14:25 ICT Thứ tư, 18/10/2017
Rss Feed

Người khai mở hoạt động báo chí, xuất bản

Đăng lúc: Thứ sáu - 10/10/2014 08:24 - Người đăng bài viết: Cộng tác viên

 

Nguyễn Văn Vĩnh (1882 - 1936), người khởi xướng công cuộc truyền bá chữ Quốc ngữ, cũng chính là người đóng vai trò tiên phong khai mở hoạt động báo chí, xuất bản tại Hà Nội ngay từ buổi đầu hình thành, vào thập niên đầu thế kỷ XX.

 Sau hơn 10 năm là công chức cao cấp trong bộ máy hành chính ở Lào Cai, Hải Phòng, Bắc Giang, Hà Nội, năm 1906, Nguyễn Văn Vĩnh đã thực hiện chuyến đi quan trọng: dự triển lãm thuộc địa ở Marseille và tham quan nghiên cứu đời sống báo chí, xuất bản ở Paris. Từ sau 1907, ông chuyển sang hướng lập nghiệp mới là xây dựng nhà in, tổ chức ra báo và in sách với sự cộng tác của Schneider - doanh nhân người  u sang Việt Nam từ 1882 để nhận thầu với Phủ Toàn quyền các công việc in ấn ở Đông Dương. Nguyễn Văn Vĩnh chính là người sớm nhất đứng ra tổ chức, sáng lập và chủ trì nhiều tờ báo lớn có vị trí quan trọng trong đời sống văn hóa dân tộc ở Hà Nội, kể từ Đăng cổ tùng báo, tiếp tục Đại Nam đồng văn nhật báo (1907), Lục tỉnh tân văn (1910), rồi Đông Dương tạp chí (1913 - 1917), Trung Bắc tân văn (ra hàng ngày bằng Quốc ngữ, từ 1917), L’Annam nouveau (1931)… Nhà in, rồi nhà xuất bản Trung Bắc tân văn và Công ty Vĩnh Phúc Thành do ông sáng lập là những cơ sở sản xuất và kinh doanh lớn về in ấn, được cộng sự tin cậy Đỗ Văn, một kỹ sư lành nghề đã qua trường đào tạo ở Pháp về trông coi.

Ở Nguyễn Văn Vĩnh, chủ trương truyền bá chữ Quốc ngữ và hoạt động kinh doanh in ấn gắn bó mật thiết với nhau. Ra báo, in báo là để phổ cập và phát triển việc sử dụng Quốc ngữ. Trước tác, phiên âm, dịch thuật bằng Quốc ngữ và chuyển sang Quốc ngữ đưa hoạt động báo chí nhanh chóng trở thành một phong trào sâu rộng, đáp ứng nhu cầu canh tân, hiện đại hóa đời sống văn hóa, văn chương, học thuật dân tộc.

Trên các phương tiện báo chí và in ấn được tạo dựng trong khoảng hơn 20 năm, Nguyễn Văn Vĩnh đã tập hợp được lực lượng cộng sự đáng kể, cả Hán học và Tây học, nhằm xây dựng nền Quốc văn mới bằng chữ Quốc ngữ. Lực lượng này gồm những tên tuổi đáng trọng nể như: Nguyễn Đỗ Mục, Phan Kế Bính, Phạm Duy Tốn, Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Tố, Phạm Quỳnh, Tản Đà... Họ đều là những người uyên thâm về Hán học, nhiều người còn có vốn Tây học. Ngót 30 năm sau, trong Nhà văn hiện đại, Quyển I (1941), Vũ Ngọc Phan đã nhận xét về họ như sau: “Nguyễn Văn Vĩnh là một người rất có công với Quốc văn (...) vì ông đã đứng chủ trương một cơ quan văn học vào buổi mà đối với văn chương, mọi người còn bỡ ngỡ. Ông lại hội họp được những cây bút có tiếng, gây nên được phong trào yêu mến Quốc văn trong đám thanh niên trí thức đương thời, vì ngoài một vài quyển tạp chí có giá trị, thanh niên hồi xưa không làm gì có những sách Quốc văn như bây giờ để đọc. Mà Đông Dương tạp chí hồi đó như thế nào? Người Tây học có thể thấy trong đó có những tinh hoa của nền cổ học Trung Hoa mà nước ta đã chịu ảnh hưởng lâu đời; người Hán học có thể thấy trong đó những tư tưởng mới của Tây phương là những tư tưởng mà người Việt Nam ta cần biết rõ để mà thâu thái. Những bài bình luận, những bài tham khảo về Đông phương và Tây phương đăng liên tiếp trong Đông Dương tạp chí ngày nay giở đến, người ta vẫn còn thấy là những bài có thể dựng thành những bộ sách biên tập rất vững vàng và có thể giúp ích cho nền văn học Việt Nam hiện đại và tương lai”.

Cần nói thêm, bản thân Nguyễn Văn Vĩnh, vừa làm báo, vừa tổ chức nhà xuất bản, nhà in, vừa tham gia nhiều hoạt động xã hội, vẫn còn sức thực hiện khối lượng có thể nói là khổng lồ các trước tác và dịch thuật, ở tư cách một trí thức uyên bác và cây dịch thuật có hạng. Ông đã để lại hàng chục bản dịch các tác gia lớn của văn học phương Tây, gồm Molière, Perault, Lesage, Abbé Prévost, A. Dumas, Victor Hugo, Fénélon, Plutarque, trong đó đáng ghi nhớ là các bản dịch Mai nương lệ cốt (Manon Lescaut) của A. Prévost, Những kẻ khốn nạn (Les Misérables) của V. Hugo, và Thơ ngụ ngôn của La Fontaine. Số lớn dịch phẩm trên đều được đăng tải trên Đông Dương tạp chí, từ 1913 - 1917; về sau, từ cuối những năm 1920 đến đầu 1930, đã được in thành sách trong Tủ sách Âu Tây tư tưởng cũng do ông chủ trương.

Bản dịch lần thứ hai bài Con ve và con kiến (La cigale et la fourrmie) của La Fontaine với lối gieo vần và ngắt đoạn phóng khoáng, có thể xem là bài “Thơ mới” đầu tiên ở nước ta, xuất hiện trước bài Tình già của Phan Khôi ngót 20 năm. Bản in lần thứ nhất năm 1907, bản dịch lần thứ hai được ông soạn lại năm 1914, gọn rõ, linh hoạt và sát nghĩa hơn:

Ve sầu kêu ve ve
Suốt mùa hè
Đến kỳ gió bấc thổi
Nguồn cơn thật bối rối
Một miếng cũng chẳng còn
Ruồi bọ không một con…

Nhận xét về công của Nguyễn Văn Vĩnh, Dương Quảng Hàm trong Việt Nam văn học sử yếu (1941) cũng thống nhất như Vũ Ngọc Phan: “Ông là người học rộng, biết nhiều, lại có lịch duyệt tư tưởng học thuật của Âu Tây, nhưng cũng am hiểu tín ngưỡng, phong tục của dân ta, muốn đem những quan niệm, phương pháp mới nào hợp thời để truyền bá trong dân chúng (...)

Văn ông bình thường, giản dị, có tính cách phổ thông tuy có châm chước theo cú pháp của văn Tây mà vẫn giữ được đặc tính của văn ta...

Kể về văn dịch tiểu thuyết thì thực ông là người có biệt tài, ít kẻ sánh kịp vậy”.

Đây cũng là nhận định sau khoảng lùi ngót 30 năm. Ngót 30 năm của một thời, ở nước ta, nói như Vũ Ngọc Phan “một năm đã có thể kể như 30 năm của người rồi”. Sau một khoảng lùi “30 năm”, lại là 30 năm với gia tốc lớn như vậy, mà các sản phẩm vẫn giữ nguyên giá trị, khiến “ít kẻ sánh kịp”, phải nói văn viết và văn dịch Quốc ngữ của Nguyễn Văn Vĩnh hiện đại biết chừng nào!

Như vậy, từ buổi đầu khởi xướng việc học Quốc ngữ cho toàn dân, từ 1907 - khi cho in lên đầu trang bìa các tập mỏng của bộ Tam quốc chí diễn nghĩa (do Phan Kế Bính dịch, Nguyễn Văn Vĩnh nhuận sắc để bán rất rẻ hoặc cho không người mua) dòng chữ nổi tiếng:Nước Nam ta sau này hay hay dở cũng ở chữ Quốc ngữ, Nguyễn Văn Vĩnh quả đã tạo dựng được một sự nghiệp đồ sộ trên lĩnh vực kinh doanh in ấn báo chí, xuất bản. Cũng chính trên các phương tiện in ấn do mình chủ trương, Nguyễn Văn Vĩnh đã thực hiện được một sự nghiệp trước tác và dịch thuật khó ai theo kịp, góp phần quan trọng thúc đẩy nền văn chương Quốc ngữ lên trình độ phổ cập và hiện đại, mà công cuộc canh tân văn hóa đòi hỏi.

x
x    x

Người có biệt danh Tân Nam Tử có lẽ là một trong số rất ít người Việt Nam sớm nhất mặc  u phục, tóc húi cao, đội mũ cát “côlônhân” (colonial - thuộc địa), đi giầy da, cưỡi xe môtô Terror đỏ chót, nói cười khoáng đạt, cởi mở. Là người sáng lập Hội dịch sách và Hội Trí Tri ở Hàng Quạt năm 1907 để cổ động nâng cao dân trí và truyền bá chữ Quốc ngữ. Là người Việt Nam đầu tiên gia nhập Hội nhân quyền Pháp năm 1906; rồi cùng với 4 thành viên người Pháp trong Hội ký đơn gửi Toàn quyền Đông Dương đòi tha Phan Châu Trinh, khi Phan bị đầy ra Côn Lôn, với án “trảm giam hậu”. Có quan điểm chính trị gần gũi với Phan Châu Trinh nên đã dịch từ chữ Hán sang tiếng Pháp bản Thư gửi Toàn quyền Đông Dươngcủa Phan viết năm 1906, và đăng trên L’Annam nouveau, ngày 23.3.1933. Là người đã hai lần từ chối nhận Huân chương Bắc đẩu bội tinh do chính quyền thuộc địa ban tặng. Là kiện tướng của phong trào báo chí và là người cha của hai nhà Thơ mới: Nguyễn Giang và Nguyễn Nhược Pháp. Và cuối cùng, là người ở tuổi 54 lâm vào cảnh phá sản, nghèo khổ, rồi bị sốt rét ác tính mà chết trong một cuộc đi tìm vàng trên đất Lào, nhưng lại được hưởng đám ma to có rất đông tầng lớp quần chúng đưa tiễn ở Hà Nội vào ngày 8.5.1936. Đám tang nhận được nhiều câu đối viếng và lời điếu, trong đó có của Phan Bội Châu, Trần Tuấn Khải, Doãn Kế Thiện, Hoàng Ngọc Phách, Lê Thước, Dương Bá Trạc, Bùi Kỷ…

Qua đời ở tuổi 54, sau ngót 30 năm hoạt động, Nguyễn Văn Vĩnh đã tích cực dấn thân vào công cuộc thử nghiệm trên nhiều lĩnh vực hoạt động với ý chí tự học và tự lập rất cao, với ước nguyện cũng rất cao về một sự nghiệp văn hóa do chính tay mình góp công tạo dựng. Ước nguyện ấy quả ông đã thực hiện được một phần trong tư cách người khởi xướng và vận động cho việc truyền bá chữ Quốc ngữ; trong tư cách người hoạt động dịch thuật; bao trùm và nổi bật, trong tư cách người chủ báo, chủ xuất bản. Và khi công cuộc cải cách của Nguyễn Văn Vĩnh đã tàn, khi báo L’Annam nouveau của ông bị vỡ nợ, thì vào những năm 1930 lại tiếp tục sự xuất hiện lớp ông chủ mới, trong đó nổi bật là nhóm Tân Dân với ông chủ Vũ Đình Long và nhóm Tự lực văn đoàn với ông chủ Nhất Linh.

 

 

Tác giả bài viết: Gs Phong Lê
Nguồn tin: Đại biểu nhân dân
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

 

ddkhtt1

Bản tin PBKT số 158/2017 new (1)

Market Ban tin so 158 1 copy small

Phổ biến kiến thức theo Chuyên đề new (1)

Chuyen de Pho bien kien thuc thang 9 (final) 1 copy small