12:13 ICT Chủ nhật, 30/04/2017
Rss Feed

Đánh giá hiệu quả ức chế Acinetobacter baumannii

Đăng lúc: Thứ năm - 15/12/2016 09:46 - Người đăng bài viết: Cộng tác viên

 

Acinetobacter baumannii là một tác nhân gây bệnh cơ hội có tỷ lệ gây nhiễm khuẩn bệnh viện gia tăng trong suốt 15 năm trước. Vi khuẩn này gây ra các nhiễm trùng lan rộng, bao gồm viêm phổi, nhiễm trùng huyết, nhiễm trùng vết mổ, nhiễm trùng đường tiết niệu và viêm màng não mủ sau phẫu thuật thần kinh, đặc biệt ở các bệnh nhân giảm sức đề kháng trong các đơn vị Hồi sức Cấp cứu (ICU). Việc sử dụng kháng sinh tràn lan trong các bệnh viện đã làm bùng phát các chủng AB đa kháng thuốc với khả năng kháng phổ rộng các kháng sinh, bao gồm các β-lactam phổ rộng thế hệ mới, aminoglycoside và fluoroquinolon. Các carbapenem có khả năng tác động kháng lại các Acinetobacter spp. và cho tới gần đây, thường được sử dụng để điều trị các nhiễm khuẩn gây ra bởi AB đa kháng thuốc. Tuy nhiên, Acinetobacter spp. có thể trở nên giảm nhạy cảm và kháng với các carbapenem bằng những cơ chế khác nhau, bao gồm giảm tính thấm, biểu hiện quá mức bơm thải kháng sinh và sản xuất enzyme carbapenemase.

Đánh giá hiệu quả ức chế Acinetobacter baumannii

Kháng sinh đồ phương pháp khuếch tán cho một kết quả định tính và chỉ là một kết quả từ thí nghiệm chứ không phải là một kết quả có mối liên quan trực tiếp đến kháng sinh sử dụng trên bệnh nhân. Lý do là kết quả này không thể nói được liều và cách dùng kháng sinh trên bệnh nhân là thật sự có hiệu quả hay không. Kháng sinh đồ phương pháp tìm MIC (Minimal Inhibitory Concentration) cho một kết quả định lượng. MIC là nồng độ tối thiểu của kháng sinh ngăn chặn được vi khuẩn.

Do đó, khoa Vi sinh bệnh viện Đa khoa Thống Nhất Đồng Nai tiến hành nghiên cứu “GIÁ TRỊ MIC CARBAPENEM CỦA Acinetobacter baumanni TRONG THỰC HÀNH LÂM SÀNG TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA THỐNG NHẤT ĐỒNG NAI” nhằm mục đích “Xác định giá trị MIC của carbapenem khi kết hợp điểm gãy pK/pD và mô hình tương quan giữa MIC Meropenem và Imipenem ứng dụng trong điều trị cho bệnh nhiễm trùng do Acinetobacter baumannii”.

Chọn ngẫu nhiên các chủng Acinetobacter baumannii từ nghiên cứu trước của chúng tôi để tiến hành thử nghiệm tìm MIC Meropenem (150 chủng) và Imipenem (113 chủng) bằng phương pháp E-TEST, Biomeriux, Pháp.

Nghiên cứu cũng cho thấy, tùy nồng độ MICIMP mà các nhà lâm sàng có thể lựa chọn phác đồ điều trị cho các nhiễm khuẩn do Acinetobacter baumannii. Chẳng hạn, đối với các chủng có MICIMP trong khoảng 4 - 8 µg/ml, có thể áp dụng 5 trong 6 phác đồ điều trị có thể (500mg/q8h/3hr/IV; 500mg/q6h/30min/IV; 500mg/q6h/3hr/IV; 1000mg/q8h/3min/IV; 1000mg/q8h/3hr/IV). Ở các MIC<4 µg/ml, có thể áp dụng cả 6 phác đồ điều trị thông thường (500mg/q8h/3min/IV; 500mg/q8h/3hr/IV; 500mg/q6h/30min/IV; 500mg/q6h/3hr/IV; 1000mg/q8h/3min/IV; 1000mg/q8h/3hr/IV). Trong các ca bệnh nhiễm trùng nặng, với các trường hợp MICIMP từ 8 – 10 µg/ml, các nhà lâm sàng vẫn có thể xem xét phác đồ 1000mg/q8h/3hr/IV trong khi tìm kiếm các liệu pháp kháng sinh khác. Đối với các trường hợp có MICIMP > 32 µg/ml như trong nghiên cứu này, tất cả các phác đồ sử dụng Imipenem đều duy trì 0% T.

dg

            Đối với kháng sinh Meropenem, ở các giá trị MIC = 8 µg/ml, có thể duy trì được 40% T (thời gian nồng độ kháng sinh dưới đường cong) > MIC thông qua tới 3 phác đồ có thể có (1000mg/q8h/3hr/IV; 1000mg/q8h/3min/IV; 500mg/q6h/3min/IV). Nghiên cứu cũng cho thấy, tùy nồng độ MICMEM mà các nhà lâm sàng có thể lựa chọn phác đồ điều trị cho các nhiễm khuẩn do Acinetobacter baumannii. Chẳng hạn, đối với các chủng có MICMEM trong khoảng 4 - 6 µg/ml, có thể áp dụng có thể áp dụng cả 6 phác đồ điều trị thông thường (500mg/ q8h/ 3min/ IV; 500mg/ q8h/ 3hr/ IV; 500mg/ q6h/ 30min/ IV; 500mg/ q6h/ 3hr/ IV; 1000mg/ q8h/ 3min/ IV; 1000mg/ q8h/ 3hr/ IV). Trong các ca bệnh nhiễm trùng nặng, với các trường hợp MICMEM từ 8 – 10 µg/ml, các nhà lâm sàng vẫn có thể xem xét 2 phác đồ 1000mg/q8h/3hr/IV và 1000mg/q8h/3min/IV trong khi tìm kiếm các liệu pháp kháng sinh khác. Đối với các trường hợp có MICMEM ≥ 32 µg/ml như trong nghiên cứu này, mặc dù có phác đồ có thể duy trì khoảng 5%T, nhưng vẫn sẽ thất bại trong việc đưa %T>40. Điều này có thể cho thấy 1 hiệu quả cao hơn của Meropenem so với Imipenem, trong điều trị nhiễm khuẩn do Acinetobacter baumannii.

Trong mẫu nghiên cứu, lần lượt hơn 62% và 66% các chủng AB phân lập được có MIC của Meropenem và Imipenem >8 µg/ml. Theo CLSI 2013, giá trị này có nghĩa là vi khuẩn đã kháng hoàn toàn với Meropenem và Imipenem.

dg2

Hình 2. MIC của Meropenem và Imipenem ở AB

Trong các ca bệnh nhiễm trùng nặng do Acinetobacter baumannii với MIC của Imipenem và Meropenem tương đương 8 µg/ml, phòng xét nghiệm vi sinh lâm sàng khuyến cáo sử dụng phác đồ điều trị thông thường cho người lớn (1 ngày/3 lần, cách nhau 8 giờ/1g tiêm tĩnh mạch trong 3 tiếng = 1000mg/q8h/3hr/IV).

Các mức MIC của Imipenem và Meropenem dưới 8, có thể áp dụng 5 trong 6 phác đồ điều trị có thể (500mg/q8h/3hr/IV; 500mg/q6h/30min/IV; 500mg/q6h/3hr/IV; 1000mg/q8h/3min/IV; 1000mg/q8h/3hr/IV).

Từ giá trị MICMEM có thể dự đoán 79% giá trị của MICIMP, theo phương trình: MICIMP = 3,92 + 0,9MICMEM.

Với kết quả MIC, bác sĩ lâm sàng có thể tiên đoán hiệu quả điều trị của kháng sinh mà mình điều trị trên bệnh nhân theo khuyến cáo bằng cách so sánh nồng độ hữu dụng của kháng sinh đạt được trong dịch cơ thể bench nhân (được gọi là điểm gãy pK/pD) với MIC của kháng sinh đối với vi khuẩn. Ngoài ra, dựa vào kết quả MIC bác sĩ có thể điều chỉnh liều và cách cho kháng sinh trên bệnh nhân nhằm đưa điểm gãy pK/pD của kháng sinh lên bằng hay cao hơn MIC của kháng sinh đối với vi khuẩn để đạt được hiệu quả điều trị .

Tác giả bài viết: Nguyễn Thị Minh Trâm
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

 

ddkhtt1

Bản tin PBKT số 153/2017 new (1)

Market Ban tin so 153 da sua 1 small

Phổ biến kiến thức theo Chuyên đề new (1)

Chuyen de Pho bien kien thuc thang 3 small