Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 06/02/2012 22:29 (GMT+7)

Dấu ấn thần thoại va cổ tích trong sử thi Tây Nguyên

Năm 2006, 16 tập sử thi Tây Nguyên, mỗi tập trên dưới 1.000 trang, kết quả của dự án Điều tra, sưu tầm, bảo quản, biên dịch và xuất bản kho tàng sử thi Tây Nguyêndo Viện Nghiên cứu Văn hoá thực hiện dưới sự chỉ đạo của GS. TS. Ngô Đức Thịnh, đã được xuất bản lần đầu tiên. Tiếc rằng, từ đó đến nay, chưa thấy xuất hiện những công trình nghiên cứu dựa trên khối tư liệu đồ sộ đó. Trong bài viết này, tác giả cố gắng phân tích dấu ấn thần thoại và cổ tích trong sử thi Tây Nguyên. Tuy nhiên, về mặt phương pháp luận, thiếu sót dễ nhận thấy là mối liên hệ giữa 2 thuật ngữ thần thoại, “truyện kể về những sự khởi đầu mang tính văn hoá và tôn giáo” (1), và thần kì mà tác giả diễn giải là sự hiện diện của thần linh, chưa được giải quyết rõ ràng.

Ra đời vào thời điểm nối tiếp thần thoại, hình thành và lớn dậy trên nền tảng sử thi và thần thoại có không ít phần giao thoa. Điều đó có nghĩa là sử thi - dù muốn dù không - vẫn mang trên mình những dấu vết hồi quang thần thoại. Dấu ấn thần thoại ấy được thể hiện trên nhiều phương diện mà trước hết và đáng kể hơn cả là sự có mặt của yếu tố thần kỳ.

Sử thi Tây Nguyên từ ot ndrongcủa người M’nông đến khan của người Ê đê, h’mon của người Bahnar… đều không thiếu vắng bóng dáng của yếu tố thần kỳ. Đó là ông Gỗn - vị thần quyết định cuộc sống nhân loại ( Sử thi Đam San), đó là Bok Kơidơi, Ya Kung Ker, được xem là ông tổ của người Bah-nar (Sử thi Giông Giỡ mồ côi từ thuở bé).. Sự có mặt của yếu tố thần kỳ đã làm nên một thế giới thấm đẫm sắc màu thiêng liêng, huyền ảo, tồn tại song song với thế giới con người.

Trong sử thi Tây Nguyên, thần linh có vai trò không nhỏ, nếu không muốn nói là góp phần tạo nên những sự kiện, biến cố quan trọng trong cuộc đời của nhân vật trung tâm - người anh hùng sử thi. Ở sử thi Xing Nhã, Xing Nhã khó thoát khỏi đôi ngà của con voi của Prong Mưng “vốn giết người không biết sự rung đôi ngà, nó hùng hục chạy tới, gió cuốn theo như bão” [3, tr.374], ai trông thấy cũng đều khiếp sợ. Chính ông Giỗn đã cứu chàng và có cơ hội lật ngược tình thế: “ông Giỗn đang ngủ, vùng dậy lấy thuốc thiêng liệng xuống tiếp sức cho Xing Nhã. Xing Nhã nuốt thuốc, chuyển mình, nhảy xuống đất xốc tới nắm đôi ngà voi. Con voi bỗng đứng im như một pho tượng nhà mồ. Chàng giằng đôi ngà của nó bẻ gãy ngọt như bẻ một ngọn mía mưng” [3, tr.402]. Với Xing Nhã, chiến thắng trước kẻ thù khát máu là một biến cố quan trọng bởi nhờ đó mà chàng có được gia đình hạnh phúc, được dân làng khâm phục, nể trọng, sẵn sàng suy tôn làm thủ lĩnh và khẳng định, nâng cao vị thế, uy danh, bản lĩnh của mình.

Trong sử thi Tây Nguyên, thế giới thần kỳ được chia thành 2 nhóm: nhóm trợ thủ của nhân vật chính - ủng hộ, phù trợ cho người anh hùng (thần linh) và nhóm đối thủ của nhân vật chính – gây cản trở, thách thức cho người anh hùng (quỷ, quái vật). Lực lượng này là thực tại của núi rừng Tây Nguyên kết hợp với trí tưởng tượng dân gian. Đó là con quái vật Jơ Gôk trong sử thi Giông cứu nàng Rang Hu, theo lời Bok Rơh, là “một con khổng lồ ác lắm, đã nuốt chửng một lần 7 làng đang làm ăn sinh sống” [6, tr.230]. Biết bao nhiêu anh hùng buôn đông làng tây ra sức nhưng không thể tiêu diệt được hắn. Chỉ có Giông làm hắn nao núng, lung lay trong lòng, rồi hắn “oằn oại đau đớn, lăn ra chết” và nàng Rang Hu được cứu, Giông trở thành người anh hùng. Có thể thấy, dù thuộc nhóm nào thì các nhân vật thần kỳ cũng có những can thiệp đáng kể đến sứ mạng của người anh hùng, tác động không nhỏ vào sự hình thành, phát triển cốt truyện. Ở đây, hai nhóm nhân vật thần kỳ đã tác động đến nhân vật chính, 2 lực đối nhau: lực cản (quỷ, quái vật) và lực đẩy (thần linh). Nhưng sau cùng, hợp lực giữa con người và thần linh đã chiến thắng lực cản của quái vật. Điều đó cho thấy, thần linh đã luôn “sát cánh” cùng con người, tiếp sức cho con người, giúp con người chiến thắng.

Không chỉ ủng hộ, trợ giúp con người “chiến đấu”, thần linh còn luôn để mắt, chăm lo đến cuộc sống lao động - sản xuất, đến những sinh hoạt thường ngày của con người. Trong sử thi Đăm Noi, nhờ thần linh mách bảo, chàng chặt được cây thiêng “có ngọn cao tận trời”, để làm thuyền vượt con sông Ba sóng to nước lớn. Nếu không có bước chân lặng lẽ của thần linh thì Trong Đăn không thể rút được những dây mây khi mà mọi người đã chịu bó tay. Trong các sử thi Bahnar, hình ảnh chàng Giông giỏi giang việc nương rẫy rất đậm nét. Nhưng bao giờ những thành quả của Giông trong lao động sản xuất cũng có bàn tay của thần linh. Giông cần phát rẫy, chàng cầu khấn thần linh giúp phát cho nhanh. Khi Giông trỉa lúa, trồng rãy, thu hoạch, các thần và những bạn thú nơi rừng sâu không quên giúp đỡ chàng. Nhờ sự ủng hộ, giúp đỡ của thần linh mà mọi việc Giông làm đều suôn sẻ và rất có hiệu quả. Rẫy ruộng nhất vùng, mùa vụ bội thu. Trong cuộc sống lao động sản xuất, người anh hùng luôn là người đi đầu, là chỗ dựa, là nguồn động viên, khích lệ bà con buôn làng. Trong sử thi Giông làm nhà mồ, Giông nói với dân làng phải làm nhà mồ thật đẹp, bề thế cho người thân. Tất cả già trẻ, gái trai đều được huy động vào công việc trọng đại này. Trong quá trình làm nhà mồ, Giông tình cờ gặp thần linh. Yêu mến Giông, thần linh đã chỉ cho chàng bí quyết làm nhà mồ đẹp, lộng lẫy. Nhà mồ được làm rất nhanh và đẹp đẽ. Đó là thành quả, là niềm tự hào của Giông và của buôn làng.

Những con người sinh sống trên mảnh đất cao nguyên hùng vĩ này rất tôn trọngt hần linh, họ quan niệm rằng vạn vật đều có linh hồn. Hai phần ấy hoà quyện với nhau gần như là một. Nói khác đi, ở đây đã tồn tại cùng lúc hai quá trình chuyển hoá trái chiều: thiêng hoá các mối quan hệ hàng ngày và tục hoá thế giới siêu linh. Bởi thế sẽ không mấy ngạc nhiên khi chúng ta nhận ra rằng, trong các tác phẩm sử thi Tây Nguyên, thần linh không hẳn là những đấng siêu nhiên cao xa vời vợi, mà trái lại, rất gần gũi với con người, rất đời, rất trần thế. Trong sử thi Đam San, chàng Đăm San một mình băng rừng của bà Sun Y Rit - chỗ ở của nữ nhân vật trong thần thoại Ê đê là một cánh rừng - để đến nơi nữ thần Mặt trời sinh sống. Điều đó cho thấy thế giới thần và thế giới con người không cách xa là bao. Thêm nữa, nữ thần Mặt Trời lại mang dáng vóc, cử chỉ, hành động của cô gái Ê đê. Nàng cũng đi đứng yểu điệu, cũng thay váy áo mới để tiếp khách quý như bao cô gái Ê đê khác. Nàng cũng bình dị như những con người ở buôn làng Tây Nguyên, với một ngôi nhà sàn, có cối, có chày, có nương rãy, trâu bò nhi nhúc. Trong sử thi Lấy hoa bạc hoa đồng, thần linh cũng ốm đau, bệnh tật, thèm khát ăn uống no đủ, cũng giận hờn trách móc như những con người trong cộng đồng. Mối quan hệ thân thiết giữa thần linh và con người còn thể hiện ở sự việc Đam San bắt vạ ông Gỗn về cái chết của Hơ Nhí với những hành động cử chỉ ngỗ ngược:

“Ông Gỗn: Cháu lên có việc gì đấy cháu?

Đam San đứng lặng thinh, không nói không rằng. Ông Gỗn chìa thuốc mời chàng hút, tức thì chàng tóm lấy đầu ông.

Đam San: Tôi chém ông đây này!

Ông Gỗn: Chuyện gì mà cháu chém ông vậy, cháu?

Đam San: Chuyện gì mà tôi muốn chém ông à? Chuyện tôi kêu tôi gọi ông không thưa, ông thèm nghe. Chuyện rượu tôi đem, lợn đôi đốt, trâu bò tôi thui mà cổng chốt ông không mở, cổng sắt ông vẫn đóng” [3, tr.202]. Sự thân mật đến suồng sã giữa thần linh với con người thể hiện qua đoạn hội thoại thú vị trên là một minh chứng cho quan niệm thiên – nhân hợp nhất, người sao -thần vậy của người Tây Nguyên.

Bên cạnh sự có mặt của thần linh, chúng ta còn bắt gặp trong sử thi Tây Nguyên nhiều yếu tố thần kỳ, hoang đường khác, như sự xuất hiện của những vật mang phép màu (cây gậy, sợi dây, nước uống…) và những biến hoá siêu tự nhiên (người hoá thú, biến không thành có, người đẹp thành người xấu… ). Trong sử thi Chi Lơ Kok, chiếc khiên thần được nghệ nhân đặc tả khá chi tiết. Chiến khiên vừa là vũ khí , vừa là phương tiện thần kỳ giúp người anh hùng bay trên không trung một cách dễ dàng. Chỉ có Xing Chi Ngã, một chàng trai khoẻ mạnh, năng lực hơn người mới có thể cầm được chiếc khiên lên “nhẹ như cầm tàu lá chuối”. Sức mạnh của khiên được mô tả:

Xing Chi Ngã giơ khiên lên trời nhún mình múa liền

Chiếc khiên bay phía trước, một mái nhà tung lên theo gió

Múa lại phía sau, một mái nhà nữa bay theo bão[3, tr.716]

Người ta nghe âm vang của khiên trên chín tầng mây vô cùng dữ dội. Chúng luôn “nóng như lửa đốt”, “hừng hực toả ánh sáng rực”. Chỉ mỗi mình Xing Chi Ngã chịu được sức nóng của nó. Ngoài chiếc khiên biết bay, biết phát ra tia lửa, giông bão, sấm chớp… trong nhiều tác phẩm, chúng ta còn gặp những yếu tố thần kỳ khác. Chẳng hạn, chàng Giông (Sử thi Giông Giớ mồ côi từ thuở bé) có viên thuốc hồi sinh mà Bia Pơnơng cho để cứu sống được Giớ, có sợi dây thần trói được kẻ thù mà không cần ra tay, có chiếc ông soi bằng bạc tìm được con hổ đã ăn thịt cha mẹ chàng trước đây, có cây roi bằng bạc khi quất vào người chết sẽ sống trở lại.. Chính nhờ yếu tố thần kỳ mà nguồn cảm hứng của nghệ nhân dân gian được chắp cánh. Những hoạt động của nhân vật hiện lên thật bất ngờ, khiến người nghe đắm chìm trong những tình huống éo le, những bước ngoặt lớn. Có thể nói, yếu tố thần kỳ đã góp phần tạo nên sự hấp dẫn của tác phẩm sử thi Tây Nguyên. Cũng trong sử thi này, hai chị em Xem Yang và Rang Hu vì không muốn lấy Thông Yươu, lại đem lòng yêu thương anh em Giông nên đã khoác chiếc áo thần vào đổi lốt thành người xấu xí, già nua. Để rồi sau này, anh em Giông dấu đi cái lốt già, xấu xí, thì hai người con gái vô cùng xinh đẹp hiện ra. Quả thật, yếu tố thần kì đã mang đến cho sử thi Tây Nguyên những sắc màu lãng mạn, bay bổng… Điều đáng nói hơn là những yếu tố hoang đường kỳ ảo cùng với sự xuất hiện của thần linh đã tạo nên một thế giới đậm chất thần thoại. Thế giới ấy tiếp thêm sức mạnh cho người anh hùng, làm cho hình tượng người anh hùng thêm kỳ vĩ.

Có thể nói, sự gặp gỡ giữa yếu tố thần thoại và dấu ấn cổ tích trong các ấn phẩm sử thi Tây Nguyên đã cho thấy sự giao thoa về thể loại, và điều đó lần nữa chứng minh cho luận điểm của E.M. Meletinski khi ông chỉ ra 2 cội nguồn của sử thi là thần thoại và cổ tích.

Chú thích:

(1) Ngô Đức Thịnh – Frank Proschan (chủ biên). Folk-Iore: một số thuật ngữ đương đại,Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2005 tr.214.

Xem Thêm

Phát triển nhân lực trẻ cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược
Bộ Khoa học và Công nghệ được giao nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách phát triển nhân lực trẻ chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, hàng không vũ trụ và năng lượng nguyên tử, với thời hạn hoàn thành trong quý IV/2026.
Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

GS.VS. Châu Văn Minh: Tăng cường kết nối khoa học, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân
Ngày 25/10/2026, tại Hà Nội, GS.VS. Châu Văn Minh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam), đã tham dự và phát biểu tại Hội nghị khoa học “Cập nhật các tiến bộ mới trong quản lý bệnh tiêu hóa và gan mật”, kết hợp kỷ niệm 8 năm thành lập Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật.
TECHFEST Việt Nam 2026 đưa sản phẩm công nghệ đến gần người dân
TECHFEST Việt Nam 2026 sẽ diễn ra tại Hà Nội từ ngày 13 đến 15/11, khu vực hồ Hoàn Kiếm và phố đi bộ là trung tâm với mô hình không gian mở, đưa các hoạt động trình diễn công nghệ, triển lãm sản phẩm khởi nghiệp và kết nối đầu tư đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.