06:26 ICT Thứ hai, 21/05/2018
Rss Feed

Một số kết quả đột phá về khoa học và công nghệ

Đăng lúc: Thứ ba - 13/12/2016 10:44 - Người đăng bài viết: Cộng tác viên

 

Hiện nay, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ (KH&CN) hiện đại trên thế giới đang diễn ra như vũ bão trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, có khả năng tạo ra những thành tựu mang tính đột phá, khó dự báo và có ảnh hưởng to lớn tới mọi mặt của đời sống xã hội loài người. Những thành tựu to lớn đó, đặc biệt là trong công nghệ thông tin - truyền thông, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, tiên tiến..., đang trong quá trình chuyển từ nền văn minh công nghiệp sang thời đại thông tin, từ nền kinh tế dựa vào các nguồn lực tự nhiên sang nền kinh tế dựa vào tri thức; khoa học và công nghệ đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, hàng đầu đã làm cho sức mạnh của mỗi quốc gia tuỳ thuộc phần lớn vào năng lực, trình độ KH&CN. Lợi thế về nguồn tài nguyên thiên nhiên, giá lao động rẻ ngày càng trở nên ít quan trọng hơn, vai trò của nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn, có năng lực sáng tạo ngày càng có ý nghĩa quyết định trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế.

Trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập Quốc tế, nước ta có cơ hội thuận lợi để tiếp thu tri thức KH&CN, công nghệ mới, tiên tiến, hiện đại, các nguồn lực, kinh nghiệm tổ chức quản lý tiên tiến và những bài học thành công, thất bại của nước ngoài để nhanh chóng tăng cường năng lực KH&CN quốc gia, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.  Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định: "Phát triển mạnh khoa học, công nghệ làm động lực đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế tri thức; góp phần tăng nhanh năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế, sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước;..." và đã bổ sung Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH: “Phát triển KH&CN thực sự là động lực then chốt của quá trình phát triển nhanh và bền vững” và tiếp tục khẳng định “Phát triển mạnh khoa học, công nghệ làm động lực đẩy nhanh quá trình CNH-HĐH, phát triển kinh tế tri thức”. 

Nhận thức rõ được điều này, trong những năm qua Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh đã ban hành nhiều Nghị quyết, Chỉ thị, Chương trình, Kế hoạch nhằm triển khai thực hiện sâu rộng và có hiệu quả các hoạt động KHCN trên địa bàn tỉnh như Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII về: “Tập trung mọi nguồn lực đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá; phát triển công nghiệp công nghệ cao; nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, xây dựng nông thôn mới; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và an sinh xã hội”; Chương trình số 39-CTr/TU ngày 26/02/013 của Tỉnh ủy về thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 (khóa XI) về phát triển KH&CN phục vụ sự nghiệp CNH-HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế; Chương trình hành động số 58/SKHCN-CTr ngày 14/3/2011 về triển khai thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2011-2020; Kế hoạch và giải pháp phát triển khoa học và công nghệ tỉnh Bắc Ninh đến năm 2020. Ngoài ra, một số văn bản khác của các ngành, lĩnh vực có liên quan đến hoạt động KH&CN cũng đã được các cấp ban hành đưa vào thực hiện…Với quan điểm “Khoa học và công nghệ luôn đi tắt, đón đầu mọi xu thế…” do đó, phát triển khoa học và công nghệ luôn được các cấp ủy và chính quyền ưu tiên, chú trọng. Trong đó đẩy mạnh việc ứng dụng những tiến bộ khoa học-kỹ thuật tiên tiến, áp dụng những công nghệ mới vào đời sống và sản xuất, góp phần làm tăng năng suất, chất lượng, sức cạnh tranh của sản phẩm, nâng cao hiệu quả sản xuất cho nhân dân, đóng góp thiết thực vào thành tựu phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh.

Sau gần 20 năm tái lập tỉnh, được sự quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát của Tỉnh ủy, UBND tỉnh, sự hỗ trợ của Bộ Khoa học và Công nghệ, hoạt động KH&CN ở tỉnh ta đã đạt được nhiều kết quả, đóng góp vào thành tích chung của địa phương. Toàn tỉnh đã tổ chức triển khai thực hiện 1.066 đề tài, dự án KH&CN (23 dự án cấp nhà nước, 351 đề tài, dự án cấp tỉnh, 692 đề tài cấp cơ sở). Công tác tham mưu, các hoạt động nghiên cứu KHXH&NV, công tác điều tra cơ bản đã đóng góp một phần cơ sở khoa học cho việc hoạch định các chủ trương, chính sách, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh; đề xuất được các giải pháp thích hợp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác chỉ đạo, điều hành, quản lý kinh tế, quản lý xã hội, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống phục vụ phát triển kinh tế-xã hội của địa phương. Các tiến bộ khoa học công nghệ ứng dụng vào sản xuất và đời sống đã góp phần quan trọng nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất nông nghiệp, tạo ra nhiều mô hình sản xuất nông nghiệp tiên tiến, hiệu quả cao, bền vững; góp phần đổi mới công nghệ, tiếp thu, làm chủ, thích nghi và khai thác có hiệu quả các công nghệ nhập từ nước ngoài, nâng cao hàm lượng công nghệ và sức cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp; xây dựng cơ sở hạ tầng và ứng dụng các thành tựu trong lĩnh vực công nghệ thông tin kết hợp áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2008 nâng cao hiệu lực, hiệu quả và hiện đại hoá hoạt động quản lý hành chính nhà nước; từng bước xử lý ô nhiễm môi trường, nâng cao hiệu quả công tác chăm sóc sức khoẻ cộng đồng. Hoạt động quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ đã làm tốt công tác tư vấn, hỗ trợ các doanh nghiệp xây dựng và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến theo tiêu chuẩn quốc tế, bảo hộ sở hữu trí tuệ, xây dựng thương hiệu, nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm, thúc đẩy hội nhập kinh tế. Để đạt được những thành tựu trên, bên cạnh sự quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh còn có sự phối kết hợp thường xuyên giữa các ngành, cơ quan chức năng, đơn vị tham gia nghiên cứu khoa học và sự cố gắng, nỗ lực khắc phục mọi khó khăn, hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ của ngành khoa học và công nghệ. Đặc biệt, sự đột phá về phát triển khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh trong những năm qua đã góp phần không nhỏ vào sự tăng trưởng kinh tế-xã hội, ổn định an ninh, chính trị trên địa bàn tỉnh, thể hiện rõ nét nhất trong sản xuất nông nghiệp, đó là: mặc dù diện tích đất nông nghiệp liên tục giảm (5 năm gần đây đã giảm trên 5.000ha), song, nhờ có sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền từ tỉnh đến cơ sở, sự tham mưu, đề xuất của ngành khoa học và có sự tham gia, đóng góp của các cấp, các ngành, cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh trong việc nâng cao công tác nghiên cứu, tăng cường ứng dụng các tiến bộ KHKT vào sản xuất, nhờ đó sản xuất nông nghiệp vẫn phát triển khá. Thực hiện chương trình tăng năng suất và chất lượng cây lúa bảo đảm an ninh lương thực với mục tiêu chủ yếu là chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, cơ cấu giống hợp lý và đưa các giống có năng suất, chất lượng cao, phù hợp với điều kiện sinh thái của địa phương vào sản xuất, giai đoạn 1997-2015, ngành khoa học đã phối hợp với ngành nông nghiệp, các huyện, thị xã, thành phố và một số cơ quan, đơn vị liên quan triển khai xây dựng các mô hình trình diễn, khảo nghiệm các giống lúa mới như: HP19, tám hương, GL159, GL102, hương thơm Kinh Bắc, nếp Anh Đào, KB1,... với quy mô trên 15.000ha trên địa bàn tỉnh, đã chuyển giao trên 1.360 quy trình kỹ thuật sản xuất tiên tiến, tổ chức 6.200 lớp tập huấn cho 730.000 lượt cán bộ, hội viên nông dân, đoàn viên thanh niên tham gia. Các loại giống lúa mới cùng với các biện pháp kỹ thuật thâm canh tiên tiến được ứng dụng vào sản xuất đại trà đã góp phần đưa suất lúa trung bình vụ xuân 2015 toàn tỉnh đạt trên 66 tạ/ha, thu nhập bình quân đạt 82 triệu đồng/ha/năm (năng suất trung bình của các mô hình đạt 69-73 tạ/ha (cao hơn đối chứng KD18 từ 6-7 tạ/ha), tăng gần gấp 2 lần so với năng suất lúa năm 1997 (39,3 tạ/ha). Mặc dù cơ cấu sản xuất nông nghiệp chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng ngành trồng trọt, tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi-thủy sản (tỷ trọng trồng trọt giảm từ 46% năm 2011 xuống còn 42,6% năm 2014; tương ứng, tỷ trọng chăn nuôi-thuỷ sản tăng từ 46,2% lên 49,4%) nhưng sản xuất nông nghiệp vẫn bảo đảm vững chắc an ninh lương thực, giải quyết việc làm, góp phần quan trọng ổn định tình hình kinh tế, chính trị-xã hội, nâng cao đời sống nhân dân.

Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lần thứ XVIII đã xác định phấn đấu tỉnh Bắc Ninh trở thành thành phố trực thuộc Trung ương vào những năm 2020 với những định hướng trong lĩnh vực nông nghiệp như tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng cho nông nghiệp, nông thôn, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và công nghệ mới, phát triển nông nghiệp toàn diện, chuyển sang sản xuất hàng hóa có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao, bền vững. Trên tinh thần đó, trong những năm gần đây, ngành khoa học đã nỗ lực tham mưu, đề xuất trình Bộ Khoa học và Công nghệ, UBND tỉnh phê duyệt cho thực hiện triển khai các chương trình, đề tài, dự án..nhằm tranh thủ sự hỗ trợ kinh phí từ nguồn NSNN (của Trung ương và địa phương); đồng thời huy động nguồn vốn đối ứng của các của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh để xây dựng các khu thực nghiệm sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, các mô hình sản xuất tiên tiến có sức thuyết phục, cho hiệu quả kinh tế cao, là cơ sở nhân rộng tại nhiều địa phương trong tỉnh như: Khu thực nghiệm sản xuất nông nghiệp công nghệ cao có quy mô 17ha tại xã Việt Đoàn, huyện Tiên Du; khu nông nghiệp công nghệ cao của Công ty cổ phần Tập đoàn Dabaco có quy mô 25ha, với mục tiêu xây dựng các khu trình diễn về sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao để sản xuất các loại giống cây trồng và các sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao (giống rau, giống hoa, cây ăn quả; các loại nông sản an toàn và hoa cao cấp... ) góp phần chuyển dịch cơ cấu sản xuất trong nông nghiệp theo hướng hiện đại, hiệu quả bền vững. Các mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, áp dụng công nghệ sinh học phục vụ phát triển nông nghiệp bền vững tiếp tục được duy trì, phát triển và nhân rộng. Đến nay đã xây dựng được 19 mô hình ở 8 huyện, thị xã, thành phố với tổng diện tích 70.400m2 nhà lưới, nhà màng có hệ thống tưới nước tự động, chủ động điều khiển nhiệt độ, ánh sáng... để sản xuất các loại rau an toàn, hoa cao cấp cho thu nhập bình quân đạt từ 300-500 triệu đồng/ha/năm, cá biệt có mô hình đạt 1 tỷ đồng/ha/năm. Một số doanh nghiệp đã được hỗ trợ đầu tư xây dựng hàng ngàn m2 nhà lưới hiện đại, chuyển giao công nghệ để sản xuất các loại hoa lan Hồ Điệp, Vũ Nữ, Đai Châu cho thu nhập 500-750 triệu/1.000m2/năm. Các mô hình nhân giống và sản xuất thương phẩm một số giống lan Hoàng Thảo lai tại thành phố Bắc Ninh; sản xuất hoa chất lượng cao tại Lương Tài, Tiên Du, Quế Võ, Gia Bình, Yên Phong… trung bình 1 năm trồng gần 2 triệu cây hoa Lily, hàng chục ha hoa hồng, layơn, loa kèn, đồng tiền, cúc các loại phục vụ cho dịp tết Nguyên đán và các ngày lễ (năm 2015 giá trị sản xuất trồng trọt ứng dụng công nghệ cao ước gần 20% tổng giá trị sản xuất trồng trọt của tỉnh).

Cùng với việc tăng cường triển khai chương trình tăng năng suất và chất lượng cây lúa bảo đảm an ninh lương thực trên địa bàn tỉnh, công tác tư vấn, hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến, bảo hộ sở hữu trí tuệ, xây dựng thương hiệu...nhằm góp phần nâng cao năng suất, chất lượng, sức cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp địa phương luôn được ngành Khoa học ưu tiên đẩy mạnh. Ngành đã phối hợp với một số ngành triển khai các hoạt động hỗ trợ các doanh nghiệp áp dụng tiến bộ kỹ thuật, công nghệ mới vào sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ xuất khẩu, các sản phẩm tre trúc…góp phần triển khai tốt Đề án sản phẩm chủ lực của địa phương (ứng dụng CNTT trong thiết kế sản phẩm, công cụ để gia công hàng loạt, công nghệ xử lý gỗ chống cong vênh, co ngót, nâng cao chất lượng gỗ, sử dụng gỗ rừng trồng thay thế gỗ rừng tự nhiên, xử lý mối mọt đối với nguyên liệu tre trúc ở làng nghề Xuân Lai...); xây dựng thương hiệu, tuyên truyền phổ biến kiến thức về sở hữu trí tuệ (tạo lập, quản lý và phát triển nhãn hiệu tập thể “Đúc đồng Đại Bái” nhằm xác lập quyền, xây dựng, áp dụng hệ thống công cụ, phương tiện quản lý, khai thác, phát triển nhãn hiệu tập thể; tháng 8/2012 Hội gỗ Đồng Kỵ đã được Cục Sở hữu trí tuệ cấp Giấy chứng nhận nhãn hiệu tập thể “Gỗ Đồng Kỵ”. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để người sản xuất chống lại các hành vi gian lận, lợi dụng và giả mạo sản phẩm của địa phương…). Đến nay, sản phẩm công nghiệp đồ gỗ mỹ nghệ, các sản phẩm tre trúc Xuân Lai… không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao và đa dạng của thị trường trong nước mà còn phục vụ xuất khẩu, nhờ vậy mà giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh không ngừng tăng qua các năm, năm 1997 đạt 0,569.381 tỷ đồng, năm 2005 đạt 6,724.751 tỷ đồng , năm 2011 đạt 62,511.877 tỷ đồng và năm 2015 ước đạt 598 tỷ đồng.

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, hoạt động khoa học và công nghệ vẫn còn một số tồn tại cần khắc phục:

Một là, hoạt động khoa học xã hội còn hạn chế, các đề tài nghiên cứu trong lĩnh vực KHXH&NV phục vụ cho công tác tham mưu đề xuất các chính sách, xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh chưa thực sự được quan tâm và chất lượng của các đề tài thuộc lĩnh vực này chưa cao.

Hai là, việc ứng dụng, chuyển giao các tiến bộ KH&CN vào sản xuất và đời sống còn chậm, nhất là trong lĩnh vực công nghiệp, TTCN, dịch vụ và trong các làng nghề; chưa tạo được phong trào ứng dụng và chuyển giao KHCN sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân.

Ba là, cơ chế quản lý chậm đổi mới, việc cụ thể hoá các quy định của nhà nước về quản lý, về chính sách khuyến khích phát triển KHCN, đặc biệt là các biện pháp nhằm tạo lập thị trường KHCN để nâng cao hiệu quả công tác nghiên cứu - triển khai chậm được thực hiện; thiếu các giải pháp khuyến khích các thành phần kinh tế, các chủ doanh nghiệp tích cực đầu tư, đổi mới công nghệ, đổi mới và nâng cao chất lượng, sức cạnh tranh của sản phẩm.

Những tồn tại hạn chế nêu trên là do các nguyên nhân chủ yếu sau đây:

Một là, nhận thức của một số cấp ủy, chính quyền, thủ trưởng cơ quan, đơn vị về vai trò của khoa học và công nghệ trong quá trình công nghiệp hoá-hiện đại hoá còn hạn chế, dẫn đến thiếu quan tâm tổ chức triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước về phát triển khoa học và công nghệ; thiếu đề xuất và tổ chức chỉ đạo các hoạt động nghiên cứu-triển khai, ứng dụng và chuyển giao các thành tựu KHCN vào sản xuất và đời sống.

Hai là, tổ chức bộ máy làm chức năng quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ gần đây đã được kiện toàn một bước, nhưng vẫn chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; nhất là bộ máy quản lý KHCN cấp huyện, chỉ có 1 cán bộ kiêm nhiệm, vì vậy không thể thực hiện tốt chức năng quản lý cũng như tổ chức triển khai các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao KHCN phục vụ sản xuất và đời sống trên địa bàn.

Ba là, đội ngũ cán bộ làm công tác nghiên cứu, triển khai, ứng dụng khoa học và công nghệ chưa nhiều; môi trường tham gia hoạt động khoa học và công nghệ chưa thực sự thuận lợi, cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho nghiên cứu, triển khai về khoa học và công nghệ chưa đáp ứng yêu cầu, vì vậy năng lực nghiên cứu, kinh nghiệm hoạt động đổi mới sáng tạo cũng còn hạn chế.

Nhằm phát huy hơn nữa các đột phá về phát triển khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh, theo chúng tôi, hoạt động khoa học và công nghệ giai đoạn 2015-2020 cần tập trung vào một số nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu sau:

1. Tiếp tục nâng cao năng lực và hiệu quả công tác quản lý Nhà nước về khoa học và công nghệ. Đổi mới cơ chế hoạt động của các đơn vị, tổ chức khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong nền kinh tế thị trường. Thúc đẩy hình thành lực lượng doanh nghiệp khoa học công nghệ làm nhân tố cho sự phát triển khoa học và công nghệ trong tương lai.

2. Đổi mới và hoàn thiện cơ chế quản lý và chính sách phát triển khoa học và công nghệ. Đổi mới cơ chế tài chính và đầu tư cho khoa học và công nghệ, trong đó nâng cao tỷ lệ đóng góp của các doanh nghiệp và xã hội hóa thu hút các nguồn lực ngoài ngân sách đầu tư cho khoa học và công nghệ. Hình thành hệ thống các quỹ phát triển khoa học và công nghệ, quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹ đổi mới công nghệ thúc đẩy phát triển các ngành công nghệ cao.

3. Xây dựng chương trình đào tạo bồi dưỡng và sử dụng hiệu quả, trọng dụng cán bộ khoa học và công nghệ, nhất là trí thức trong và ngoài nước có trình độ chuyên môn cao. Phát triển đội ngũ cán bộ kỹ thuật trình độ cao trong các doanh nghiệp.

4. Xây dựng chương trình ứng dụng và phát triển công nghệ cao, tăng tỷ trọng đóng góp của công nghiệp công nghệ cao trong GDP của tỉnh. Hoàn thành các công trình khu nông nghiệp công nghệ cao, trung tâm công nghệ sinh học nhằm thu hút các dự án đầu tư của nước ngoài cũng như các doanh nghiệp trong và ngoài nước.

5. Từng bước tạo dựng và phát triển thị trường khoa học và công nghệ. Mở rộng quy mô hoạt động và nâng cao hiệu quả các chương trình đổi mới công nghệ công nghiệp, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và phát triển tài sản trí tuệ của doanh nghiệp.

Tác giả bài viết: Ts.Lê Xuân Tâm
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

ddkhtt1

Bản tin PBKT số 166/2018 new (1)

Trang 1 Ban tin 166 small

Phổ biến kiến thức theo Chuyên đề new (1)

Chuyen de Pho bien kien thuc thang 3 2018 1 small