09:06 ICT Thứ ba, 25/09/2018
Rss Feed

Kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống sốt xuất huyết

Đăng lúc: Thứ ba - 13/12/2016 10:46 - Người đăng bài viết: Cộng tác viên

 

Tóm tắt nghiên cứu

Sốt xuất huyết (SXH) là bệnh nhiễm vi rút Dengue cấp tính do muỗi truyền và có thể gây thành dịch lớn. Theo ước tính của Tổ chức Y tế thế giới, hàng năm có 50 triệu người nhiễm virút Dengue. Năm 2012, SXH được xếp vào bệnh do muỗi truyền quan trọng nhất trên thế giới. Việt Nam là một trong 8 nước đứng đầu khu vực Đông Nam Á và thế giới về tỷ lệ mắc và chết do bệnh SXH Bệnh lưu hành rộng rãi ở Việt nam nhất là ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long,

đồng bằng Bắc bộ và vùng ven biển miền Trung. Bệnh có xu hướng tăng mạnh trong những năm gần đây và gây dịch lớn ở cả 4 khu vực trong toàn quốc và là một trong 10 bệnh truyền nhiễm gây dịch có tỷ lệ mắc cao nhất ở nước ta.

Năm 2015 trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh tình hình dịch sốt xuất huyết diễn biến phức tạp với 165 trường hợp mắc SXH và 10 ổ dịch. Truyền thông và ngành y tế đã vào cuộc mạnh mẽ để ngăn chặn dịch bùng phát trên địa bàn. Do bệnh truyền nhiễm lây truyền qua vector muỗi, chưa có vắc xin phòng cũng như biện pháp phòng bệnh đặc hiệu nên các biện pháp phòng bệnh chủ yếu nhờ tính tự giác của người dân qua thực hành diệt muỗi và phòng chống muỗi đốt. Năm 2016 trước tình hình bệnh sốt xuất huyết vẫn chưa được khống chế trong khu vực, Bắc Ninh với nhiều ca SXH xâm nhập là nguy cơ bùng phát dịch trên địa bàn, đồng thời sự xuất hiện của bệnh truyền nhiễm mới nổi do virus Zika thì công tác phòng chống dịch do vector muỗi vằn càng trở nên quyết liệt.

Nghiên cứu mô tả cắt ngang 400 hộ gia đình tại xã Minh Đạo thuộc huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh năm 2016 nhằm mô tả kiến thức, thái độ, thực hành và một số yếu tố liên quan của người dân về bệnh SXH. Nghiên cứu chỉ ra được kiến thức về phòng chống sốt xuất huyết của người dân để có biện pháp can thiệp và tìm các yếu tố liên quan với kiến thức phòng chống SXH, giữa kiến thức với thái độ, thực hành phòng chống SXH của người dân tại địa bàn nghiên cứu.

Kết quả nghiên cứu

A. Kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống SXHD.

1. Kiến thức về phòng chống sốt xuất huyết Dengue

* Nghe nói về sốt xuất huyết Dengue

Sau khi phỏng vấn chỉ có 0.5% người dân được chọn để phỏng vấn trả lời chưa từng nghe nói về SXHD, 95% đã nghe tới bệnh SXH và đây là kết quả đáng mong đợi, vì Minh Đạo là xã điểm phòng SXH và trong năm 2015 trên địa bàn huyện Tiên Du cũng xuất hiện nhiều ca SXH xâm nhập. Phương tiện truyền thông đại chúng như truyền thanh truyền hình, báo chí... đã được phát huy được hiệu quả đi đến người dân.

* Nguồn thông tin sốt xuất huyết

Nguồn cung cấp thông tin về SXHD chủ yếu là truyền thanh (85.4%), truyền hình (83%), kế đến là cán bộ y tế (37.9%); sách báo, tranh ảnh (23.0%) và bản thân, gia đình có người bệnh và chính quyền (0.5%). Nguồn thông tin từ nhân viên y tế là nguồn thông tin phản ánh hiệu quả hoạt động của mạng lưới y tế địa phương trong công tác truyền thông giáo dục sức khỏe (GDSK) cho cộng đồng, do vậy kết quả trên cho thấy công tác truyền thông GDSK cho người dân tại Bắc Ninh có ít hiệu quả so với kênh thông tin từ truyền thanh và truyền hình.

* Hiểu biết biểu hiện triệu chứng sốt xuất huyết

Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ người dân biết triệu chứng lâm sàng sốt cao liên tục trên 2 ngày chiếm tỷ lệ cao nhất (99.8%); nổi chấm xuất huyết dưới da (93.7%); mệt mỏi, đau cơ xương, nhức đầu (84.5%). Điều này cho thấy hiệu quả của công tác tuyên truyền GDSK giúp người dân hiểu được các triệu chứng cơ bản ở địa phương đã có những hiệu quả nhất định. Bên cạnh đó vẫn còn người dân không biết hoặc biết chưa đúng dấu hiệu cơ bản SXHD, đây chính là nguy cơ gây tử vong cao do phát hiện bệnh muộn, không điều trị kịp thời.

* Hiểu biết nguyên nhân mắc bệnh sốt xuất huyết

 Kết quả nghiên cứu của tôi cho thấy tỷ lệ người dân biết nguyên nhân gây SXHD là do muỗi đốt chiếm tỉ lệ 92.5%. Công tác truyền thông GDSK tại địa bàn nghiên cứu đã có tác động đến sự quan tâm của người dân đối với vấn đề sức khỏe của gia đình và cộng đồng và dẫn đến tỷ lệ 92.5% hiểu biết nguyên nhân gây SXHD ở xã Minh Đạo.

* Hiểu biết loại muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết

Kết quả nghiên cứu của tôi cho thấy tỷ lệ người dân biết loại muỗi vằn truyền bệnh SXHD chiếm 79,3%. Như vậy, vẫn còn một số người chưa thật sự nhận biết được véc tơ truyền bệnh SXHD, chưa hiểu rõ đặc tính sinh học của chúng thì việc phòng chống SXHD sẽ bị hạn chế.

* Hiểu biết thời gian đốt của muỗi truyền bệnh SXHD

Kết quả nghiên cứu của tôi cho thấy tỷ lệ người dân biết muỗi truyền bệnh SXHD hoạt động đốt người vào ban ngày chiếm 69%; đốt vào ban đêm (18%); cả ngày lẫn đêm (26.2%). Tỷ lệ đối tượng xác định đúng về thời gian đốt của muỗi SXHDD chủ yếu là ban ngày chiếm 69%.

* Hiểu biết nơi sinh sản của muỗi truyền bệnh SXHD

 Trong công tác phòng chống SXHD, việc tuyên truyền vận động người dân hiểu biết nơi sinh sản của muỗi vằn (Aedes) để từ đó vận động người dân dẹp bỏ các dụng cụ chứa nước, cần tập trung giáo dục cho người dân biết nơi nào có nước đọng là nơi muỗi có thể đẻ trứng và phát triển theo đúng phương châm của chương trình phòng chống SXHD: không có bọ gậy không có muỗi, không có muỗi không có sốt xuất huyết. Diệt nơi sinh sản của muỗi là cực kỳ quan trọng trong công tác truyền thông phòng chống SXHD.

Tỷ lệ người dân biết nơi sinh sản của muỗi truyền bệnh SXHD trong những DCCN, lọ hoa, vật phế thải chiếm tỷ lệ khá cao (98%).

* Hiểu biết vị trí thường đậu của muỗi truyền bệnh SXHD

Kết quả nghiên cứu cho thấy vẫn còn 22.5% người dân ở cộng đồng chưa biết được nơi trú đậu của muỗi vằn. Điều này sẽ làm hạn chế việc lựa chọn, thực hiện các biện pháp kiểm soát, loại bỏ những điều kiện thuận lợi, ngăn không cho muỗi sinh sản và phát triển.

* Đánh giá chung kiến thức của người dân về SXHD

Kiến thức người dân không đồng đều, tuy có được truyền thông nhưng thông tin chưa được thấm nhuần, kiến thức chung trong phòng chống bệnh SXHD chỉ có 49.1% người dân có kiến thức tốt.

2. Thái độ về phòng chống SXHD

* Tầm quan trọng của bệnh SXHD đối với sức khỏe cộng đồng

Trong nghiên cứu này, khi đánh giá tầm quan trọng của bệnh SXHD, tỷ lệ người dân cho rằng bệnh SXHD là nguy hiểm chiếm rất cao (397/400) 99,3%. Kết quả này cho thấy khi người dân thấy được tầm quan trọng của bệnh SXHD thì việc tiến hành can thiệp để hạ thấp tỷ lệ mắc bệnh SXHD trong cộng đồng sẽ thuận lợi hơn nhiều.

* Lời khuyên ngủ màn

Tỷ lệ người dân đồng ý với lời khuyên ngủ màn đề phòng chống bệnh SXHD chiếm 88.8%.

* Đồng ý đậy kín các vật chứa nước trong nhà

Tỷ lệ người dân đồng ý với lời khuyên đậy kín các vật chứa nước trong nhà để không cho muỗi SXHD sinh sản chiếm 76,6%.

* Đồng ý thu dọn vật phế thải chứa nước xung quanh nhà

Tỷ lệ người dân đồng ý thu dọn vật phế thải chứa nước xung quanh nhà chiếm tỷ kệ 86.5%. Khoa học đã chứng minh rằng muỗi Aedes đẻ trứng, sau đó sinh ra bọ gậy (loăng quăng) ở các dụng cụ chứa nước trong gia đình như chum, vại, bể nước, lọ hoa, chậu cảnh... hoặc ở ngoài nhà như hốc cây có nước, máng nước, vỏ đồ hộp, vỏ chai... hoặc ở rãnh nước, ao hồ. Chu kỳ phát triển từ trứng đến muỗi trưởng thành khoảng 11-18 ngày, khi nhiệt độ 29-31oC. Mật độ muỗi thường tăng vào mùa mưa, do đó, muốn phòng bệnh tốt cần phải loại bỏ được những dụng cụ chứa nước nơi muỗi đẻ trứng, hoặc thả cá ăn bọ gậy..

* Sử dụng hương muỗi hoặc bình xịt muỗi

Tỷ lệ người dân đồng ý với lời khuyên nên sử dụng phương tiện xua đuổi muỗi như phun muỗi, hương, bình xịt chiếm 81.2%.

* Đánh giá chung thái độ của người dân về phòng chống SXHD

Trong nghiên cứu này, tỷ lệ người dân có thái độ đúng đắn với việc phòng chống bệnh SXH là 87.5%.

3. Thực hành phòng chống SXHD

* Hành động đầu tiên khi người nhà mắc bệnh SXHD

Hành động đầu tiên khi trong nhà có người mắc SXHD là cực kỳ quan trọng. Vì nếu thực hiện đúng sẽ hạn chế rất nhiều những nguy hiểm gây ra do chăm sóc ban đầu không đúng. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ người dân đưa bệnh nhân đến khám ở bệnh viện chiếm 55.5%, đây là một tỷ lệ khá cao, có lẽ do nhận thức sự nguy hiểm của bệnh SXH nên người dân thường tiếp cận ở cơ sở y tế tin tưởng nhất. Tỷ lệ người dân đến các dịch vụ y tế khác cũng khá cao như Trạm Y tế xã 37%, còn lại là các dịch vụ y tế khác.

* Chăm sóc tại nhà khi trẻ bị bệnh SXHD

Trong nghiên cứu này, tỷ lệ người dân thực hành đúng trong việc chăm sóc trẻ bị bệnh SXHD, đó là: Dùng thuốc hạ nhiệt (88.5%); uống nước hoa quả (77.9%), cho uống ORS (73.7%). Chỉ có 1 người không làm gì chăm sóc bệnh nhân. Các biện pháp chăm sóc còn lại chiếm tỷ lệ thấp hơn. Việc chăm sóc người bệnh SXHD tại nhà nếu được thực hiện đúng sẽ giúp mau hồi phục cũng như hạn chế những tai biến do SXHD gây ra.

* Biện pháp phòng chống muỗi truyền bệnh SXHD

1/ Ngủ nằm màn

Màn dường như hiệu nghiệm đối với muỗi đi hút máu ban đêm, trong trường hợp tác nhân truyền bệnh SXHD Aedes hút máu ban ngày, biện pháp này là không thích hợp. Tuy nhiên, biện pháp này có thể hữu hiệu đối với một số nhóm người, chẳng hạn như trẻ sơ sinh hay những người phải ngủ ban ngày.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ người dân sử dụng biện pháp nằm màn chiếm 88.5%.

2/ Biện pháp quản lý môi trường

Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ người dân sử dụng các biện pháp quản lý môi trường để phòng chống bệnh SXHD như sau: loại bỏ dụng cụ phế thải (87.5%); Vệ sinh dụng cụ chứa nước (59.3%); Đậy kín lu chum vại (36.3%); thường xuyên thay nước lọ hoa (31,8%); Khai thông cống rãnh (15.8%).

3/ Sử dụng phương tiện hóa chất để  xua đuổi muỗi

Đối với biện pháp sử dụng dụng cụ và hóa chất để diệt muỗi và lăng quăng thì có 33% đối tượng sử dụng hóa chất.

* Đánh giá chung về thực hành của người dân trong việc phòng chống bệnh SXHD

Trong đề tài này, tôi nhận thấy, tỷ lệ người dân có thực hành phòng chống bệnh SXHD đạt loại đúng chiếm 85.7%. Mặc dù kiến thức đúng về phòng chống SXHD không cao 49.1%, nhưng người dân cũng nhận thấy sự nguy hiểm của SXHD và  tạo được nề nếp sinh hoạt khoa học phòng chống bệnh SXH.

B. Những yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành của người dân về phòng chống bệnh SXHD.

1.  Liên quan giữa đặc điểm cá nhân với kiến thức phòng chống SXHD

Tuổi: nhóm tuổi từ 18-45 có kiến thức về phòng chống bệnh SXHD cao hơn nhóm tuổi 46-60.

 Học vấn: mức học vấn càng cao tỷ lệ kiến thức phòng chống bệnh SXHD càng cao.

2.  Liên quan giữa đặc điểm cá nhân với thực hành phòng chống SXHD

Trong  nghiên cứu này, đã tìm được những yếu tố liên quan đến thực hành phòng chống bệnh SXHD của người dân tại địa bàn nghiên cứu như sau: giới (nam giới có thực hành phòng chống bệnh SXHD cao hơn nữ giới), tuổi (nhóm tuổi từ 18-45 có thực hành về phòng chống bệnh SXHD cao hơn nhóm tuổi 46-60) và học vấn (mức học vấn càng cao, tỷ lệ thực hành phòng chống bệnh SXHD càng cao).

Kiến nghị

1. Tăng cường truyền thông giáo dục sức khoẻ cho nhân dân về cách phòng chống bệnh SXHD, cụ thể là cung cấp thông tin về đặc tính muỗi vằn, thời điểm dễ bị muỗi vằn đốt, vệ sinh ngoại cảnh và các vật chứa nước trong gia đình, dấu hiệu nhận biết bệnh, cách phòng tránh muỗi, bọ gậy hiệu quả. Đặc biệt, cần chú trọng tới những người có trình độ học vấn bậc tiểu học.

2. Kênh truyền thông hiệu quả: Tivi, Radio, hệ thống loa phát thanh. Chú trọng kênh truyền thông trực tiếp từ cán bộ y tế đến người dân. Nhất là đối tượng nữ giới và người dân ở lứa tuổi trung niên.

3. Hướng nghiên cứu tiếp theo: can thiệp nhằm nâng cao hơn nữa kiến thức, thái độ và thực hành của người dân về phòng chống SXHD.

Tác giả bài viết: BS. Nguyễn Thị Hải Hà
Đánh giá bài viết
Xếp hạng: 5 - 1 phiếu bầu
Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

ddkhtt1

Bản tin PBKT số 169/2018 new (1)

Market Ban tin so 169 Trang 1 copy small

Phổ biến kiến thức theo Chuyên đề new (1)

Trang 1 Chuyen de Pho bien kien thuc thang 9 2018 small