô hình sẽ được kiểm tra sự tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach Alpha và hệ số tương quan biến tổng. Tiêu chuẩn một nhân tố đảm bảo tính tin cậy của thang đo là hệ số Cronbach Alpha tối thiểu là 0.6 và hệ số tương quan biến tổng tối thiểu là 0.3 (Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008). Tiếp theo các nhân tố sẽ được kiểm tra tính đơn hướng và tóm tắt dữ liệu bằng phân tích khám phá nhân tố (EFA). Các tiêu chuẩn phù hợp của phân tích EFA là hệ số KMO tối thiểu 0.5, kiểm định Bartlett có p-value nhỏ hơn 0.05, phương sai giải thích tối thiểu 50%, giá trị eigenvalue tối thiểu bằng 1, các hệ số tải nhân tố (factor loading) tối thiểu bằng 0.5 (Hair., Black., Babin., Anderson & Tatham 2006).

4. Kết quả nghiên cứu

4.1 Đánh giá các thang đo lường nhân tố và phân tích khám phá nhân tố trong mô hình

Kết quả đánh giá bằng hệ số Cronbach Alpha để đánh giá sự tin cậy của các thang đo trong mô hình cho thấy tất cả các nhân tố đều có hệ số Cronbach Alpha lớn hơn 0.6, các biến có tương quan biến tổng nhỏ hơn 0.3 (trừ biến TN1). Điều đó chứng tỏ các nhân tố đều đạt độ tin cậy cần thiết về giá trị thang đo. Kết quả phân tích khám phá nhân tố cũng cho thấy tất cả các nhân tố sau phân tích đều có hệ số KMO đều lớn 0.5, kiểm định Bartlett có p-value nhỏ hơn 0.05, phương sai giải thích lớn hơn 50%, các hệ số tải nhân tố đều lớn hơn 0.5. Điều đó cho thấy việc sử dụng phân tích khám phá nhân tố là phù hợp với dữ liệu nghiên cứu (bảng 1)

Bảng 2. Bảng Kết quả đánh giá thang đo và phân tích khám phá nhân tố

Mã biến

Hệ số tải nhân tố

KMO

p-value

Phương sai giải thích

Hệ số Cronbach Alpha

Tương quan biến tổng

1.   Nhân tố “lợi ích” (N =4)

LI1

0.826

0.723

0.000

58.085%

0.758

0.636

LI4

0.754

0.543

LI3

0.753

0.548

LI2

0.710

0.501

2.   Nhân tố “Dễ tiếp cận” (N = 4)

TC2

0.828

0.612

0.000

55.499%

0.726

0.639

TC1

0.752

0.510

TC3

0.725

0.488

TC4

0.665

0.449

3.   Nhân tố “Sự trải nghiệm” (N = 2)

TN3

0.933

0.500

0.000

84.074%

0.848

0.742

TN2

0.933

0.742

4.   Nhân tố “khả năng quan sát” (N = 3)

QS2

0.791

0.626

0.000

55.797%

0.601

0.458

QS1

0.748

0.407

QS3

0.699

0.366

5.   Nhân tố “chính sách” (N = 3)

CS1

0.873

0.700

0.000

72.024%

0.784

0.696

CS2

0.861

0.682

CS3

0.811

0.598

6.   Nhân tố “chi phí” ( N = 3)

CP3

0.879

0.561

0.000

60.115%

0.660

0.633

CP1

0.831

0.528

CP2

0.583

0.298

7.   Biến phụ thuộc “xu hướng chấp nhận” ( N = 3)

CN2

0.880

0.721

0.000

74.904%

0.808

0.692

CN1

0.867

0.717

CN3

0.849

0.658

Nguồn: Kết quả phân tích từ dữ liệu nghiên cứu qua SPSS

4.2 Đánh giá mức độ tác động của các nhân tố và kiểm định các giả thuyết nghiên cứu

Để đánh giá mức độ tác động của các nhân tố đến xu hướng chấp nhận sử dụng năng lượng tái tạo ta sử dụng phân tích hồi quy tuyến tính bội. Phương pháp đưa biến vào phân tích là phương pháp Stepwise, bởi phương pháp Stepwise phù hợp hơn cho các nghiên cứu khám phá mới. Kết quả thu được như sau:

Bảng 3. Bảng Kết quả phân tích hồi quy bằng phương pháp stepwise

b3 11

Phương trình hồi quy các nhân tố ảnh hưởng tới xu hướng chấp nhận sử dụng năng lượng tái tạo ở Việt Nam:

CN = - 0,393 + 0,545*QS + 0,382*LI + 0,273*CP - 0,088*TC

Từ bảng ta thấy các biến độc lập đưa vào mô hình đều có ảnh hưởng đến biến phụ thuộc, các hệ số tương quan đều khác không. Trong đó có biến TC (khả năng tiếp cận) có tương quan âm với biến CN (xu hướng chấp nhận). Điều đó cho thấy chúng có quan hệ ngược chiều với nhau. Phân tích hồi quy tuyến tính bội bằng phương pháp Stepwise cho thấy có 4 nhân tố có ảnh hưởng đến xu hướng chấp nhận sử dụng năng lượng tái tạo là (1) khả năng quan sát, (2) lợi ích, (3) chi phí và (4) tính dễ tiếp cận. Trong đó nhân tố “khả năng tiếp cận” có ảnh hưởng ngược chiều cho thấy hiện nay các rào cản về tiếp cận việc sử dụng năng lượng tái tạo là khá lớn, người sử dụng chưa có nhiều thông tin về việc sử dụng năng lượng tái tạo, tuy khó khăn trong việc tiếp cận nhưng người dân vẫn sẵn sàng chấp nhận sử dụng. Hai nhân tố “chính sách” và “trải nghiệm” không có ảnh hưởng đến xu hướng chấp nhận sử dụng năng lượng trong hiện tại là do đây nhân tố “chính sách” mang yếu tố vĩ mô ít ảnh hưởng đến người sử dụng trực tiếp. Đối với nhân tố “trải nghiệm” thì hiện tại việc sử dụng hạn năng lượng tái tạo còn hạn chế nên ảnh hưởng của nó đến xu thế chấp nhận cũng không rõ ràng.

5. Kết luận

Kết quả phân tích cũng cho thấy lý thuyết khuếch tán đổi mới và mô hình chấp nhận công nghệ là một mô hình phù hợp để đánh giá xu hướng chấp nhận sử dụng năng lượng tái tạo hiện nay. Hệ số Adjusted R square bằng 0,849 chứng tỏ bốn biến độc lập trong mô hình giải thích được 84.9% sự thay đổi của xu hướng chấp nhận sử dụng năng lượng tái tạo. Từ đó cho thấy các lợi ích đem lại từ việc sử dụng năng lượng tái tạo là yếu tố mà người dân dễ dàng nhận thấy (khả năng quan sát và lợi ích). Yếu tố chi phí có quyết định tới dự định sử dụng khi mức chi phí này phù hợp hơn với thu nhập của người dân và đồng thời giá cả cũng có tính cạnh tranh đối với các dạng năng lượng khác. Trong 4 biến độc lập có ảnh hưởng đến xu hướng chấp nhận sử dụng thì nhân tố “khả năng quan sát” có ảnh hưởng lớn nhất, tiếp đến là nhân tố “lợi ích”, “chi phí” và cuối cùng là nhân tố “khả năng tiếp cận” có ảnh hưởng rất nhỏ và ngược chiều với xu hướng chấp nhận sử dụng năng lượng tái tạo (được thể hiện qua hệ số chuẩn hóa beta).

Hình 1. Kết quả nghiên cứu của tác giả

6. Tài liệu tham khảo

1.  Adams, D. A., Nelson, R. R., Todd, P. A. (1992),  Perceived usefulness, ease of use, and usage of information technology: A replication,  MIS Quarterly  16, 227–247.

2. Davis, F.D., (1989), Perceived usefulness, perceived ease of use and user acceptance of information technology”,  MIS Quarterly, 13(3),319-339.

3. Davis F.D, (1993), User acceptance of computer technology: System characteristics user perceptions and behavior characteristics,  International Man-Machine studies, 38, 475-487.

4. Hair, J.F., Black, W.C., Babin, B.J., Anderson, R.E. & Tatham, R.L. (2006)  Mutilvariate Data Analysis  6 th  ed, Upper Saddle River NJ, Prentice - Hall.

5. Hoàng Trọng và Chu Nguyện Mộng Ngọc (2008),  Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS - 2 tập- Nhà xuất bản Hồng Đức.

6. Roger, E.M (1983)  “Diffusion of innovations”  3th ed, New York the Free Press.

7. Taylor, S., & Tood, A. (2001), Undestanding Information technology usage: A test of competing models,  Information Systems Research, 6(2), 144 -176.

8. Tổng sơ đồ điện VII  “Đánh giá các nguồn năng lượng sơ cấp, khả năng khai thác, xuất nhập khẩu năng lượng và dự báo giá nhiên liệu”  - Viện Năng Lượng.

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Trung thu – Một miền ký ức
…Tôi cũng không nhớ đã bao lần đón trung thu nữa, thế nhưng mỗi lần tháng Tám về, dắt con đi qua những phố thị đầy ắp đèn hoa, bánh kẹo trong tôi lại ùa về những cảm xúc khỏ tả, một miền ký ức sâu thẳm thân thương biết bao giờ trở lại ….
Kết luận số 83-KL/TW: Chuyển từ lợi thế tài nguyên sang làm chủ công nghệ vật liệu
Ngày 24/9, Ban Tuyên giáo Trung ương và Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp tổ chức Hội thảo tuyên truyền, phổ biến, quán triệt Kết luận số 83-KL/TW của Bộ Chính trị về phát triển công nghiệp vật liệu Việt Nam. Hội thảo tập trung làm rõ định hướng phát triển ngành vật liệu theo hướng làm chủ công nghệ, nâng cao giá trị gia tăng, tăng năng lực tự chủ và sức cạnh tranh.
Đồng chí Nguyễn Phi Long: Các đồng chí được trao tặng Huy hiệu Đảng là tấm gương sáng cho đảng viên, nhà khoa học trẻ
Sáng ngày 24/9, Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) đã trang trọng tổ chức Lễ trao tặng Huy hiệu Đảng đợt 02/9/2026. Đồng chí Nguyễn Phi Long, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương đã đến dự và phát biểu chúc mừng 111 đồng chí được trao tặng Huy hiệu Đảng.
Tư vấn, phản biện Đề án tăng cường hợp tác công - tư và phát triển y tế tư nhân, hiện đại hóa hệ thống y tế Tp. Bắc Ninh
Ngày 23/9/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật TP Bắc Ninh tổ chức Hội thảo tư vấn, phản biện: “Đề án tăng cường hợp tác công - tư và phát triển y tế tư nhân hiện đại hóa hệ thống y tế thành phố Bắc Ninh giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn 2045”.
Hội nghị BCH Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tháng 9/2026: Tập trung hoàn thành các nhiệm vụ trọng tâm cuối năm 2026
Chiều 23/9, Ban Chấp hành Đảng bộ Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ tháng 9/2026, nhằm đánh giá kết quả công tác 9 tháng đầu năm, xác định nhiệm vụ trọng tâm những tháng cuối năm; đồng thời triển khai một số nội dung quan trọng về công tác xây dựng Đảng, tổ chức cán bộ và thực hiện các nhiệm vụ sau Đại hội IX.
GS.VS Châu Văn Minh: Phát huy nguồn lực trí thức, đồng hành cùng Hà Tĩnh giải quyết những bài toán phát triển
Chiều 21/9, GS.VS Châu Văn Minh, Phó Chủ tịch không chuyên trách Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) đã thăm, làm việc với Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Hà Tĩnh (Liên hiệp Hội tỉnh Hà Tĩnh).
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chứng kiến lễ trao tặng kỷ vật "Hồ sơ chứng tích chiến tranh" 2026 tại Hoa Kỳ
Trong khuôn khổ chuyến công tác tham dự Phiên thảo luận chung cấp cao Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 81 và thực hiện các hoạt động song phương tại Hoa Kỳ, chiều 21/9 (theo giờ địa phương), tại thành phố New York, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã gặp những người bạn Hoa Kỳ.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đến New York tham dự Phiên thảo luận cấp cao Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 81
Việc Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tham dự và có bài phát biểu tại Phiên thảo luận cấp cao Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 81 có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh Việt Nam và Liên hợp quốc đang cùng nhau hướng tới kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ.
Quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện vì hòa bình, hợp tác và phát triển bền vững Việt Nam - Hoa Kỳ
Chuyến công tác và hoạt động song phương tại Hoa Kỳ của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm sẽ góp phần triển khai các nhận thức chung của Lãnh đạo cấp cao Việt Nam và Hoa Kỳ, đồng thời tiếp tục thúc đẩy quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện phát triển ổn định, thực chất, hiệu quả và bền vững.
Lào Cai: Nâng cao kiến thức, năng lực triển khai truy xuất nguồn gốc cho doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ sản xuất
Trong khuôn khổ chương trình do Sở KH&CN tỉnh Lào Cai tổ chức, với sự phối hợp của Hội Mã số Mã vạch Việt Nam, Liên minh Hợp tác xã và các đơn vị liên quan, trong hai ngày 16-17/9 tại phường Yên Bái và phường Lào Cai, các doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ sản xuất, kinh doanh đã cùng trao đổi những vấn đề cụ thể xoay quanh sản phẩm OCOP, MSMV, truy xuất nguồn gốc, dữ liệu và chuyển đổi số.
Hải Phòng: Giải pháp ứng dụng công nghệ tiên tiến trong công nghiệp 4.0 và đô thị thông minh
Sáng ngày 18/9/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp hội) thành phố Hải Phòng phối hợp cùng Trường Đại học Hải Phòng, Trường Đại học Công nghệ Kỹ thuật Hưng Yên, Viện Kỹ thuật Xây dựng, Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia tổ chức Hội thảo khoa học: “Chuyển đổi số và công nghệ tiên tiến trong công nghiệp 4.0 và đô thị thông minh”.
Thực trạng và giải pháp ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ phát triển bền vững tỉnh Đắk Lắk
Công nghệ sinh học (CNSH) đang mở ra nhiều cơ hội mới cho các địa phương có thế mạnh về nông nghiệp, tài nguyên sinh học và đa dạng hệ sinh thái. Đối với Đắk Lắk, phát huy lợi thế về sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và nguồn nguyên liệu phong phú gắn với ứng dụng KHCN có ý nghĩa thiết thực. Trong đó, CNSH có thể tạo ra những giá trị mới từ giống, quy trình sản xuất, chế biến đến xử lý phụ phẩm...
Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Khánh Hòa tổ chức thành công Đại hội đại biểu lần thứ I
Sáng 18/9, tại Khánh Hòa, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Khánh Hòa tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031. Tổng Thư ký Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam Nguyễn Quyết Chiến tham dự và phát biểu chỉ đạo Đại hội.
Giải pháp nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ sơ sinh tỉnh Lâm Đồng trong giai đoạn mới
Nhằm tạo diễn đàn để các nhà quản lý, chuyên gia, nhà khoa học và đội ngũ cán bộ y tế cùng trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm, phân tích những vấn đề đang đặt ra trong chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ sơ sinh; đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản, chăm sóc thai kỳ, sinh đẻ an toàn và chăm sóc trẻ sơ sinh trên địa bàn tỉnh trong giai đoạn mới.