02:44 ICT Thứ hai, 21/05/2018
Rss Feed

Mô hình nuôi chồn hương - Paradoxurus hermaphroditus sinh thái

Đăng lúc: Thứ hai - 12/12/2016 16:21 - Người đăng bài viết: Cộng tác viên

 

Cầy vòi hương có tên khoa học là Paradoxurus hermaphroditus (Pallas, 1777) còn có tên gọi khác là cầy vòi đốm. Nhiều tài liệu gọi loài này là Chồn hương, cầy hương (Nguyễn Lân Hùng và Nguyễn Khắc Tích, 2010)… Hiện có nhiều nơi nuôi cầy vòi hương với nhiều mục đích khác nhau. Trong đó các trang trại nuôi loài này đã sớm phát triển ở các tỉnh Đắk Lắk, Lâm Đồng, Bình Dương, Thanh Hóa, Bắc Giang, TP. HCM, Long An,… Hầu hết các trang trại, các hộ gia đình đang nuôi Chồn hương đều thu lợi nhuận chủ yếu từ việc cung cấp con giống và bán thịt cho các nhà hàng đặc sản.

Phơi sản phẩm cà phê chồn

Phơi sản phẩm cà phê chồn

Một số tài liệu đề cập đến sinh học, sinh lý và tập tính của Chồn trong tự nhiên. Đây chính là thông tin cơ sở để xây dựng chuồng trại, chăm sóc và nuôi dưỡng trong điều kiện nuôi nhốt. Chồn là loài động vật hoang dã thuộc nhóm động vật ăn tạp, có tập tính kiếm ăn vào ban đêm. Thức ăn chủ yếu là những loại quả chín của các loài cây mọc trong tự nhiên và các loài gặm nhấm, côn trùng mà chúng săn bắt được (Phạm Nhật, 2002). Chồn hương là loài thích trái cây mềm và chúng lựa chọn rất kỹ các trái cây để ăn. Chúng cũng ăn quả cà phê song chỉ chọn những quả chín mọng, có vị ngọt, hương thơm (Joshi và ctv, 1995; Nguyễn Vịnh, 2011). Tuy nhiên, Chồn hương không thể tiêu hóa được hoàn toàn quả cà phê ăn vào, chỉ tiêu hóa được phần thịt quả cà phê, rồi thải ra ngoài phần hạt cứng không tiêu hóa được. Những hạt này có hương rất khác biệt và hiếm có (Joshi và ctv, 1995) nên được chế biến thành một loại cà phê cao cấp và được gọi là cà phê chồn.

Từ đó, nhóm tác giả Nguyễn Thanh Bình và Lâm Thủy Ngân Tuyền đã thực hiện đề tài “Xây dựng mô hình nuôi chồn hương - Paradoxurus hermaphroditus tại xã Xuân Đường, huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai” tại Trung tâm Ứng dụng Công nghệ sinh học xã Xuân Đường, Cẩm Mỹ, Đồng Nai với mục tiêu nhằm xây dựng mô hình nuôi nhốt chồn trong khuôn viên môi trường nhân tạo (bán hoang dã) làm cơ sở, phát triển mô hình chăn nuôi thú hoang dã (thay đổi giống vật nuôi mới) góp phần thay đổi kinh tế nông hộ, tạo cơ sở cho việc bảo tồn thú quý hiếm trên cơ sở tác động và ứng dụng công nghệ sinh học (CNSH). Đồng thời trên cơ sở nuôi nhốt chồn nghiên cứu, đề xuất quy trình sản xuất cà phê chồn nguyên liệu.

Nội dung đề tài bao gồm nghiên cứu một số đặc điểm sinh học thích nghi (một số đặc điểm thể hiện sự sinh trưởng, phát dục, sinh sản) của chồn trong điều kiện nuôi nhốt tại địa điểm khảo sát, đánh giá hiệu quả tác động của kích thích tố sinh dục (hCG, PMSG) đến sự sinh sản của và ghi nhận và đề xuất quy trình, phát đồ điều trị những bệnh xảy ra trong điều kiện chăn nuôi tại địa điểm khảo sát. Ghi nhận khả năng ăn quả cà phê chín của chồn trên cơ sở điều chỉnh lượng thức ăn hàng ngày nhằm sản xuất cà phê phân chồn.

Trên cơ sở thiết kế và xây dựng chuồng trại tại trại chồn và tiểu khí hậu chuồng nuôi, để ghi phù hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của chồn. Chồn được nuôi trong điều kiện tại địa điểm khảo sát với mức tăng trọng 0.33kg/tháng. Sự tác động kích thích tố sinh dục hCG và PMSG cho kết quả bước đầu thu được khả quan với tỉ lệ mang thai đồng loạt (tỉ lệ 100%), số con sinh ra trung bình trong một ổ khá cao so với tự nhiên (4±2con ) và tỉ lệ con sinh ra sống sót chiếm khá cao (87%). Một số chỉ tiêu sinh lý hóa máu được ghi nhận trên những chồn sức khỏe bình thường phù hợp với các nghiên cứu trước đây (Hemoglobin: 138.46 ± 1.5 g/L ở con cái và 141,50 ± 2,38 g/L ở con đực; Lượng hồng cầu 13,47 ± 0,23 (x1012/L) ở con cái và 13,68 ± 0,22 (x1012/L) ở con đực).

Trong các bệnh thường gặp cao nhất là chấn thương cơ học (66.8%), trong đó chấn thương đuôi chiếm khá cao (50%), chấn thương các chi (16.6%) và tỉ lệ thấp là chấn thương mắt (10%). Chồn rụng lông không rõ nguyên nhân chiếm khá cao (tỉ lệ 80%). Nhiễm nội ký sinh (chiếm 33.3%), trong đó: nhiễm giun tóc và giun kết hạt khá cao (30% và 20%). Tỉ lệ tiêu chảy không rõ nguyên nhân được ghi nhận trên chồn thí nghiệm chiếm tỉ lệ 10%.

Qua kết quả bước đầu cho thấy chồn đã sử dụng lượng quả cà phê chín khá cao (44,5 % ở cá thể cái, 55,4 % ở cá thể đực) đối với lô thí nghiệm có giảm 50% lượng thức ăn cơ bản. Trong trường hợp không giảm lượng thức ăn cơ bản hoặc giảm 100 % lượng thức ăn cơ bản thì khả năng tiêu thụ quả cà phê chín thấp hơn so với các lô khác. Khả năng tiêu hóa quả cà phê chín để thu được hạt cà phê chồn (cà phê phân chồn) khả quan trung bình 30% quả cà phê chín mà chồn ăn vào.

Trong điều kiện nuôi nhốt như trên bước đầu chồn đã thích hợp với điều kiện nuôi nhốt và có thể sinh trưởng, sinh sản khá tốt. Sự tác động của kích thích tố sinh dục giúp chồn lên giống đồng loạt và sinh sản khá cao.

Hội đồng Khoa học công nghệ chuyên ngành tổng kết nghiệm thu đề tài đánh giá cao kết quả của nhóm nghiên cứu, cũng như khả năng ứng dụng, ý nghĩa của đề tài. Việc hoàn thiện mô hình nuôi chồn sinh thái kết hợp sản xuất cà phê chồn nguyên liệu sẽ góp phần phát triển kinh tế nông hộ cho các hộ dân trong thời gian tới.

Tác giả bài viết: Lê Thị Bảo Thu
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

ddkhtt1

Bản tin PBKT số 166/2018 new (1)

Trang 1 Ban tin 166 small

Phổ biến kiến thức theo Chuyên đề new (1)

Chuyen de Pho bien kien thuc thang 3 2018 1 small